Cội nguồn họ Phạm

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Phạm Đình Trạc (Bạt Khang) - người gương tiết liệt

PHẠM BẠT KHANH - NGỜI GƯƠNG TIẾT LIỆT
HOÀNG THỊ MAI HƯƠNG
Hà Nội
Nói đến gương Trung quân tuẫn quốc, người ta phần nhiều khâm phục Nguyễn Tri Phương (2873) và Hoàng Diệu (1883) tuẫn tiết cùng thành Hà Nội mà ít biết rằng, trước đó tới bốn, năm chục năm (1883) còn có Phạm Đình Trạc, Phạm Đăng Lưu(1) và Bùi Tăng Huy(2) cùng một lúc hy sinh hết sức lẫm liệt theo thành Cao Bằng. Tấm gương của ba liệt sĩ Nam Trung Bắc này đã được chép vào phần Trung nghĩa liệt truyện - Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập. Song ở mức độ rất sơ lược.
Riêng về Phạm Đình Trạc, qua việc nghiên cứu hai tư liệu bằng chữ Hán trong thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Cao Bằng ký lược, kí hiệu A.999 và Cao Bằng thành hãm sự ký, kí hiệu A.1379, chúng tôi đã cố gắng khắc họa về cuộc đời, sự nghiệp và những giây phút cuối cùng oanh liệt của ông.
Phạm Đình Trạc tự Bạt Khanh sinh năm 1794, hiệu Thuần Tiết, thụy Đoan Trực, người huyện Liêu Xuyên, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Ông là hậu duệ của Phạm Công Thư, Thái tể đời Lê. Năm Tân Tỵ niên hiệu Minh Mệnh 2 (1821), ông đỗ Hương tiến (Cử nhân); khoa thi Hội Ân khoa năm Nhâm Ngọ hiệu Minh Mệnh 3 (1822) ông trúng tam trường. Sau đó Bạt Khanh được bổ làm Lễ bộ Hành tẩu, rồi làm Tri huyện ở Hà Đông, sau lại thăng làm Lễ bộ Viên ngoại lang, thăng làm Lại bộ Lang trung.
Tháng 12 năm Minh Mệnh 13 (1832) ông được điều lên làm Án sát xứ Cao Bằng. Tháng 8 năm sau (1833) năm Quý Tỵ, Tri châu Nùng Văn Vân nổi dậy làm phỉ chống lại triều đình ở Tuyên Quang, chiếm Bảo Lạc sau lan sang Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn làm chấn động khắp ba mặt tỉnh Cao Bằng, đồng đảng của hắn là Nguyễn Hữu Đàn, Nguyễn Tá Cẩn đến tiếp ứng, uy hiếp tỉnh thành Cao Bằng, thế giặc rất mạnh. Trong tỉnh tuy có thổ dân Cao Lạc hợp lại chống nhưng không nổi.
Tháng đó Hoàng Văn Quyền, Tuần phủ Lạng - Bằng sai Lãnh binh Phạm Văn Lưu dẫn quân đến tiếp ứng. Được tin, Bạt Khanh cùng Bố chánh Bùi Tăng Huy xuất quân phối hợp. Song quân ít không địch nổi phải lùi vào thành dùng mưu chống đỡ để đợi viện binh. Ngày 2 tháng 9, giặc kéo đến vây bức. Bạt Khanh chọn hơn 30 nghĩa dũng cố sức chiến đấu. Giữ thành được hơn một tháng, lương hết, quan quân đều nhiễm bệnh, lính đào tẩu quá nửa. Ngày 3 tháng 10, giặc Vân tề tập xung quanh, tấn công vào bốn mặt thành lũy, bắn liên tục làm cây cối quanh thành đổ rụng hết, tình thế thật nguy cấp. Nửa đêm nghe thấy tiếng voi gầm, trong đồn lấy làm kinh hãi, sáng ra thấy Tuần phủ Lạng - Bằng Hoàng Văn Quyền bị giặc bắt vào cũi chở trên lưng voi để uy hiếp dụ hàng quân trong thành. Trong đồn nhiễu loạn, Bạt Khanh thấy tình hình không thể cứu vãn được nữa, bèn bàn với Bùi Bố Chánh: “Tháng trước nghe tin có Tổng binh sẽ đến tấn công giải vây Lạng Sơn, song viện binh vẫn chưa tới, biết làm sao được, nay chờ đến lúc có thư thì tính mệnh quân ta ở đây cũng chẳng còn”. Ông tính sẽ chết theo thành, sai quân mai táng ở đầu đất phía đông. Ông chỉ đầm sâu mà nói: “Đây là huyệt tốt của vợ con ta”. Trước tiên Bạt Khanh bày hương án, áo mũ chỉnh tề, vọng bái vua và cha mẹ, sau giết vợ con mình để khỏi sa vào tay giặc. Các thuộc hạ, nô bộc xin chết theo. Ông đau đớn làm bài phú cuối cùng. Tạm dịch như sau:
“Đông Tân Tỵ làm quan
Ra đi đông Quý Tỵ
Ôi đến cái chết này
Thờ vua mới một kỷ(3).
Những mong tôi thờ vua
Tận trung mà không thể.
Nguyện phụng dưỡng song thân
Thọ lâu, mới một hỷ(4).
Đã lìa vạn dặm xa.
Vợ gầy con thơ bé
Ba mươi ba ngày trời
Sức thần đã kiệt quệ
Không giữ nổi đất vua.
Chết đền ơn trời bể.
Nơi cung đình cao xa
Có thấu tình chăng nhẽ?
Xin cầu cho song thân
Phúc thọ cùng sức khỏe
Con có được thân này
Ơn cha sinh mẹ đẻ.
Bấm đốt ba chín năm
Hợp ít, ly nhiều thế
Mới hiểu dưỡng một ngày
Ra đi, tội sao kể
Đội ơn thiên tử ban:
Trật hàm đến tứ phẩm
Quan chức thật cao sang
Phúc lớn chẳng dám nghĩ.
Không giữu được đất vua
Không bỏ mình vì nước
Rồi đây mặt mũi nào
Nhìn thiên hạ sĩ tử.
Nay thờ vua vẹn đạo
Bằng chính cái chết này
Vợ yếu con thơ xin chịu tội.
Chiếu nguyện vọng;
Con tuy có ngày chết
Nhưng vẫn còn năm sinh.
Đau đớn khôn cùng
Bút không kể tận
Chỉ xin muôn vàn bảo trọng
Nước mắt máu nhòa con xin vái lạy.
Sau đó Bạt Khanh tự sát. Theo ông, Lãnh binh Phạm Văn Lưu, Bố chánh Bùi Tăng Huy cũng quyên thân.
Ngày 5 tháng 10 vua Minh Mệnh được tin rất đau xót thương tiếc cho phục lại chức; ban cấp cho mỗi nhà 100 lạng bạc, thu di hài vào quan quách, đem về nguyên quán chôn cất. Ra lệnh cho quan tỉnh chọn chỗ đất cao ráo ở làng Gia Cung, huyện Thạch An, đông nam thành Bao Bằng lập miếu đường ở đất ấy, gọi là Trung từ và tặng cho ba người tuẫn tiết ở thành Cao Bằng. Xin giới thiệu một trong ba bài thơ “Ngự vịnh tặng phong Cao Bằng tỉnh Tam trung tuẫn tiết tam thủ” của vua Minh Mệnh (Trích trong tập “Tạp sáo tân biên”).
Vì nước có người lưu đại nghĩa
Lập đền riêng Đế xót cô trung
Ba sinh danh chẳng đề năm tháng
Một chết theo về với núi sông.
Cuồn cuộn giữa dòng cùng nước chày
Hiu hiu muôn thuở gió mênh mông
Vân Trường(6) hiển miếu là hàng xóm
Trung hiếu xưa nay Nam Bắc cùng.
Đồng thời có rất nhiều sĩ phu cả nước thương tiếc cảm phục Phạm Đình Trạc, lần lượt gửi đối văn đến viếng như:
1- Lại bộ Lang trung Nguyễn Tuần Phủ.
2- Nguyên Lễ bộ Lang trung Bính Tuất Tiến sỹ Ngô Hy Nhan.
3- Hoàng Tế Mỹ, Lưu Tân, Nguyễn Bảo, Dương Phái, Lưu Huy, Hoàng Văn Đĩnh, Vũ Tài, Lưu Trường, Vũ Bào cộng vãn.
4- Tiến sĩ Lê Văn Trung.
5- Hoàng Giáp Phạm Đôn Nhân
6- Tuần phủ Quảng Yên Vũ Hồng.
7- Đốc học Quảng Yên Đặng Văn Toàn.
8- Tiến sĩ Bùi Ngọc Quý.
9- Huấn đạo Nguyễn Khắc Thận.
10- Văn hội bản tổng.
11- Hội Tư văn bản tổng.
12- Đồng Khế: Tiến sĩ Vũ Tông Phan, Lê Văn Trung, Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, Cử nhân Dương Bá Cung, Nguyễn Đình Đao, Đào Bình Bảo cộng vãn.
13- Hà Tôn Quyền có 5 bài thơ khóc.
14- Nguyễn Văn Lý có thơ khóc.
15- Phạm Đôn Nhân có thơ điếu.
Xin chọn một vài bài thơ bài văn khóc Phạm Đình Trạc mà qua đó ta hiểu thêm được về Phạm Bạt Khanh những giây phút oanh liệt cuối cùng của ông.
Bài 1: (Nằm trong năm bài thơ khóc Phạm Bạt Khanh của Hà Tôn Quyền).
Lẫm liệt chết như sống.
Anh hùng thay Bạt Khanh
Thư sinh sao trang liệt
Nhà vua chưa biết danh
Đánh giữ không có chỗ
Sống chết quyết cùng thành
Thương thay nghe tin muộn
Sự việc mới rõ rành.
Bài của Tiến sĩ Vũ Tông Phan - Tiến sĩ Lê Văn Trung – Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, Cử nhân Dương Bá Cung, Nguyễn Đình Dao, Đào Đình Bảo cùng viếng. Tạm dịch như sau:
“Than ôi! Chết vốn đã khó vậy. Nhưng đối với những người như ông đâu phải coi cái chết là đủ. Sinh thời ông mang trong mình cái thông minh của trời đất, gánh học vấn của thánh hiền. Vốn muốn có được công trạng nổi bật với thiên hạ cùng chịu ân tứ để xứng với việc gặp được thời sáng. Chẳng may gặp nguy nan mà chết. Lấy trung nghĩa để cảm kích lòng người, cùng sống chết một phương, lấy việc triều đình giao cho trọng trách làm sở nguyện của mình. Người đã tính đến cái chết ở trong lòng ngay từ buổi đầu, lẽ nào không giữ kín mãi?
Mùa thu năm ngoái, giặc nổi lên ở Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng. Triều đình đã cử đại binh chia nhau ra cứu mà Cao Bằng vẫn trơ trọi không thông. Bọn tôi đều cho rằng: nếu không được viện binh, thì tất sẽ nguy.
Đầu mùa đong, nghe đồn rằng ông đã tự tận nhưng tin chưa rõ ràng. Tháng chạp, thi hài ông được chuyển về sông Nhĩ thủy, bọn tôi lần lượt đến viếng thăm. Thì ra đầu tiên tháng tám, giặc đến quấy nhiễu, ta địch không nổi, ông cùng Bố chánh, Lãnh binh và các quan viên ở tỉnh lui về thành Thương Sơn thủ chiến.
Sau một tháng thành vẫn vững. Rồi Tuần phủ Cao Bằng đến tiếp viện bị giặc bắt làm tù binh, đem ra để uy hiếp mọi người. Đạn đã hết, quân lính hoảng loạn, ông biết tình thế: nếu không được chi viện sẽ chết, bèn bàn với Bố chánh, ăn mặc triều phục đầy đủ, hướng về phía Bắc vái 5 lạy, hướng về văn miếu vái vọng cha mẹ. Sau đó đót bản đồ, soạn một bài thơ nói lên ý chí của mình, gởi thư về cho cha mẹ, không nói riêng gì về mình rồi giục gia quân đào huyệt định đêm sẽ chết ở đó. Sau sợ bọn giặc không biết mình đã chết sẽ làm hại đàn bà trẻ con trong thành, sớm hôm sau, ông mặc triều phục như thường, đứng ở chỗ sẽ chôn mình, trước tiên giết vợ con để khỏi sa vào tay giặc, gia nhân khóc lóc van xin, ông mỉm cười nói: “Thanh ôi anh hùng thất thế, vợ con nặng tình” rồi nằm xuống huyệt. Gia nhân không nỡ lấp đi, ông giục giã lấy tay áo che mặt và ra lệnh lấp đất. Giặc trèo lên bốn mặt núi nghe ngóng. Mặt đất tạm bằng. Bố chánh hỏi: Án sát đâu rồi? Quân lính thưa: đã chết! Bố chánh bèn rút kiếm tự vẫn. Lãnh binh tỉnh Lạng Sơn cũng làm theo. Giặc thắt chặt vòng vây, thành vỡ. Lúc giặc chưa nổi lên, ông đã đoán rằng, sang xuân khoảng tháng 5, tháng 6 sẽ xảy ra sự việc này và dặn dò các quan dưới quyền cùng các bạn ở tỉnh bên rằng: “Giặc dù chưa động, chẳng thể coi thường được. Cuối cùng không cản chúng, vạn nhất thành bị cô lập, đầu tiên tôi sẽ giết vợ con, sau sẽ tự sát để báo đền ơn nước”. Quả nhiên đã như vậy. Trong thơ có nói “Ba mươi ba này, sức thần đã kiệt” chứ đâu phải lo sợ mà co lại, đành chết với thành. Tháng 7 viện binh của giặc rút lui. Một tháng sau giặc suy và đại binh đến. Lại một tháng nữa triều đình mới biết đầu đuôi và ân dụ rằng: “Sự việc là do thành cô mà nguy vậy”; lại nói “Ung dung mà chết vì đại nghĩa chứ không phải làm tắc trách suông đâu”.
Than ôi! Ông bất hậnh mà phải chết như vậy. Từ xưa nay có mấy người như ông, đã thế lại bị mai một bởi những lời đàm tiếu của bọn tiểu nhân. Người có chí đời sau chép nhặt đôi điều mà làm tiểu truyện cũng như việc dụng tâm của ông Âu Dương xưa vậy. Đáng khen thay! Nay nếu sống thì có thể được triều đình khen thưởng, khích lệ và được giới sĩ phu cảm kích. Cái chết ấy có thể báo hiệu cho nhân tâm thế đạo.
Ông từ năm Tân Tỵ đã đỗ cử nhân, được 6 năm triều đình bổ làm Tri huyện, 6 năm sau mới được làm Niết ty Cao Bằng và được nửa năm thì gặp nạn. Ông giao thiệp với bạn bè càng lâu càng được kính trọng, nhẹ nhàng thanh đạm mà ý nhị sâu sắc, luôn luôn mỉm cười ôn hòa, bề ngoài dường như không tỏ thái độ gì mà bên trong kiên quyết không thể đổi thay. Vì vậy bọn tôi vô cùng quyến luyến và không thể nào quên được”.
Chao ôi! Cái tiết của kẻ sĩ là: Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng(7), là tùng bách sừng sững hiên ngang, lạc ngọc mài chăng khuyết nhuộm chăng đen (Nguyễn Trãi, Thuật hứng XXIV), là băng tuyết trắng tinh, là sen ngào ngạt gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn (Ca dao Việt Nam)… biết ngợi ca bao nhiêu lời cho đủ. Sự hi sinh lẫm liệt của Phạm Bạt Khanh cùng hai đồng sự của ông vì thành, vì nước càng tôn vinh thêm khí tiết của các nhà nho Việt Nam.
Chú thích:
(1) Phạm Đăng Lưu: Người làng Tân Bình, Gia Định. Đầu tiên nhập ngũ, lập công trạng được thăng tới Lãnh binh tỉnh Lạng Sơn.
(2) Bùi Tăng Huy tự Ngọ Uẩn quê ở đạo Ninh Thuận (Phan Rang) đỗ Cử nhân năm Gia Long 18 được cử ra bắc làm Bố chánh sứ Cao Bằng.
(3) Mười hai năm.
(4) Mới mừng thọ cha (mẹ) bát thọ một lần.
(5) Bành là người đời Đường Nghiêu, tương truyền sống đến 800 tuổi. thường là chỉ người chưa thành niên đã chết. Ở đây nói tuổi thọ ngắn dài khác nhau.
(6) Tức Quan Vũ, một trong những tướng tài, kết nghĩa với Lưu Bị, gây dựng nhà Thục Hán? 219 Quan Vũ nổi tiếng về lòng trung nghĩa và khí tiết cứng cỏi.
(7) Thơ Thép Mới “Cây tre Việt Nam”.
Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.185-193
Nguồn tin: Viện Hán Nôm

Về gia đình Hoàng thái hậu Phạm Thị Ngọc Hậu qua gia phả họ Lê Viết

MỘT DÒNG HỌ HIỂN ĐẠT Ở NAM GIANG
QUA DI SẢN HÁN NÔM
ĐINH CÔNG VĨ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Nam Giang là một xã nằm gần sông Chu, cũng như bao làng quê khác ở Việt Nam, trong lòng nó chứa đựng nhiều di sản quý báu của văn hóa truyền thống. Nào đình Long Biên thờ Cao Sơn đại vương có cột mây người ôm không xuể, có nhưng nhà 5 gian bằng gỗ lim đầy đủ tay chân kết cấu hình chữ môn để lại từ niên hiệu Thành Thái. Nào nhà thờ “Tướng” của dòng họ Lê Viết này từng nổi tiếng khắp vùng. Năm 1939 dòng họ này sửa nhà thờ bắt được cuốn gia phả đồng. Tiếc rằng đến nay ngôi nhà thờ chỉ còn móng gạch, gia phả cũng không còn. Điều chúng tôi muốn nói tới trong bài viết này là dòng họ Lê Viết, một dòng họ có nhiều người hiển đạt, có quan hệ mật thiết với hoàng tộc Hậu Lê, mà rõ nhất là với bà Đoan Thuần Hoàng thái hậu Phạm Thị Ngọc Hậu vợ vua Lê Thần Tông. Trong những tài liệu của họ Lê Viết có quyển Lê kỷ tục biên do anh Lê Viết Tiệp tìm được trong nhà một vị trưởng họ Lê Viết ở xã Quảng Phúc huyện Quảng Xương. Đây là cuốn sử ghi chép công phu về nhà Hậu Lê, đặc biệt là giai đoạn Lê trung hưng, trong đó có những ghi chép cụ thể về mẹ con bà Ngọc Hạu mà điện thờ, lăng mộ của các vị rất gần với thôn Phúc Như, hầu hết nằm ở xã Nam Giang. Các người trong họ Phạm, họ Lê Viết từ xưa đã đến thăm viếng thường xuyên.
Trong Lê kỷ tục biên có đoạn văn nói về Huyền Tông Mục Hoàng đế Lê Duy Vũ do bà Ngọc Hậu sinh ra, thọ 18 tuổi, táng ở lăng Quả Thịnh thuộc xã Quả Nhuệ, huyện Lôi Dương. “Xưa cha mẹ bà Ngọc Hậu sinh được bà và người chị rất có tư sắc, gia đình neo túng”. Thầy địa lý đặt mộ cha hai bà, có lời đoán: “Nhất giá công hầu, nhất giá vương” (nghĩa là: Một người lấy công hầu, một người lấy vua). Sau quả nhiên thế (hậu quả nhiên). “Hoàng thái hậu bi” ở xã Thanh Nga, Cảo Thịnh lăng bi ký ở lang Cảnh Trị và những truyền thuyết ở vùng Kim Bảng này đều ăn khớp với đoạn văn trên, hơn nữa còn làm rõ ràng cụ thể hơn. Tất cả gộp lại cho ta biết đủ các sự kiện sau mà đến nay nhiều người trong họ Lê Viết đều biết rõ: “Ông Phạm Đình Kiên ở phủ Thiệu Thiên lên sống ở làng Quả Nhuệ huyện Lôi Dương, tức là làng Kim Bảng (bản đồ Thanh Hóa chỉ viết là làng “Kim” xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân ngày nay. Ông Kiên lấy bà Chu Thị Loan người xã Thanh Nga, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên sinh ra hai con gái là Ngọc Hiền, Ngọc Hậu. Ông Kiên mất, ba mẹ con nhờ đặt được mả ông vào phúc địa nên đúng như lời tiên tri: Bà chị là Ngọc Hiền lấy được công hầu là ông Tiến sĩ họ Lê người thôn Trường Sơn, xã Quan Trung, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, làm quan tới chức “Đặc tiến kim tử Vinh lộc Đại phu Tá lý công thần Hình bộ Thượng thư, tước “Phương Quế hầu”, còn bà em thì năm 19 tuổi duyên trời run rủi ra kinh đô gặp dịp Lê Thần Tông mộng thấy người đẹp có tiền duyên, sai quan đi tìm, gặp được bà giống hệt người trong mộng, liền lấy làm vợ, sinh ra Huyền Tông Mục Hoàng Đế nên được tôn phong làm Hoàng thái hậu. Sử sách cũng như “Ngọc phả” nhà Lê cho biết: “Vua Huyền Tông băng táng ở Lôi Dương, xây Lạc Thịnh lăng và Triều long điện để phụng sự. Lạc Thịnh lăng còn gọi là Quả Thạnh lăng”, cũng có thể gọi là “Cảnh Trị lăng” theo niên hiệu của Huyền Tông. Còn “Triều Long điện” tức “Càn Long điện” theo nghĩa đen chỉ điện của nhà vua. Chúng tôi bèn tìm đến với “Cảnh Trị lăng” ở chùa Cô đất Phong Lạc thuộc thôn Hồng Lạc xã Nam Giang ngày nay. Mộ vua cha (Thần Tông) và mẫu hậu vua Huyền Tông cũng gần gũi quanh đấy. Đáng tiếc, mộ của mẹ vua thì từ nưm 1993 dân đào gạch đã phá tung.
Ngôi mộ Hoàng thái hậu trong quan ngoài quách luyện bằng vỏ sò dập nhỏ với mật và vôi nhào đã bị đập nát đổ làm đường đi, từ đó đến nay vẫn chưa phục hồi xứng đáng. Còn “Cảnh Trị lăng” của vua đã bị san bằng để lập trại giống của tỉnh Thanh Hóa. Rời lăng “Cảnh Trị” đi 1,5km nữa, chúng tôi đến với “Càn Long điện” ở thôn Kim Bảng xã Nam Giang. Các bậc già lão ở đây kể lại: Điện Càn Long xưa bề thế, tôn nghiêm, chủ yếu thờ vua Huyền Tông những cũng thờ vọng cả cha mẹ vua, phối thờ thêm các tiền nhân bên họ mẹ vua, bài trí hết sức rực rỡ, sinh động. Nhà nước phong kiến ở thời kỳ không lấy gì làm thịnh trị như thời Lê Hiển Tông là thời nhà vua chỉ biết rủ áo mặc cho chúa Trịnh (nhất là Trịnh Sâm) độc đoán muốn làm gì thì làm. Vậy mà các sắc phong vào những năm Cảnh Hưng 22 và 32 (1761-1771) cũng biết đặc biệt ân thưởng cho Phạm Trừng (một trong những hậu duệ) của ông Hình bộ Thượng thư họ Lê và bà Hiền) tước Quả Xuân hầu vì đã có công chủ trì việc xây dựng điện Càn Long, kế thừa việc thừa tự bên ngoại nhà vua. Vậy mà ngày nay, mênh mông ruộng khoai, ruộng lúa với nhà dân, khu điện biết tìm đâu? Lần mãi, chúng tôi mới tìm thấy vài hiện vật trong cảnh dâu bể phong sương. Đây là đôi chó đá nằm trầm mặc dưới gốc táo cổ thụ sát sân nhà dân. Nhà Hậu Lê có truyền thống hay tạc tượng chó đá ở điện miếu vua chúa. Các cụ cho biết: chó này trước đây vốn nằm ở cổng điện cũ, dân mặc sức dồn về đây. Gần chó còn có 4 hòn đá tảng kê chân cột trên tròn dưới vuông. Đây hẳn là chân đá tảng tại nền móng cũ của điện còn lại sau những đổ nát. Tim trong các nhà dân ở Kim Bảng còn nhiều hòn đá tương tự, dân đã tự do khuân về dùng. Có may mắn lắm thì chỉ còn lại một tấm bia đáng giá nhất khắc bốn mặt chữ Hán cao 1,65m, rộng 0,71m lập năm Chính Hòa 7 (1686). Bia ăn khớp và tiếp tục những thông tin ở bài văn trong bản khắc gỗ đặt trên bàn thờ tổ họ Phạm Lê ở Kim Bảng là: Vì thân sinh bà Hoàng thái hậu thiếu người thờ tự nên bà Thái hậu bàn với bà Hiền (chị mình) việc cho con trai thứ bà Hiền về Kim Bảng thờ tự họ ngoại, đổi họ sinh ra chi họ Phạm Lê ở đây. Tiếp tục việc đó, bia chia làm 4 phần: 1 “Phụng sự bi ký” (bia ghi việc thờ cúng); 2. “Công đức trường lưu” (Công đức lưu lại lâu dài); 3. "Đệ niên tuần nhật” (ngày tuần tiết trong năm); 4. Tế tự thường nghi (nghi thức thông thường để tế tự). Bốn phần chủ yếu nói về tôn phong và thờ cúng mẹ con vua Huyền Tông và tiền nhân bên họ ngoại vua gồm: Hiển khảo (bố Hoàng thái hậu) người được gia phong làm Thái bảo Vị quận công; Hiển tỷ (mẹ Hoàng Thái hậu) được gia phong làm Thái bảo Vị quận công; Hiển tổ khảo (ông nội Hoàng thái hậu) tên huý là Đình Tiến gia phong Thiếu bảo Hà quận công; Hiển tổ tỷ (bà nội Hoàng thái hậu) họ Lê tên huý là Ý gia phong Thiếu bảo Hà quận công Quận phu nhân, tiển tằng tổ khảo (cụ Hoàng thái hậu) tên huý là Đình Biểu gia phong Đô đốc đồng tri Hải triều hầu, Hiển tằng tổ tỷ (cụ bà) họ Lê tên huý là Tín gia phong Đô đốc đồng tri Hải triều hầu Chính phu nhân. Chứng tỏ ân huệ của nhà Lê với họ ngoại nhà vua ở đất Kim Bảng rất sâu, công lao đóng góp của họ Lê ở Đông Thành Diễn Chaâ (Nghệ An) với họ Phạm ở Kim Bảng rất lớn. Họ tên có hai tiếng kép “Phạm Lê” là thể hiện sự gắn bó giữa hai dòng máu Phạm Lê ở Kim Bảng với Lê Diễn Châu. Các họ này có quan hệ với Hoàng tộc Lê ở Thái miếu qua bà Ngọc Hậu được thờ ở đấy và gần gũi với họ Lê Viết khi họ này cũng hướng về đấy lấy sử sách, gia phả đồng làm tin.
Rõ ràng trong triều hướng chung: Trở về cội nguồn của cả dân tộc, các dòng họ, trong đó có dòng họ Lê Viết, ở Nam Giang đã có những đóng góp nhất định, được sử sách nhắc đến. Đó là điều đáng tự hào của dòng họ.
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.470-474)
Nguồn tin: Viện Hán Nôm

Bia miếu Mậu Hòa làng Tu Hoàng (Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội)

BÚT TÍCH CỦA CỬ NHÂN LÀNG TU HOÀNG
ĐỖ BÍCH TUYỂN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Ông Cử làng Tu Hoàng, đó là danh hiệu cao quý mà dân làng Mậu Hòa huyện Hoài Đức thường nói về ông. Ông tên thật là Đàm Xuân Hướng, người làng Tu Hoàng huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây.
Sách Quốc triều Hương khoa lục chép, Đàm Xuân Hướng năm 37 tuổi thi đỗ Cử nhân khoa thi năm Kỷ Dậu (1909) niên hiệu Duy Tân tại trường Hà Nam. Tư liệu này cho phéo chúng ta đoán định ông sinh vào năm Quý Dậu (1873) niên hiệu Tự Đức triều Nguyễn. Thế hệ ông có thể coi là lớp nhà Nho cuói cùng của chế độ khoa cử phong kiến Việt Nam.
Thời bấy giờ nhiều người thi đỗ khoa trường, song chán ngán thế cuộc đảo điên nên thường lui về quê mở trường dạy học, như Cử nhân Hoàng Thúc Hội người làng Hạ Yên Quyết huyện Từ Liêm Hà Nội; Cử nhân Nguyễn Tất Tái, người làng Hành Thiện huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định; Cử nhân Đàm Xuân Hướng cũng là một trong những người như vậy.
Sinh thời ông là bậc hàn Nho. Sau ba chục năm chuyên cần đọc sách, lận đận lều chõng đi thi ông mới đỗ Cử nhân. Hoạn lộ thênh thang song cũng rất khắt khe với kẻ sĩ. Suốt cuộc đời ông chẳng giữ một trọng trách nào, ông chỉ được nhận một chức tản quan ở Hàn lâm viện - một viên kiểm tịch. Hoạn lộ như vậy chẳng thể coi là hanh thông, mà cái hanh thông lớn nhất đối với ông là sự tin yêu quí trọng của người dân bình dị ở làng quê, của những người đã đặt niềm tin trọn vẹn ở ông khi mời ông về dạy dỗ cho con em mình.
Sinh ra và lớn lên ở làng Tu Hoàng nhưng làng Mậu Hòa ở gần đó lại là đất để ông “dụng võ”. Theo tập tục xưa, những người thầy giỏi có tiếng tăm trong thiên hạ thường được dân làng mời về dạy dỗ cho con em. Với người dân Mậu Hòa, ông Cử Đàm Xuân Hướng là một trường hợp như vậy. Ngày nay, đến thăm Mậu Hòa, chúng ta vẫn được dân làng kể lại nhiều câu chuyện cảm động về ông giáo trường làng thuở ấy, họ gọi ông với cái tên vừa kính trọng vừa gần gũi: Ông Cử làng Tu Hoàng. Ấn tượng về một ông thầy trường làng miệt mài chăm chỉ, tận tâm tận lực giúp dân còn in đậm nét trong kí ức của người dân địa phương.
Làng Mậu Hòa còn gọi là Mậu trang, nằm bên tả sông Hát, bên kia là đỉnh núi Sài Sơn, sơn xanh thuỷ tú, phong cảnh thật hữu tình. Ấp thôn trù phú, dân làng chung sống có qui cổ lễ nghĩa, đặc biệt là tình cảm nồng hậu đối với con người, do vậy có không ít người dân quanh vùng đã đến sinh cư lập nghiệp ở đây. Như cụ Cử họ Vũ ở Hải Hậu, Nam Định…
Đền đáp lại thịnh thình ấy của dân làng Mậu Hòa, Cử nhân Đàm Xuân Hướng đã tự coi mình là người dân trong làng, nên mọi công việc của làng ông đều tích cực tham gia. Những đóng góp về mặt trí tuệ của ông không chỉ dừng ở những bài giảng ở trường làng, mà còn là những hàng câu đối ở nhà thờ họ Phí, họ Đỗ, họ Hoàng, là những văn bia ở quán Mậu, tháp chùa v.v…
Hiện any trong các di tích ở làng Mậu Hòa như quán mậu và một số nhà thờ họ lớn còn lưu lại khá nhiều bút tích của ông. Quán Mậu là đền thờ tướng quân họ Phạm, công thần triều Đinh. Trong quán hiện còn lưu giữ một tấm bia đá do ông viết vào năm Bảo Đaịi 5 (1930). Nội dung ghi việc xây dựng lại quán Mậu theo ý của tiền nhân. Tất cả những việc ghi trong văn bia đều là sự thực. Sự thực hiển nhiên được ghi lại rất sống động, giúp cho người dân Mậu Hòa có đủ tư liệu để xem lại chính mình, xem lại các tập tục truyền thống của tiền nhân. Thiết nghĩ đây cũng là tư liệu đáng quý, có thể giúp thêm cứ liệu cần thiết để tìm hiểu xã hội nông thôn Việt Nam thời xưa. Do vậy chúng tôi xin giới thiệu toàn văn.
BIA MIẾU MẬU HOÀ
Nước Nam ta đền miếu khắp thôn ấp, nhưng sự linh thiêng phần nhiều tìm thấy ở nơi sơn thanh thuỷ tú. Ấp ta xưa là ấp Mậu trang. Vào triều Đinh, Phạm đại vương đi du lãm, mến đất này bèn cho lập từ đường ở đó theo thế Càn sơn Tốn hướng. Ngọc tỉnh là nội minh đường, Hát giang là ngoại minh đường. Sau có sao Bắc đẩu dẫn mạch; Trước có Sài Sơn làm án. Đó chẳng phải là sơn thuỷ nghênh đón đình hay sao? Hương hỏa nhân duyên rất là linh ứng. Thần khí của ngài ở khắp trong thiên hạ, nhưng trong kí ức của người dân vẫn phảng phất thủa bình sinh ngài xa giá đến đây, lên xuống hai bên tả hữu, linh quang rực rỡ độ trì, dân thôn được ban phúc lớn. Giữa chừng lại sửa đổi hướng đình, nên rất sai với ý thờ phụng ban đầu.
Năm Khải Định thứ 10 (1925), các bậc kỳ lão huynh trưởng trong ấp cùng hội họp, chiếu theo hướng ghi trong bản ngọc phả cũ, bàn bạc với dân trong ấp, tất cả đều nhất trí: Cần phải quyên góp tiền của, mời thợ và mời quan huyện cũ là Vũ đại nhân (người xã Quần Phương, Hải Hậu, Nam Định) đứng ra đặt la bàn xin với thần linh. Trải qua vài tháng mà miếu mạo lại được như xưa, thuỷ quang sơn sắc như cũ. Tuy rằng trải qua mấy độ vật đổi sao dời mà thu này lại thấy cảnh gò xưa. Ngày làm xong, thắp hương kính chúc ngài: Đại vương ta linh thiêng dường như cũng được an ủi, trên dưới ngàn năm, người còn lưu truyền, đất còn lưu truyền và sự việc này còn lưu truyền mãi mãi.
Nếu như vượng khí chung đúc, xóm làng khởi sắc hẳn sẽ không nhận ra quang cảnh xưa thế nào, bèn mượn bút ghi vào bia đá để ghi nhớ.
Ngày mồng 4 tháng 5 năm Bảo Đại 5 (1930) lập bia.
Thế Càn sơn Tốn hướng như ghi trong phả; Vũ đại nhân xin với thần linh, mượn lời thủ từ chỉ rõ phải lây phương Tý Ngọ làm chính mới hợp với tiền án Sài Sơn.
Cử nhân Đàm Xuân Hướng, người làng Tu Hoàng thuộc bản huyện, giữ chức Kiểm tịch ở Viện Hàn lâm, kính soạn.
Sau đó hai năm, năm Bảo Đại Nhâm Thân (1932), họ Phí làng Mậu Hòa tổ chức xây dựng nhà thờ họ để thờ phụng cụ tổ Phí Đăng Nhậm - Tiến sĩ triều Lê, ông có bài văn bia Mậu Hòa Phí tộc cung kỷ phả ký soạn năm Bảo Đại 8 (1933) và tặng một câu đối:
Vọng ấp phỏng văn khoa, Phí công hậu, Nguyễn công tiền tương huy Phật lục;
Danh khu chung vượng khí, Mậu chi sâm, Liễu chi trường, đồng diện đức căn.
(Hoàng triều Bảo Đại Nhâm Thân, Hàn lâm Kiểm tịch Đàm Xuân Hướng phụng soạn).
Tạm dịch là:
Tìm hiểu bản văn khoa ở vọng ấp, thời sau ông Phí, thời trước ông Nguyễn cùng rạng danh trong đăng khoa lục;
Chung đúc vượng khí tại xóm làng lừng danh, cành Mậu tốt, cành Liễu dài đều làm cho cội đức thêm bền vững.
(Năm Nhâm Thân (1932) triều Bảo Đại, Kiểm tịch Viện hàn lâm Đàm Xuân Hướng phụng soạn).
Tuy là câu đối viết cho họ Phí làng Mậu Hòa, song Đàm Xuân Hướng đã đề cập đến cả một vùng đất văn hiến Mậu Hòa và Dương Liễu. Ở Mậu Hòa có Phí Đăng Nhậm đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ triều Lê, làm quan đến Đô cấp sự trung Công khoa. Ở Dương Liễu có Nguyễn Danh Dự thi đỗ Hội nguyên Tiến sĩ năm 1685. Phải nói ông hiểu biết rất tường tận về quê hương Mậu Hòa, về mảnh đất linh thiêng và con người tài giỏi ở đây.
Thăm lại từ đường họ Đỗ, một vọng tộc lớn trong làng chúng tôi gặp được di bút của ông trên tấm bia Đại Đỗ tộc bi soạn năm Bảo Đại 9 (1934) và đôi câu đối lưu truyền đến ngày nay:
Tá Hoa động dĩ khai cơ, nhất thống sơn hà giai nghị lực,
Du Mậu lâm nhi phỏng cổ, ngữ châu phong hội thử sùng từ.
(Hương thục Tu Hoàng Cử nhân Hàn lâm Kiểm tịch Đàm Xuân Hướng bái tiến. Hoàng triều Bảo Đại Bính Tý niên).
Tạm dịch là:
Phò chúa động Hoa Lư gây dựng cơ đồ, thống nhất non sông đều nhờ nghị lực.
Thăm rừng quê làng Mậu kiếm tìm dấu cũ, năm châu vận hội lưu tại đền thiêng.
(Cử nhân Đàm Xuân Hướng người làng Tu Hoàng, giữ chức Hàn lâm Kiểm tịch bái tiến. Năm Bảo Đại Bính Tý (1936).
Không những ở làng Mậu Hòa mà ở những vùng gần đó, bút tích của ông còn lưu lại khá nhiều. Ở từ đường họ Hoàng ở xã Minh Khai huyện Hoài Đức hiện còn lưu giữ tấm bia Hoàng tộc bi ký do ông soạn vào năm Bảo Đại 14 (1939), và chúng tôi tin rằng sẽ còn nhiều bút tích của ông nữa mà chúng ta chưa được biết.
Năm 1936, Cử nhân Đàm Xuân Hướng còn có mặt ở làng Mậu Hòa. Kể từ năm ông thi đỗ Cử nhân (1909) đến đây đã ngót nghét 30 năm, có thể nói ông là một nhà giáo suốt đời tận tụy với việc đào tạo lớp người hậu kế, đồng thời cũng là một tác gia Hán Nôm có tâm huyết với đời. Tiếc rằng những tác phẩm của ông vẫn còn tiềm tàng trong dân gian, ít người biết tới.
Nhân một số bút tích của cụ Cử Đàm Xuân Hướng mới phát hiện trong chuyến đi thực địa sưu tầm tư liệu ở một huyện đồng bằng rất gần Hà Nội, chúng tôi nghĩ rằng có thể còn nhiều tác gia Hán Nôm có những tác phẩm bổ ích cho đời vẫn lặng lẽ nơi hang cùng ngõ hẻm. Mong rằng các cấp lãnh đạo sẽ có những phương hướng sưu tầm bổ sung để giới thiệu được rộng rãi cho mọi người.
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.454-460)
Nguồn tin: Viện Hán Nôm

Một tấm bia mộ thời Lê ở Kim Thành, Hải Dương do Tiến sĩ Phạm Cảnh Lương soạn

MỘT TẤM BIA MỘ THỜI LÊ VỪA MỚI PHÁT HIỆN
NGUYỄN THỊ THẢO
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Ở làng Bất Nạo, huyện Kim Thanh, tỉnh Hải Dương, nay là xã Kim Anh, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, vừa qua sau 1 cơn bão, cây đa ở miếu Vua Bà bị đổ trật gốc, người địa phương phát hiện được dưới gốc đa một tấm bia mộ, để trong một hộp đá do Tiến sĩ Phạm Cảnh Lương viết để nêu công đức của người chị cả của ông là Phạm Thị Thục Trân.
Tiến sĩ Phạm Cảnh Lương, hiệu là Nguyễn Huy, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn, chức Đạt Tín đại phu, Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ Từ Đoan sự, Thanh Hình HIến sát ty, Hiến sát Thuận Hóa. Sách Các nhà Khoa bảng Việt Nam (Nxb Văn học, 1993) viết: “Phạm Cảnh Lương, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức 27 (1496) đời Lê Thánh Tông. Khoa thi này thực số lấy đỗ 30 người, nhưng sách Lịch triều Đăng Khoa chỉ ghi tên 29 người, bỏ sót Hoàng giáp Phạm Cảnh Lương – Nay bổ sung theo bia Văn miếu [Bia này soạn và khắc dựng ngay trong năm Hồng Đức 27 (1496) ].
Sau đây là nội dung tấm bia mộ:
BIA MỘT (MỘ CHÍ)
VỢ QUAN THỪA TY LẠI KINH BẮC
LIÊN HỒ TIÊN SINH HỌ LÊ
Chị ta húy là Quý, tự là Thục Trân, họ Phạm xuất thân trong một gia đình có học. Từ cụ Cao tằng tổ về trước, đời nào cũng có người làm quan hiển đạt. Nhưng gia phả vì sơ suất bị thất lạc nên tên hiệu, quan tước của các vị ấy nay không còn. Cụ Tằng tổ huý là Duyên. Ông nội là Hương lão, huý là Dung, hiệu là Lương Trang Dật Tẩu. Cha là Dực vệ ngự tiền, huý là Ngân, hiệu là Lũ Trang Dật Tẩu. Mẹ họ Đặng, huý là Kỳ.
Cụ Cao tổ bên ngoại là Chuyển vận sứ Nội cung lang, huý là Sinh, hiệu là Trung Kiều tiên sinh. Cụ Tằng tổ (bên ngoại) huý là Tề, là Thái học sinh hiệu Ngư Ẩn tiên sinh. Ông ngoại huý là Tri Tiết, là Thái học sinh, hiệu là Tế Trang Ngai Lão tiên sinh.
Cha mẹ rất chuộng Nho học nghệ thuật, sinh chị là con đầu. Từ tuổi ấu thơ, chị đã có đức hạnh hơn người, ít nói, nhu mì, ôn hòa, điềm đạm. Khi lớn lên, chị về làm dâu họ Lê, dòng dõi Nho môn ở Lê Xá, một dòng họ lớn trâm anh lệnh tộc, thi thư dịch số nối đời. Chồng chị (Liên Hồ tiên sinh) từ lúc còn trẻ đã nổi tiếng học giỏi. Đến khi được ra làm quan ở quận, huyện thì nổi tiếng khí tiết nhà Nho, trải làm quan tại các xứ Thái Nguyên, Kinh Bắc thì nổi tiếng là vị quan giỏi, thanh liêm, cẩn thận. Người anh cả huý là Lậu, hiệu là Thận Sát tiên sinh, làm Mậu lâm tú lang, Tri phủ Khoái Châu, Thường Tín. Người em trai kế tiếp huý là Nguyên Huy, tên là Lạc Thiện, tên hiệu là Tùng Hiên tiên sinh – làm quền Giám sát ngự sử. Cẩn sự tá Lang, Tri huyện Vũ Xương, Gia Lâm.
Hai họ nội ngoại đều thuộc dòng Nho học hiển hách. Vì vậy đức hạnh của chị càng được bồi bổ hoàn thiện. Đầu năm Hồng Đức (1470) hai bên gia đình có mấy cái tang, chị đã tận hiếu lo toan đến nơi đến chốn, cúng dưỡng chu đáo, không hề vì có khó khăn mà phân biệt nội ngoại. Từ bé cho đến nay, ta thường thấy chị luôn tự răn mình không bao giờ giận dữ cáu gắt, đố kỵ, kiêu căng. Đối với các em, các con, các cháu, chị luôn luôn răn dạy phải lấy việc nông tang, Nho học làm trọng, phàm đạo làm con, làm vợ làm mẹ, chị đều rất hiếu thảo, hiền từ, cần kiệm, đức hạnh hòa mục cung kính nhân nghĩa đầy đủ cả. Đáng ra chị phải sống thọ, thế mà lại bị bệnh đau xương cốt nặng, mặc dù thuốc thang chạy chữa hết lòng vẫn không qua khỏi. Chị đã mất vào giờ Sửu đêm ngày 16 tháng 6 Đinh Mùi năm Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502) tại quê cha đẻ ở thôn Khả Lũ xã Bất Nạo, hưởng thọ 62 tuổi.
Chị có 5 người con, con trai là Khắc Loại, Khắc Hiếu, Khắc Thiệu đều là Sinh đồ, nổi tiếng trong quận ấp vì tài văn chương cùng đức hạnh v.v…
Chị có 6 người em. Em trai lớn là Cảnh Ngộ làm Tri huyện. Em trai thứ 2 là Cảnh Phúc, là Sinh đồ. Em trai út chính là Cảnh Lương này. Còn 3 em gái là Nghiêm, là Đính là Quế.
Ngày 4 tháng 12 năm nay Cải táng chị, an táng ở cánh đồng này.
Than ôi! Chị ta, con người hiền lành, đức hạnh đã không sống được đến tuổi thượng thọ, không kịp được hưởng chút lộc trời. Sao thần Phật lại chẳng nhân từ với người có nhân đức như vậy. Trước đây, sau khi làm quan không thuận lợi, ta thường đi du học đây đó, mỗi khi đi chị đều răn dạy phải giữ mình, chuyên cần học tập. Đến khi đỗ Tiến sĩ làm quan Hiệu lý, Tri huyện, Ngự sử, Hiến sát sứ, mỗi khi nhậm chức, chị đều căn dặn giữ gìn làm quan chớ có tham lam. Trong đời thường, chị dặn đi dặn lại chớ kiêu căng, mắng nhiếc, hại người. Khi trở lại làm quan đại phu ở Thuận Hóa, thì chị lâm bệnh nặng, lúc lâm chung vẫn nghẹn ngào thương nhớ người em út này. Thật nhân hậu thay! Phải chăng vì chị là chị cả và em là em út, mà trước sau có sự cảm thông sâu sắc này. Em xin thờ chị hết lòng như thờ cha mẹ đẻ báo đáp công ơn. Suốt cả cuộc đời chị luôn dạy bảo các em, các con, các cháu mong cho nên người. Khi sắp qua đời, vẫn lấy hiếu với cha mẹ mà xử hành vi phải trái. Than ôi! một lần nữa ta lại mất chỗ nương tựa. Thương xót thay! Không rõ vì sao trời lại nhẫn tâm nỡ vội vàng cướp chị ta đi, để ta sống một mình! Ta đành ngậm ngùi viết những lời này khắc ghi vào bia đá, nỗi đau xé ruột của mình. Sự đau xót tận cùng không thể viết ra được và cũng không thể nói hết lời được.
Tiến sĩ khoa Bính Thìn, Đại Tín đại phu, Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ ti Đoan sự tu thiện, Thiếu doãn, Giám sát ngự sử đạo Lạng Sơn, Hình hiến sát ti, Hiến sát Thuận Hóa là Phạm Cảnh Lương, hiệu là Nguyễn Huy soạn văn bia.


Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.395-398)
Nguồn tin: Viện Hán Nôm

Họ Phạm xã Đông Cơ, Tiền Hải, Thái Bình có gốc làng Doãn Trung, Giao Thủy, Nam Định

Tư liệu gia phả phản ánh thành phần xuất thân, địa vị xã hội của các nguyên mộ (người đứng đầu các lý, ấp, trại, giáp sau khi thành lập huyện), đồng thời phản ánh quá trình lập làng ấp, tinh thần vượt khó, chịu đựng gian khổ của những người đi khẩn hoang. Gia phả họ Trần ở làng Kinh Xuyên (Đông Xuyên) cho biết trận bão 13 tháng 8 năm Tân Tỵ (1881) có 11 người chết. Gia phả họ Phạm ở làng Đức Cơ (bản chữ Hán, soạn năm Tự Đức 31 (Mậu Dần – 1878) do trưởng tộc Phạm Húc giữ, ghi: Gốc tổ làng Doãn Trung (Giao Thuỷ) cuối đời Lê, do đói kém dời đến ở làng Tiểu Hoàng (huyện Chân Định), sau có 1 chi về lập ấp Đức Cơ, tổng Tân Phong (nay thuộc xã Đông Cơ). Gia phả họ Tạ, họ Lê ở làng Diêm Điền (Tây Giang) cho biết họ Tạ, họ Lê đến đay nay đã 12 – 13 đời. Làng Diêm Trì, tổng Tân Phong (nay thuộc xã Tây Phong) là do cụ Mền Thước (Thần Thước) vốn là Tiên chỉ của làng Diêm Điền xuống tổ chức khai phá, được làm Trưởng mộ v.v…

-----------
Ghi chú:
làng Tiểu Hoàng (huyện Chân Định)

Ấp Tiểu Hoàng đã có cách đây hơn 500 năm, nay là đất xã Tây Sơn và thị trấn Tiền hải. Vùng đất trù phú xinh đẹp nằm ở trung tâm của huyện Tiền Hải, đông giáp xã Đông Cơ, tây giáp xã Tây An, nam giáp xã Tây Giang, bắc giáp xã Tây Ninh.

Theo lịch sử đất Thái Bình, ấp Tiểu Hoàng đã được con cháu vị khai quốc công thần triều Lê là Phạm Văn Xảo được Triều đình cho mộ dân về khai phá, lập lên cách đây hơn 500 năm, thuộc huyện Chân Định, Phủ Kiến Xương, Thừa tuyên Sơm Nam (Năm 1469 thời vua Lê Thánh Tông, nước Đại Việt gồm phủ Phụng Thiên và 12 đạo thừa tuyên, dưới các đạo thừa tuyên là các phủ. Phủ Kiến Xương thuộc thừa tuyên Sơn Nam gồm các huyện: Thư Trì, Vũ Tiên, Chân Định). Đây là đất biển bồi, ở đâu có đất có thể khai phá trồng trọt sinh sống được là có người. Bãi biển Chân Định có giồng đất từ Cồn trắng bắc qua Công bồi, Cổ Rồng, Trình Nhì, thôn Bắc, Tiểu Hoàng, Đại Hoàng đã có từ thế kỷ XII, XIII. Ngày ấy dân ở còn lác đác, các địa danh này chưa có tên. Cuối thế kỷ XIII, quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta lần thứ II năm 1285, đạo quân của Trần Hưng Đạo do tướng Yết Kiêu chặn thuyền địch không cho ngược đường sông Hồng về Thăng Long. Nghĩa quân đi qua thấy vùng đất rộng, có những cây quế lớn đã dừng lại nghỉ chân, chuẩn bị chiến trận. Sau để ghi nhớ công lao to lớn của đức Trần Hưng Đạo, người dân Tiền Châu đã dựng ngôi đền thờ gọi là đền Bắc hay đền Quế (nay ở Thôn Giang Bắc, xã Tây Giang), trong đền có tấm bia đá “Linh từ bi ký” (Bia ghi ở đền thiêng) có ghi sự tích này.

Những người dân được mộ về khai khẩn muối, làm ruộng lập ra ấp Tiểu Hoàng đầu tiên ấy là những người họ Vũ, họ Lê, họ Trần, họ Phạm và một số người của dòng họ khác. Nhân dân ấp Tiểu Hoàng cùng với dân ấp Diêm Điền, Phương Trạch, Công Bồi đắp con đê ngăn nước mặn từ Ngoại đê ra cầu Các Già, ra cánh đồng Phương Trạch. Có đắp được đê, dân trong đê mới yên ổn làm ăn, cày cấy được. Dân cư các dòng họ từ Thanh Hoá, Nghệ An, Nam Định, La Điền, Bổng Điền (Vũ Thư), Hải Dương, An Biên… lại tiếp tục đổ về tìm nơi có đất để khai phá.

Về bài thơ khắc trên chuông xã Cẩm Thịnh, huyện Cẩm Khê (Hà Tĩnh)

VỀ BÀI THƠ KHẮC TRÊN CHUÔNG XÃ CẨM THỊNH,
HUYỆN CẨM XUYÊN
HOÀNG VĂN LÂU
Viện Nghiên cứu Hán - Nôm
Tháng 12 năm 1990, ở địa phận xã Cẩm Thịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã khai quật được một quả chuông đồng. Chuông cao 0,95m, đường kính miệng chuông 0,6m, cân nặng 200kg, không ghi niên đại.
Quả chuông này đã được Nguyễn Du Chi giới thiệu trên Những phát hiện mới khảo cổ họcnăm 1995(1). Người giới thiệu đã căn cứ vào những đặc điểm về hình thức và nội dung bia, đoán định đó là “cổ vật” đời Trần.
- Về hình thức: Núm treo chuông do một con rồng tạo thành. Cả 6 núm chuông đều thể hiện phong cách chuông chùa thời Trần.
- Trên chuông khắc bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Phạm Sư Mạnh giữ chức Nhập nội hành khiển, Tri Khu mật việ sự triều Trần, còn giữ được hai chữ huý đời Trần là chữ “Nam” và chữ “Lý” theo lối bớt nét.
Phạm Sư Mạnh có tập thơ Hiệp Thạch thi tập, nhưng đã bị thất truyền. Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn sưu tập được 35 bài thơ của họ Phạm, nhưng không có bài thơ tứ tuyệt này. Vì lẽ đó, chúng tôi thấy cần thiết phải tìm hiểu hơn bối cảnh sáng tác, xác định niên đại sáng tác của bài thơ, góp thêm tư liệu cho những ai muốn tìm hiểu thơ Phạm Sư Mạnh nói riêng và những tác gải thời Trần nói chung.
Nguyên văn bài thơ như sau:
Phiên âm:
Nam vọng Hoành Sơn đại hải đoan
Kình đào hung dũng bạch vân gian
Thiều thiều vạn lý nam chinh lộ
Xa giá hoang châu Bố Chính san.
Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh
Cung nội thượng ban Phùng ngọc
Pháp hiệu Từ Nghiêm(2)
Dịch nghĩa:
Nhìn về phương Nam, núi Hoành Sơn ở bên biển lớn,
Sóng Kình cuồn cuộn liền giải mây trắng.
Đường nam chinh xa xôi muôn dặm,
Xa giá tới núi Bố Chính châu hoang vắng.
Bài thơ phản ánh một sự kiện lịch sử. Hoàng đế Đại Việt (xa giá) thân hành đi đánh phương Nam (Nam chinh), tới núi Bố Chính (Bố Chính). Có thể từ sự kiện lịch sử này mà đi tìm đầu mối, xác định niên đại sáng tác của bài thơ.
Theo Từ điển văn học, Phạm Sư Mạnh vào triều làm quan năm Đại Khánh 10 (1323)(3).Theo Lược truyện các tác gia Việt Nam, Phạm Sư Mạnh “được bổ làm quan trong triều” năm Đại Khánh 10 (1323)(4). Như thế, sự kiện Phạm Sư Mạnh được theo xa giá đi Nam chinh xảy ra sau năm 1323.
Từ năm 1323 đến trước năm 1253 (Thiệu Phong 18), chỉ có một lần hoàng đế Minh Tông “thân chinh” vào năm 1334 – 1335, nhưng chỉ tiến quân tới Nghệ An để chinh phạt Ai Lao xâm lấn đất đai(5).
Từ năm 1353 về sau, mới có mối lo về Chiêm Thành: Tháng 10 năm 1353, Chiêm Thành vào cướp Hóa Châu. Các năm 1365, 1371, 1376 đều có chuyện biên giới phương Nam. NHưng cũng chỉ có năm 1376 mới có việc hoàng đế Đại Việt (Duệ Tông) thân chinh phương Nam. Sử chép: (Long Khánh năm thứ 4 – 1376). Tháng 12: Vua đích thân đi đánh Chiêm Thành…
“…Bấy giờ, đại quân tiến đến cửa biển Di Luân, các quân đi theo đường biển. Vua cưỡi ngựa, dẫn quân bộ ven theo bờ biển đến cửa Nhật Lệ, đóng quân luyện tập một tháng”(6).
Hai cửa Di Luân và Nhật Lệ đều ở châu Bố Chính (nay là tỉnh Quảng Bình). Câu thơ: “Xa giá hoang châu Bố Chính san” có thể chỉ sự kiện Duệ Tông thân chinh năm này (1376) và bài thơ khắc trên chuông ở xã Cẩm Xuyên đã được sáng tác vào thời gian đó (1376-1377).
Năm Ất Hợi, niên hiệu Khai Hựu 7, vào tháng 12 nhuận, Minh Tông chinh phạt Ai Lao, sai Nguyễn Trung Ngạn mài vách núi khắc chữ ghi công(7). Lần xuất chinh này, Đốc tướng Đoàn Nhữ Hài tử trận, nhưng đại quân thắng lợi khải hoàn.
Còn lần Nam chinh này, (1376-1377), hoàng đế Duệ Tông đích thân chỉ huy quân, tiến vào châu Bố Chính, luyện quân 1 tháng. Sau đó tiến sâu vào kinh đô Chiêm Thành, bị trúng kế phục kích của Chế Bồng Nga, toàn quân tan vỡ. Trần Duệ Tông cùng các đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh đều tử trận.
Phạm Sư Mạnh làm bài thơ “Nam chinh” này khi “xa giá” đang đóng ở châu Bố Chính. Sư Mạnh đi theo hậu quân, nên thoát hiểm trở về. Sau khi thất trận, viên Cung nội thượng ban Phùng Ngọc pháp hiệu Từ Nghiêm đã khắc bài thơ lên chuông, đặt vào chùa, như một kỷ niệm bi thương về một cuộc Nam chinh thất bại, chuông đánh lên mỗi sáng, mỗi chiều, như truy điệu hương hồn Dụê Tông hoàng đế và các tướng sĩ tử trận.
Chú thích:
(1) X. Nguyễn Du Chi: “Thêm một vài tư liệu về chuông thời Trần ở chùa Rối (Hà Tĩnh): Những phát hiện mới khảo cổ học, 1995.
(2) Theo văn bản hiệu đính bằng chữ Hán của PTS. Đinh Khắc Thuân.
(3) Từ điển văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1984, Tập I, tr. 188.
(4) Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội 1971, Tập I, tr. 174-175.
(5) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản…, g.7, tờ 6b, 7a.
(6) Sđd, Bản…, g.7, tờ 43a, 43b.
(7) Sđd, Bản…, g.7, tờ 6a.


Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.256-259)
Nguồn tin: Viện Hán Nôm