Cội nguồn họ Phạm: Đình làng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đình làng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đình làng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Đình Lễ Hợp- Niềm tự hào của người dân Tam Đa

Đình Lễ Hợp thuộc thôn Lễ Hợp, xã Tam Đa (huyện Vĩnh Bảo), di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia, nơi thờ tự vị tướng Phạm Đàm thời Trưng Vương và còn là một bảo tàng thu nhỏ, hàm chứa nhiều giá trị về lịch sử, truyền thống yêu nước và cách mạng qua các thời kỳ lịch sử của địa phương.
Theo truyền ngôn của dân làng, được ông Nguyễn Thành Tựu, thôn Lễ Hợp mô tả lại, đình Lễ Hợp xưa có mái đao cong duyên dáng, lát ván sàn ở tiền đường, do thời gian tồn tại lâu dài, bị xuống cấp nên vào năm Nhâm Tuất (1922) đời vua Khải Định thứ 6, đình được sửa chữa lại. Những di vật còn lưu giữ lại đình chủ yếu mang dấu ấn của phong cách nghệ thuật thời Nguyễn đầu thế kỷ 20. Kiến trúc nội thất đặc sắc, nổi bật ở phần trang trí nghệ thuật qua các chi tiết, mảng chạm của kiến trúc gỗ tập trung ở gian tiền đường. Với phong cách trang trí theo từng lớp lang có bố cục từng đề tài, các bức chạm khắc mang dấu ấn điêu luyện của nghệ nhân y như “Phượng hàm thư”, “Lưỡng ngư chầu nguyệt”, “Rồng mây hội tụ”, “Nghê gảy đàn”.... tạo ra nhiều cảm xúc cho du khách. Nơi đây còn lưu giữ nhiều hiện vật là đồ thờ tự quý có niên đại từ thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 19 như long đình, câu đối, đại tự... với nội dung phản ánh nét văn hoá, lễ hội của cư dân vùng lúa nước Bắc bộ. Bản thần tích còn ghi lại rõ ràng về nhân vật được thờ phụng tại đây, đó là Phạm Đàm, một trong những bộ tướng của Hai Bà Trưng trong cuộc khởi nghĩa năm 40-43. Nhân vật lịch sử này đã góp phần làm nên trang sử đầu tiên của truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước ở Hải Phòng ngay từ thế kỷ thứ nhất. Chính vì vậy, đình Lễ Hợp là một di sản văn hoá tiêu biểu được Nhà nước công nhận năm 1994.
Lễ hội đình Lễ Hợp hằng năm được nhân dân và chính quyền địa phương tổ chức vào ngày mồng 10-3 âm lịch để phát huy truyền thống sinh hoạt văn hoá và tưởng nhớ người anh hùng có công với quê hương, đất nước. Nhân dân thôn Lễ Hợp và các thôn trong xã thường làm các loại bánh dân tộc như bánh trôi nước trong dịp lễ hội. Vào dịp lễ hội, các gia đình quần tụ kể lại cho con cháu nghe lịch sử của vị thần Phạm Đàm về truyền thuyết Vua Hùng, về Hai Bà Trưng với niềm tự hào riêng của dân làng.

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

Lễ hội đình Trần Xá

Đình Trần Xá thuộc thôn Trần Xá, xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trần Xá là mảnh đất được hình thành sớm, với truyền thống lịch sử và văn hoá lâu đời. Thời Lý, Trần Xá có tên gọi Trần Xá trang là vùng đất bồi ven sông Thái Bình và sông Kinh thầy Đình Trần Xá thuộc thôn Trần Xá, xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trần Xá là mảnh đất được hình thành sớm, với truyền thống lịch sử và văn hoá lâu đời. Thời Lý, Trần Xá có tên gọi Trần Xá trang là vùng đất bồi ven sông Thái Bình và sông Kinh thầy nên từ rất sớm dân cư đã tụ cư đông đúc lập thành làng mạc với một thiết chế xã hội chặt chẽ. Theo Ngọc phả tại đình Trần Xá cho biết: Đời vua Lý Nhân Tông (niên hiệu Long Phù thứ 3 - 1103), giặc Ai Lao sang xâm chiếm nước ta, nhà vua đích thân dân quân đi đánh giặc. Vua tiến binh đến địa phận trang Trần Xá thi trời đã tối bèn lập đóng quân nghỉ tại đây. Đêm đó vua nằm mơ thấy 3 người mũ áo chỉnh tề, quỳ trước mặt vua tâu rằng: "Chúng thần là ba anh em họ Phạm ở trang này, nay thấy Hoàng đế dẫn quân đi đánh giặc, xin nguyện theo trợ giúp, nhờ hồng phúc của nước nhà nhất định giặc sẽ tan". Nhà vua tỉnh dậy biết thần báo mộng, sáng hôm sau cho mời các bô lão trong làng vào yết kiến. Được các bô lão kể lại đầu đuôi sự tích ba anh em họ Phạm, nhà vua làm lễ tạ rồi xuất quân đi đánh Ai Lao.
Sau khi chiến thắng trở về, vua sai sứ thần phụng sao sắc chỉ phong tặng phúc thần cho ba anh em họ Phạm. Cho phép trang Trần Xá lập miếu phụng thờ.
Thời Trần, tại Trần Xá loan vụng sông ở phía bắc trang (theo Hán tự "loan" có nghĩa là chỗ nước hõm vào), vào năm 1282 vua tôi nhà Trần đã họp hội nghị vương hầu bách quan bàn kế sách đánh giặc Nguyên Mông lần thứ 2. Về sự kiện này sách "Đại Việt sử ký toàn thư" tập II trang 118 xuất bản năm 1998 ghi rõ: "Mùa đông, tháng 10, vua ngự ra Bình Than, đóng ở vũng Trần Xá, họp các vương hầu trăm quan, bàn về kế sách công thủ và chia đi đóng giữ những nơi hiểm yếu". Trần Xá Loan chính là vụng Trần Xá ngày nay, đây là nơi hợp lưu của hai sông Thái Bình và sông Kinh Thầy.
Ngày nay tại đống Khoai Nợ (xưa gọi là gò Khai Quang) thôn Trần Xá còn 2 cây Ruối cổ dân địa phương vẫn gọi là cọc bọc ngựa, tương truyền đây là nơi buộc ngựa của các tướng lĩnh khi xuống thuyền họp hội nghị Trần Xá Loan. Sau hội nghị và trong suốt thời gian của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, Trần Xá trở thành nơi tập kết, đồn trú quân lương của nhà Trần.
Sang thời Hậu Lê (thế kỷ 18), Trần Xá thuộc tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Vào nửa đầu thế kỷ XVIII, do chính sách hà khắc, sự suy yếu của triều đình vua Lê, chúa Trịnh, nhân dân tổng Cao Đôi đứng lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, cả vùng Trần Xá bị triệt hạ, nhân dân ly tán đi các nơi. Đến đời vua Quang Trung (1788­1792) với chính sách khuyến nông, nhân dân quay về làng cũ sinh sống xây dựng lại làng quê sau một thời gian dân ly tán.
Thời Nguyễn, Trần xá tách thành 2 thôn là Quảng Trạch và Nhân Lý thành lập đơn vị hành chính cấp xã với tên gọi xã Trần Xá, thuộc tổng Cao Đôi, huyện Chi Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Trần Xá chuyển thành một thôn thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương và ổn định cho đến nay.
Đình Trần Xá thờ ba vị thần thời Lý là Phạm Cẩm, Phạm Lang và Phạm Huy và phối thờ Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Theo các cụ cao niên địa phương kể lại: Đình Trần Xá được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Vị trí của di tích khi đó nằm trên một gò đất cao giữa làng, cách vị trí đình hiện nay trừng 500m về phía tây. Hiện nay, tại di tích còn giữ được tấm bia thời hậu Lê.
Sang thời Nguyễn, do vị trí chật hẹp; phía sau là ao lớn của làng, phía trước là đất thổ cư của dân nên các kiến trúc thời Lê đã bị phá dỡ và di tích được di chuyển đến vị trí đất chùa của làng như hiện nay. Tại vị trí cũ nhân dân vẫn gọi là đống đình. Vào đầu thế kỷ XX, đình Trần Xá được trùng tu lớn. Công việc do hai giáp của thôn đảm nhiệm, ngôi đình khi đó được kiến trúc kiểu chữ đinh gồm 5 gian đại bái và 2 gian hậu cung bề thế uy nghi. Các cấu kiện của công trình được trạm trổ tinh sảo rồng phượng, hoa lá. Năm 1953, ngôi đình bị thực dân pháp phá huỷ. Sau kháng chiến nhân dân đã dựng tạm 3 gian hậu cung để thờ tự. Năm 1999, nhân dân địa phương đóng góp công đức cùng sự hỗ trợ kinh phí của chính quyền địa phương, đình Trần Xá được trùng tu, tôn tạo lại. Hiện nay đình Trần Xá bao gồm các hạng mục chính: Cổng đình, toà đại bái 5 gian 2 chái và 2 gian hậu cung.
Hàng năm hội đình Trần Xá diễn ra nhiều kỳ đại lễ nhưng quan trọng nhất là hai kỳ lễ: Lễ kỵ nhật: kỷ niệm ngày mất của ba vị thành hoàng làng vào mồng 12 tháng 3 âm lịch và lễ kỷ niệm ngày sinh Phạm Lang, Phạm Cẩm từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 2 âm lịch. Lễ nhật kỵ tổ chức mở cửa đình từ ngày 11 để làm lễ tế, chiều ngày 13 đóng cửa đình, không có các trò chơi dân gian, quy mô lễ hội nhỏ. Lễ kỷ niệm ngày sinh của hai vị thành hoàng Phạm Cẩm và Phạm Lang, được tổ chức từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 2 âm lịch. Hàng năm đến kỳ lễ hội các vị bô lão, kỳ mục, chức dịch trong làng đã họp bàn để chuẩn bị cho công việc này. Việc đầu tiên là bầu ra ban trị sự với 12 thành viên gồm các bô lão, chức dịch và những người có vai vế trong làng và chỉ những người đàn ông mới được tham gia. Ban tổ chức đã bầu ra một người đứng đầu gọi là ông cai đám hay "Ông thượng" có trọng trách toàn quyền quyết đoán, tổ chức các hoạt động trong lễ hội. Sau khi ban tổ chức họp bàn xong, các đầu việc được giao tới các giáp và các thành viên cụ thể. Hai giáp đông và giáp tây phải trực tiếp lo sắm lễ phẩm chuẩn bị cho hội. Trong các công việc trên, việc chuẩn bị lễ phẩm, lễ tế và lễ rước của làng là quan trọng nhất, kế đó là việc tổ chức các trò chơi trong lễ hội...
Theo lệ xưa quy định lễ phẩm dâng tế của làng gồm lễ chay, lễ mặn quy định như sau:
Ngày sinh của hai ông em (lễ hội chính): 13 tháng 2 lễ cúng gồm 3 con lợn một mầu lông, 3 bàn xôi đỏ, 7 quả trứng, muối tinh và các mâm ngũ quả. rước tế xong ca hát 3 ngày.
Ngày sinh của ông anh: 22 tháng 4 lễ cúng như trên
Ngày hoá của ba ông ngày 12 tháng 3 lễ cúng gồm 3 con lợn một mầu lông, 3 bàn xôi đỏ, 7 quả trứng, muối tinh và các mâm ngũ quả...Ngày này quy định cấm ca hát.
Trong lễ hội đình Trần Xá tế lễ và lễ rước là 2 nghi lễ quan trọng nhất năm nào cũng được tổ chức. Lễ rước được tiến hành vào 2 buổi. Lễ rước ngày 12 tháng 2 làng tiến hành rước về tế nhập tịch xin mở hội. Ngày 13 diễn ra lễ rước tứ bàng do bốn làng đồng tổ chức rước giao hiếu.
Lễ rước ngày 12 tháng 2: Đây là lễ rước quan trọng nhất, công việc chuẩn bị cho lễ rước sẽ được tổng duyệt vào buổi trước hôm lễ rước diễn ra. Các chân khiêng long kiệu, long đình, cầm tán tàu cờ quạt, bát bửu đã được cắt cử rõ ràng. Chỉ những nam thanh, nữ tú đồng trinh mới được vào các chân khiêng này. Chiều hôm trước cờ hoa đã được trang hoàng đầy đủ tại đình và dọc theo tuyến rước. Dân làng mang long đình, cờ quạt, bát bửu chiêng, trống đến nhà ông Lý Trưởng rước sắc của các vị thành hoàng ra đình để chuẩn bị cho lễ rước sáng hôm sau. Sáng sớm ngày 12 dân làng đủ các thành phần kéo ra đình dự lễ. Theo quy định, các vị trí đã được phân công sẵn, đúng 6 giờ sáng, lễ rước được cử hành: Rước từ đình ra đống Mả Giao xin phép thần linh rồi rước trả lại đình làm lễ tế nhập tịch xin mở hội. Sở dĩ hành trình lễ rước như vậy vì các vị thành hoàng thờ tại đình đều hoá cùng ngày tại đống Mả Giao là nơi giáp danh giữa khu thượng và khu hạ trang Trần Xá xưa. Lễ rước cổ truyền tại Trần Xá được tổ chức với quy mô lớn. Từ sáng sớm các ngả đường đã chật cứng người, tiếng nhạc, chiêng trống rộn rã. Đi đầu đoàn rước là đội múa lân. Sau đó là tám lá cờ bát quái. Tiếp theo là đôi cờ tuyết mao, năm lá cờ ngũ hành. Kế đến 4 lá cờ tứ linh tương trương cho sự giao kết, hoà hợp giữa âm dương, trời đất, sự kiểm soát tâm linh người đi rước bằng hình ảnh các linh vật long, lân, quy, phượng. Đi sau là ban nhạc lễ gồm trống, chiêng. Tám người trong phường bát âm đi sau trống chiêng chia làm hai hàng điều khiển các nhạc cụ, vừa đi vừa cử những bản nhạc vui như: Kim tiền, Lưu thuỷ... Sau đó là hàng bát bửu do tám cô gái trẻ mặc áo nậu đỏ, quần trắng đầu chít khăn mang. Đứng trước hàng bát bửu là hai biển Tĩnh túc (tức trang nghiêm, kính cẩn) và Hồi tỵ (tức tránh xa đoàn rước). Đi sau bát bửu là hàng chấp kích do tám chàng trai trẻ mặc áo nậu đỏ, quần trắng đầu chít khăn mang. Kế đến là phường đồng văn, sau là long đình. Long đình đặt bát hương và hòm sắc vua ban cho các vị thành hoàng, sắc của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Hai bên long đình có tàn, quạt, lọng, cờ vải che kín rất tôn nghiêm. Sau long đình là đội nghi lễ gồm chấp kích, bát bửu rồi đến long kiệu đều được trang trí vải đỏ lộng lẫy. Hai Long kiệu đặt hương hoa và chiếc mũ quan tượng trương cho thần thánh ngự trị. Sau long kiệu là các bô lão, quan viên, chức dịch và dân bản trong làng và đoàn người tứ xứ với trang phục sặc sỡ. Như vậy lễ rước hội đình Trần Xá là rước sắc và rước thần. Đứng xa trông đoàn rước như một con rồng đang chuyển mình. Đặc sắc nhất phải kể đến tiết mục "Kiệu bay" với lối múa tạt ngang, tạt dọc, thoắt tới thoắt lui, chạy ào ào như bão tố, quay vòng như cơn lốc hết sức thú vị, hết thảy mọi người đứng xem chật lối chật đường cũng phải dạt ra khi kiệu bay tới. Không khí của buổi rước thật nô nức náo nhiệt trong tiếng nhạc, tiếng chiêng trống rộn rã. Ai cũng hả hê vui nhộn. Khi đoàn rước về tới sân đình, đội hình được tập kết trước sân. Dân làng rước lễ và văn chúc vào đình rồi tiến hành tế nhập tịch xin khai mở hội, lễ rước kết thúc.
Lễ rước tứ bàng ngày 13 tháng 2:Trong lễ hội tại Trần Xá thường diễn ra lễ rước tứ bàng (còn gọi là rước giao hiếu). Đây là nghi lễ đặc biệt ít nơi có được. Sở dĩ có tên gọi này là do 4 làng (Trần xá, Quảng Tân, Linh Xá, Đột Lĩnh) của tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh xưa liên kết với nhau đồng tổ chức rước giao hiếu. Theo quy ước mỗi năm tổ chức rước một lần luân phiên về các làng vào dịp lễ hội chính. Khi đến phiên của làng nào thì làng đó đứng ra đăng cai tổ chức. Như vậy, cứ 4 năm trong kỳ lễ hội, Trần Xá lại đứng ra đăng cai đại lễ rước tứ bàng của bốn làng. Với tâm thức hướng về cội nguồn, lễ rước tứ bàng của 4 làng của tổng Cao Đôi được tổ chức trên tinh thần cộng đồng với việc ứng xử giao tiếp giữa các làng, ý thức về gìn giữ phát triển các giá trị văn hoá cộng đồng. Vào ngày trọng hội các làng rước Thánh, các vị Thành Hoàng làng lễ tại đình làng mình rồi rước tới đình làng đăng cai lễ hội năm đó. Cách sắp xếp đội hình, vị trí từng làng đã được qui định trước. Khi rước tới đình làng chủ hội các làng tập trung làm lễ tế thành hoàng. Đây là nghi lễ chung của cả tổng. Đôi tế do các làng đồng cử các thành viên tham gia. Chủ tế và đội tế cũng phải được lựa chọn kỹ càng, khắt khe. Văn chúc phải soạn thảo nội dung nêu rõ được năm tháng, địa danh, tên, công đức các vị Thánh, thành hoàng của từng làng và chuyển lời cầu xin tới thánh thần, mong các Ngài ban phúc lành cho dân, cầu cho mưa gió thuận hoà, mùa màng bội thu... tới chiều thì lại rước Thánh làng nào về làng ấy. Theo thường kỳ cứ vào năm Trần Xá đứng ra đang cai thì lễ rước của làng cũng được chuẩn bị chu đáo. Quy trình lễ rước cũng được tiến hành trang nghiêm theo đúng quy định. Lễ rước cũng tiến hành rước từ đình ra đống Mả Giao rồi rước trở lại tập kết với bốn làng trước sân đình cùng làm lễ tế. Lễ rước tứ bàng khác chỉ có long đình và một long kiệu. Long đình đặt bát hương và kiệu bài vị các thành hoàng. Trong tâm thức của người dân thì lễ rước tứ bàng của 4 làng được tổ chức nhằm mục đích để các vị thành hoàng, các thánh của 4 làng được gặp gỡ hàn huyên với nhau. Vì theo truyền thuyết và các Thần phả, Sắc phong còn lại tại các di tích cho biết các vị Thánh, các vị Thành Hoàng của 4 làng đều là những linh thần, những anh hùng dân tộc, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi nên khi dân làng tổ chức lễ hội cũng là dịp để tưởng nhớ công ơn các vị tiền bối. Đây là hoạt động văn hoá dân gian hết sức độc đáo, nó không chỉ mang tính nghệ thuật cao mà còn thể hiện rõ tinh thần của cộng đồng làng xã.           
Sau lễ rước diễn ra lễ tế. Đây là một nghi lễ rất quan trọng. Đội tế được thành lập gồm từ 15 đến 17 thành viên. Theo lệ xưa, trước kỳ hội diễn ra, đội tế được duyệt lại thành viên, hoặc bổ sung thành viên mới. Đội gồm các chức danh: 1 mạnh bái là ngưưi đứng đầu đội tế, đứng chấp bái mang trọng trách tế thần. 4 bồi tế là những ngưười có phận sự giúp chủ tế trong quá trình hành lễ. 1 đông xướng và 1 tây xưưng đứng đối xứng hai bên hương án, đông xướng đứng bên phải, tây xướng đứng bên trái, chịu trách nhiệm xướng trong khi hành lễ. 2 nội tán đứng hai bên chủ tế, phụ giúp chủ tế khi hành lễ. Các quan viên chấp sự đứng ở hai bên hương án phụ giúp chủ tế như dâng hương, dâng rượu và chuyển chúc, đọc chúc. Trong các chấp sự này được cử ra một người có nhiệm vụ độc chúc, hoá chúc khi tiến hành lễ. Thành viên đội tế đều phải mặc trang phục tế khi bước vào khoá tế. Theo truyền thống, chủ tế mặc áo lương bên trong màu trắng bên ngoài màu tím, đội mũ tím hoặc đen, quần trắng đi hia đen hoặc đỏ. Bồi tế trang phục như chủ tế, các quan viên mặc quần áo tế màu tím hoặc đen. Văn chúc thường do ngưưi giỏi văn chương chữ nghĩa soạn bằng hán tự. Người này phải có chân trong hội tư văn, được dân làng cử để tả văn. Nội dung văn tế thường nêu rõ công trạng và ca ngợi công đức cao dầy của vị Thành Hoàng và chuyển lời cầu xin của làng xã tới các Ngài.
Nội dung tế lễ chia làm bốn phần:
Thứ nhất là lễ nghênh thần, chủ tế phải làm bốn lễ.
Thứ hai là hiến lễ lên thần linh, lễ dâng ban lần, gọi là sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ, mỗi lần chủ tế và bồi tế phải quỳ để hiến lễ, mỗi lần phải lễ hai lễ, tổng cộng là 6 lễ.
Sau hiến lễ là đọc chúc văn và lễ tất. Lễ tất chủ tế phải lễ bốn lễ.
Nhìn chung cả ba khoá tế (nhập tịch, chính kỵ, tế tạ) được tiến hành giống nhau chỉ khác về phần chúc văn. Như Văn tế nhập tịch ngày 12 tháng 02, ngoài phần ghi rõ ngày, tháng, năm thì nội dung thường nêu rõ lý do, mục đích xin khai mở hội. Văn tế chính hội, thường nêu rõ công trạng các Ngài, mong ngài ban phát tài lộc tới muôn dân, mong cho sức khoẻ bình an tới muôn họ, cho quốc thái dân an. Văn tế giã đám (tế tạ) thì báo cáo thần linh kỳ lễ hội đã thành công và xin kết thúc hội. Nội dung một khóa tế thực hiện đầy đủ 54 bước xướng với một tuần dâng hương, ba tuần dâng rượu, đọc chúc văn và lễ tất. Trong suốt khóa tế trống nhạc tế được cử hành đều đặn theo từng nhịp xướng. Khóa tế được diễn ra trang nghiêm kính cẩn. Sau khi khoá lễ kết thúc dân làng và khách phập phương vào lễ bái mong cầu các vị thành hoàng ban phát phúc lộc, sức khoẻ. Sau buổi đại tế, người ta coi là thần linh luôn có mặt ở đình. Từ hôm mở hội, các chức sắc và bô lão phải chia nhau túc trực tại đình cho đến khi hết hội.
Ngoài ra vào những năm hạn hán, úng lụt, vào ngày 15 tháng 2 âm lịch, 9 làng của tổng Cao Đôi tiến hành rước lễ đến đình Trần Xá tập trung làm lễ tế cầu đảo. Khoá tế thường do hương lý tổ chức. Các thành viên của các làng cắt cử các thành viên của mình tham dự. Đây là điều đặc biệt tại Trần Xá. Trong khoá tế văn tế nêu rõ lời cầu xin của muôn dân tới các Ngài cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Một nghi lễ mang tính phồn thực của cư dân nông nghiệp lúa nước.
Trong lễ hội ngoài các nghi lễ tâm linh được tổ chức rất trang nghiêm, tôn kính thì hoạt động hội, các trò chơi dân gian cũng được tổ chức. Trong lễ hội một số các trò chơi thường xuyên được tổ chức như: cờ người, đi cầu thùm, tam cúc điếm, chọi gà, đấu vật, bắt vịt...ngoài ra còn tổ chức một số hoạt động văn nghệ như hát trống quân, hát đúm...
Lễ hội truyền thống đình Trần Xá là một lễ hội dân gian khá tiêu biểu trên đất Hải Dương. Đây là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, có tác dụng gắn bó cộng đồng dân cư với quê hương, đất nước. Không khí lễ hội thật tưng bừng trong lễ rước, thật thiêng liêng khi tế lễ, thật vui tươi khi chơi hội. Lễ hội đình Trần Xá đã mang đầy đủ những giá trị truyền thống văn hoá được thể hiện rõ trong toàn bộ tiến trình của lễ hội. Thông qua các nghi lễ, các trò chơi dân gian nhiều hoạt động thông thường đã được nghệ thuật hoá, nghi thức hóa và mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc, đó là tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Nguyễn Văn Cường
Nguồn tin: Di tích Côn Sơn Kiếp Bạc


Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Đình làng Đinh Xuyên

Ở thôn Đinh Xuyên (xã Dư Xá Thượng, Ứng Hòa, Hà Nội), bao thế hệ người làng vẫn truyền tai nhau về hiện tượng “sinh đôi – tử cặp” thường xuyên xảy ra từ nhiều năm nay. Chuyện sinh tử vốn là quy luật tự nhiên, nhưng một số làng vẫn cho rằng liên quan đến thuyết “đồng sinh, đồng tử” của hai vị Thành Hoàng làng.
Đình làng Đinh Xuyên, nơi bắt nguồn nhiều truyền thuyết lạ kỳ
Đình làng Đinh Xuyên, nơi bắt nguồn nhiều truyền thuyết lạ kỳ.
Cây mít hai lõi ở ngôi làng anh em sinh đôi được phong Thành Hoàng
Ngôi làng này vốn có tới 3 vị Thành Hoàng, ngoài đức Thánh Cả được thờ tại đền Đinh Xuyên, đầu làng và cuối làng dựng đền thờ thêm hai vị Thành Hoàng Phạm Thông và Phạm Nhu.
Theo tích xưa truyền lại, hai người này vốn là anh em sinh đôi. Vốn khí chất hơn người, lại thêm tài văn võ thao lược, hai ông cùng nhau chiêu mộ hàng nghìn trai tráng trong làng và các vùng lân cận, lập trận địa bảo vệ làng Đinh Xuyên mỗi khi loạn lạc. Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, hai ông mang theo số binh sĩ đã chiêu mộ được, phò tá Hai Bà đánh giặc.
Trong một trận đánh lớn, người anh Phạm Thông đã hy sinh tại trận địa xung yếu Tây Hồ (Hồ Tây ngày nay). Người em Phạm Nhu nghe tin, vô cùng đau xót đã tuẫn tiết theo anh, gieo mình xuống dòng Hát Giang (sông Đáy) để thể hiện khí tiết.
Cảm động trước ân đức to lớn và tình nghĩa tương thân của hai anh em, dân làng Đinh Xuyên phong hai ông là Thành Hoàng và lập đền thờ phụng.
Vì hai ngài “đồng sinh, đồng tử” nên chuyện thờ cúng hay lễ bái, đều phải làm đầy đủ cho cả hai. Người anh được cúng như thế nào, người em cũng phải cúng như thế, không được ai hơn ai kém dù chỉ là chén nước.
Xưa kia, vốn chỉ có đức Thánh Cả thờ ở đình Đinh Xuyên có tượng thờ, hai vị Thành Hoàng Phạm Thông và Phạm Nhu vốn được lập đền sau nên chỉ thờ bài vị tưởng vọng. Người làng muốn làm tượng để thờ các ngài tỏ lòng thành kính nên đã hạ cây mít to sau đình để tạc tượng.
Một cụ cao niên cho biết: “Theo như ông cha truyền lại, cây mít đó khá to nhưng nếu tạc tượng cũng chỉ có thể tạc một pho. Các cụ quyết định làm tượng người anh Phạm Thông. Tuy nhiên, khi hạ gốc mít, người làng phát hiện cây mít có đến hai lõi, lõi ngoài bao bọc, ôm trọn lõi trong giống như tình cảm anh em luôn khăng khít, gắn bó.
Không biết có phải các ngài biết ý định tạc một tượng của người làng hay không mà cây mít kỳ lạ kia lại có đến hai lõi như ám chỉ phải làm tượng cho cả hai ngài”.
Cổ nhân cho rằng đó là lời nhắc nhở của hai vị Thành Hoàng, “việc gì cũng có nhau, không thể có chuyện người anh được tạc tượng, người em thì không” nên quyết định tạc hai pho tượng cho cả hai vị.
“Thói xấu” vừa đi đưa ma, vừa “dự đoán” người xấu số sắp tới
Dù đã có lịch sử hàng trăm năm nhưng ngôi đình Đinh Xuyên và câu chuyện “đồng sinh, đồng tử” của hai vị Thành Hoàng đều được người dân từ già đến trẻ thuộc nằm lòng. Và chính từ tích đó mà bao đời nay, người làng Đinh Xuyên vẫn truyền tai nhau về hiện tượng “sinh đôi, tử cặp” diễn ra tại nơi đây.
Ông Lê Nguyên Bá (73 tuổi) cho biết: “Chẳng có sử sách nào ghi chép lại chuyện này, chỉ do các cụ ngày xưa chiêm nghiệm và truyền tai lại cho con cháu mà thôi. Không biết do đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay “linh ứng” thật, nhưng khi để ý, đúng là có hiện tượng này xảy ra”.
Hiện tượng sinh đôi ở làng Đinh Xuyên tuy không nhiều nhưng so với các vùng lân cận, tỷ lệ các cặp song sinh cao hơn hẳn. Theo các cụ cao niên, chỉ tính riêng khu vực xóm cuối làng, cũng đã có 5 cặp song sinh, cặp hai trai, cặp hai gái hoặc một trai, một gái.
Ngày trước, người làng vẫn coi sinh đôi là “điềm dữ”, hai đứa trẻ song sinh ngay khi sinh ra, phải gửi lên chùa nếu không sẽ đoản mệnh. “Nếu là cặp song sinh một trai, một gái, càng phải cầu cúng cẩn thận. Người ta cho rằng, hai đứa trẻ đó kiếp trước là vợ chồng nên mặc dù là anh em ruột, gia đình đó phải cúng cho vong hồn hai đứa trẻ lấy nhau thì chúng mới sống yên bình được. Nghe là nghe vậy, chứ các cặp sinh đôi làng đều trưởng thành như những người bình thường khác”, một người chia sẻ.
Chuyện sinh đôi vốn không khiến nhiều người làng bận tâm vì nghĩ chuyện đó cũng bình thường, chỉ là tỷ lệ sinh đôi ở làng nhiều hơn nơi khác. Tuy nhiên, hiện tượng “tử cặp” đều khiến họ cho rằng có mối liên hệ với chuyện “đồng sinh, đồng tử” của hai vị Thành Hoàng.
Hiện tượng này xảy ra trong phạm vi cả làng Đinh Xuyên chứ không phải chỉ anh em sinh đôi, cùng huyết thống mới gặp phải. Nếu trong làng có người mất thì người làng biết chắc rằng, chỉ 3 - 5 ngày sau đó, làng sẽ có thêm một “đám hiếu” nữa.
Những cái chết luôn đi theo cặp đôi như vậy và cách nhau khoảng thời gian rất ngắn nên mới có chuyện “hôm nay ở đầu làng có tang sự, hôm sau đã nghe tin cuối làng có người mất”.
Cụ Bùi Văn Lịch (66 tuổi), Chi hội trưởng Hội người cao tuổi thôn Đinh Xuyên cho biết: “Vì hiện tượng này xảy ra rất nhiều lần nên mỗi khi trong làng có người mất, dân làng thường đoán biết trước việc người nào sẽ ra đi tiếp theo. Người dân chủ yếu nhìn vào những trường hợp người đã lớn tuổi hay đang ốm đau khó qua khỏi mà ngầm dự đoán vậy, chứ cũng chẳng có cơ sở gì rõ ràng”.
Suy nghĩ này đã hằn vào nếp sống, nếp nghĩ của một số người địa phương nên dù bất kể người làng chết vì bệnh tật hay tai nạn, người ta đều đinh ninh “ở làng này, đã chết đều phải có cặp”. Có lần, trong hai ngày, ngôi làng này có đến 3 đám tang, mà theo người làng “nếu hai người một cặp, vậy người kia sẽ lẻ ra”.
Người ta bảo nhau chờ xem vài ngày tới, chắc chắn sẽ có thêm người “đi” và quả thật, khoảng 10 ngày sau có thêm một người già trong làng mất vì bệnh. Chuyện này vẫn được truyền tai nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác, họ không coi đó là chuyện đáng sợ, kỳ quái mà cho rằng, việc “tử cặp” một nét lạ trong  văn hóa địa phương, thể hiện tình nghĩa “tương thân” giống như anh em hai vị Thành Hoàng.

Theo Xa lộ pháp luật

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Sự tích đình Châu Bộ, Hải Dương

Đình Châu Bộ gắn liền với đền An Phụ, nơi tôn thờ An Sinh Vương Trần Liễu, nơi có tượng đài Trần Hưng Đạo đẹp vào loại bậc nhất ở nước ta.


Nằm ở phía Nam dãy núi An Phụ, di tích đình Châu Bộ xã Hiệp Hoà nằm trong quần thể di tích của huyện Kinh Môn, gắn liền với đền An Phụ, nơi tôn thờ An Sinh Vương Trần Liễu, nơi có tượng đài Trần Hưng Đạo (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) đẹp vào loại bậc nhất ở nước ta. Xa  hơn có chùa Nhẫm Dương, ngôi chùa được kiến tạo từ thời Trần, nơi ghi dấu ấn của nhiều triều đại phong kiến; đình Huệ Trì nơi tôn thờ 2 nữ tướng của Hai Bà Trưng là Thiện Nhân và Thiện Khánh,…Tất cả tạo thành một trung tâm sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, điểm dừng chân của nhiều du khách thập phương về chiêm bái.

Ngược dòng lịch sử, vào thời Hùng Vương, vùng đất Hiệp Hoà thuộc bộ Dương Tuyền, thời Hán thuộc quận Giao Chỉ, đến thời Lý - Trần, thuộc lộ Đông Hải. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) phân định bản đồ và lập phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Thời thuộc Pháp, Hiệp Hoà gồm 3 làng: Làng Đước (Đích Sơn), làng Than (An Bộ) và làng Châu (Châu Bộ) thuộc tổng Đích Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ, đến tháng 4 năm 1946 thực hiện chủ trương hợp nhất của huyện 3 làng Đích Sơn, An Bộ, Châu Bộ hợp nhất thành xã Hiệp Hoà, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Xã có 19 dòng họ trong đó dòng họ Đinh được ghi nhận là "tiên công lập ấp". Trong quá trình hình thành và phát triển, các dòng họ chung sống đoàn kết, góp phần xây dựng quê hương giàu mạnh.

Là mảnh đất hình thành khá sớm trong lịch sử, nhân dân Hiệp Hoà cùng với việc lập làng, khai khẩn đất đai đã xây dựng nên nhiều công trình kiến trúc phục vụ nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng. Song, trải qua thời gian và chiến tranh, nhiều công trình đã bị tàn phá và xuống cấp nghiêm trọng. Hiện nay các công trình còn lại là đình Đích Sơn (thôn Đích Sơn) và đình An Bộ (thôn An Bộ), đình Châu Bộ (thôn Châu Bộ). Những di tích đã bị tàn phá, nay được chính quyền và nhân dân địa phương từng bước khôi phục lại.

Đình Châu Bộ mặt tiền quay về hướng Tây Nam, cửa đình nhìn ra sông Phùng Khắc uốn khúc, quanh năm trong mát. Theo dòng lịch sử, đình Châu Bộ gắn bó tự nhiên với thôn từ khi hình thành và trở thành niềm tự hào của nhân dân địa phương. Di tích đã được UBND tỉnh Hải Dương xếp hạng là di tích Lịch sử văn hoá ngày 01 tháng 11 năm 2005 theo Quyết định số 4981/ QĐ - UBND.

Về niên đại ngôi đình đến nay vẫn chưa có tài liệu tin cậy để xác định, theo các cụ già cao tuổi cho biết đình xưa có kiến trúc chữ Nhị (=), gồm 5 gian đại bái và 3 gian hậu cung. Năm 1947 giặc Pháp càn qua làng, đã bơm xăng đốt phá làm cho 3 gian hậu cung bị cháy và hư hỏng nặng, chỉ còn lại 5 gian đại bái được giữ nguyên cho đến ngày nay.

Năm 2002, thể theo nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, chính quyền địa phương đã cho khôi phục 3 gian  hậu cung đình trên nền cũ với quy mô nhỏ, phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng chung. Công trình kiến trúc hiện nay kiểu chữ  Nhị (=) gồm 5 gian đại bái và 3 gian hậu cung, chất liệu gỗ tứ thiết còn khá chắc chắn, mang đậm nét kiến trúc thời Nguyễn.

Phần trang trí điêu khắc nghệ thuật của di tích được tập trung thể hiện  tại hệ thống bờ nóc và đặc biệt là 10 bức cốn gỗ tại gian giữa toà đại bái. Thông qua bàn tay tài hoa, khéo léo của các hiệp thợ ngoã, mộc phối hợp. Thợ ngoã đắp vẽ "lưỡng long chầu nguyệt". Thợ mộc chạm khắc cốn "ngự long huý thuỷ", "tùng trúc hoá long", "tứ linh", "tứ quý" mềm mại, sống động. Các "linh vật" trong nhiều tư thế khác nhau, song cùng chầu về gian thờ chính đã tạo nên một không gian thờ tự đặc biệt linh thiêng, thu hút lòng người.

Mặc dù trải qua nhiều biến động của tự nhiên - xã hội và được trùng tu, tôn tạo ở những giai đoạn sau này, song di tích đình Châu Bộ vẫn giữ  được vẻ đẹp của một ngôi đình cổ và là một trong những di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của thời Nguyễn trên mảnh đất xứ Đông.

Căn cứ vào bia Thần phả, lưu giữ tại di tích do Hàn Lâm viện Đông Các Đại học sĩ (thần) Nguyễn Bính phụng soạn vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), Quản giám bách thần tri điện hùng lĩnh thiếu khanh (thần) Nguyễn Hiền tuân theo bản chính phụng sao vào năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737), Hoàng triều Tự Đức thứ 17 (1864) cho biết, đình Châu Bộ, xã Hiệp Hoà, huyện Kinh Môn là nơi tôn thờ ba vị Thành hoàng là Bà Phạm Thị Ngọc và hai con là Đặng Tuấn và Đặng Võ là những người đã có công giúp vua Trần dẹp giặc và là người mở trường dạy học cho các cư dân trang Châu Bộ cuối thế kỷ XIII.

Thần phả đình Châu Bộ có ghi: "... bấy giờ, thế truyền tại trấn Thanh Hoa, phủ Thiệu Thiên, huyện An Định, trang Đặng Xá có một danh gia lệnh tộc, họ Đặng, tên huý là Tùng, lấy vợ tại bản trang tên là Phạm Thị Ngọc, thuộc dòng dõi nhà nho, chuyên làm nghề dạy học. Ông bà ăn ở với nhau hoà thuận, thảo hiền cho đến khi bà Ngọc 40 tuổi mới sinh một lần được hai con trai, bèn đặt tên cho con ra trước là Đặng Võ, em là Đặng Tuấn. Năm đó chẳng may thân phụ bị bệnh qua đời (tức ngày  mồmg 3 tháng 7), để lại cho bà Ngọc 2 con trai còn thơ dại. Ngọc Nương nuôi dậy hai con học tập, đến khi hai con 15 tuổi, học tập tinh thông, văn chương quán triệt. Nhưng than ôi! Gia đình nghèo khó, không kế sinh nhai. Ba mẹ con liền hành trình đi nơi khác, qua bốn ngày đến trang Châu Bộ, huyện Hiệp Sơn, tỉnh Hải Dương. Mấy mẹ con thấy nơi đây sơn thuỷ hữu tình, liền ở lại bản trang (tức trang Châu Bộ). Năm đó bỗng có giặc Nguyên đến xâm chiếm, vua nghe tin lập tức dẫn quân đến đánh. Qua địa giới trang Châu Bộ, huyện Hiệp Sơn, thấy ba mẹ con dung mạo đường hoàng, khác hẳn người thường, vua liền cho vời đến hỏi: "Nay quốc gia của Trẫm có giặc xâm chiếm, các người có tài giúp Trẫm đánh giặc cứu nước". Anh em Võ công và Tuấn công đều tâu: "Anh em chúng thần vẫn còn mẹ già không sự nghiệp, chỉ lấy việc mở trường dậy học làm đẹp lòng cha đã khuất". Vua lại bảo Nhị công "Nay quốc gia có sự, nhị công giúp nước dẹp yên được giặc tất sẽ được phong thêm tước vị". Nhị công thấy Vua nói vậy liền cùng thừa lệnh xin trợ giúp Thánh Giá (Vua) xuất binh dẹp giặc. Vâng mệnh chiếu nhà Vua, Nhị công cùng từ mẫu đã chiêu mộ được 7 người là những cư dân của trang Châu Bộ làm gia tướng cho mình, là các ông: Phạm Công Toàn, Đỗ Công Khánh, Đào Công Nhân, Đỗ Công Trứ, Nguyễn Công Đinh, Lê Công Bản và Vũ Công Đồng. Nhờ sắc đẹp của bà Phạm Thị Ngọc và tài thao lược của 2 con nên đã đánh nhiều trận thắng lớn, bắt được nhiều tù binh.

Nơi biên cương đã trở lại thanh bình, ngày khải hoàn, vua liền mở yến chúc mừng, khao thưởng quân sĩ và lập tức phong chức cho Thái bà là "Mẫu nghi thiên hạ, đoan mục Hoàng Thái Hậu".Đệ Nhất Công làm "Tả dực Đại Tướng quân" kiêm "Tham tán mưu sự uy linh Đại Vương". Đệ Nhị Công làm "Hữu dực Đại Tướng quân, quyền trưởng các giang đầu uy linh Đại Vương". Các gia thần đều được ban thưởng, phong làm "Thái Thú".

Thái bà cùng 2 con Đặng Võ và Đặng Tuấn sau khi nhận phong của vua ban cùng tâu xin được về trang Châu Bộ để mở tiệc mời làng. Được một tháng, Thái bà nhàn du cảnh chùa (tức chùa Tôn Linh - chùa Tông ngày nay) hôm đó, tự nhiên trời đất tối sầm, mưa gió nổi lên dữ dội, Thái bà tự nhiên hoá ngay tại chùa (tức ngày 10 tháng Giêng). Nhị công nghe tin thân mẫu mất, cùng đến bản chùa, vừa đến khu địa giới của bản chùa cũng tự nhiên hoá (tức ngày 12 tháng 3). Nhân dân ra xem đã thấy thổ trùng phong thành ngôi mộ lớn. Mọi người cho là lạ, (sau tục gọi là đống Mả Ông (tức đống Ông)) liền hành biểu tâu lên vua. Vua nghe tin liền lệnh cho sứ thần đến bản trang để hành lễ điếu tại gia đường trường học, hương hoả phụng thờ. Lại ban cho nhân dân tiền chung 300 quan để phụng thờ mãi mãi".

Hằng năm cứ vào độ xuân về, nhằm ngày 12 tháng Giêng nhân dân Châu Bộ lại nô nức tổ chức lễ hội truyền thống tưởng niệm ngày mất của Đặng Võ và Đặng Tuấn. Theo điển lệ, từ chiều ngày 12 tháng Giêng, đông đảo các tầng lớp nhân dân ra đình tổ chức rước long đình. Lực lượng tham gia rước gồm nam thanh, nữ tú khoẻ mạnh phải "chay tịnh" từ nhiều ngày trước. Lễ rước xuất phát từ đình, đi theo hướng Tây vào trong làng và đi xung quang làng về hướng Đông rồi quay lại đình.

Khi đoàn rước về tới đình làng, việc tế lễ diễn ra rất long trọng và do các cụ ông trực tiếp thực hiện, lễ hội kết thúc vào ngày 13 tháng Giêng. Tuy nhiên, lễ hội chính của đình Châu Bộ, thu hút đông đảo nhân dân tham gia lại là lễ giã đám vào ngày 13 tháng Giêng, đó là tục chạy cờ để tiễn 7 vị gia tướng của 3 mẹ con là: Phạm Công Toàn, Đỗ Công Khánh, Đào Công Nhân, Đặng Công Trứ, Nguyễn Công Đinh, Lê Công Bản, Vũ Công Đồng. Trong làng cử ra 7 thanh niên mặc áo lậu, thắt  lưng bối hậu chạy về 7 điểm, đó là: về Đình; về cửa miếu Tông (cách đình khoảng 300m); về đống Bính (cách đình khoảng 500m); về đống Lỗ Vàng (cách đình khoảng 800m); Về Ao nhà Mát (cách đình khoảng 500m); về đống Thổ Công (cách đình khoảng 1km); về đống Bồ Đê (cách đình khoảng 1km). Điểm xuất phát từ nghè, ai chạy nhanh nhất đến đình thì cắm cờ trước, còn lại phải chạy tiếp về các đống trên để cắm cho được lá cờ của mình. Đây là một hoạt động tín ngưỡng mang dấu ấn tượng trưng, nhằm khắc hoạ lại hình ảnh mẹ con bà Phạm Thị Ngọc khi chiêu mộ quân sĩ, tuyển chọn gia thần, muốn thử tài thao lược, trí thông minh các gia tướng của mình. Sau đó là tục thả thuyền rồng, cũng mang nét tượng trưng cho phương tiện xuất phát từ nơi đây đến nơi biên ải của 2 ông và cũng nhờ vào những chiến thuyền này mà đưa 3 mẹ con bà Phạm Thị Ngọc trở lại với cư dân của trang Châu Bộ. Tục lệ này sau vẫn diễn ra. Đây là một trong nhưng lễ hội hết sức độc đáo, thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân trong làng và các vùng lân cận tham gia, vì người ta cho rằng đó là lúc con người như được tiếp xúc với thần linh, tự hào về quá khứ của mình, cân bằng trong tâm linh, bản thân như được hoà nhập vào cái vô cùng cao cả của trời đất.

Trong cuộc sống thường nhật, người dân nơi đây từ lâu đã hình thành phong tục kiêng tên "huý", điều đó thể hiện sự biết ơn, lòng tôn kính đối với ba vị Thành hoàng làng.

Hiện nay di tích còn lưu giữ được một số cổ vật có giá trị như: Hệ thống ngai thờ, bài vị (03), đại tự, câu đối, bát bửu, nhang án mang đậm dấu ấn nghệ thuật Nguyễn; 2 tấm bia thế kỷ XIX trong đó có một bia thần phả ghi lại hành trạng, công lao của các vị Thành hoàng. Tất cả đồ thờ tự được bài trí xắp xếp cân đối trang trọng trong ánh sáng của hương nến, đã tạo cho di tích một không gian thờ tự linh thiêng, huyền diệu.

Với truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", tôn vinh những người có công với nước, các thế hệ nhân dân thôn Châu Bộ, xã  Hiệp Hoà đã tự nguyện đóng góp nhiều công sức, tiền của để trùng tu, tôn tạo di tích. Di tích đình Châu Bộ không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân địa phương, mà còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho cán bộ và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Nguồn:http://dulichvn.org.vn

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Đình Ngọc Động huyện Duy Tiên, Hà Nam thờ Trấn Quốc Đại vương thời Hùng Vương VI

ĐÌNH NGỌC ĐỘNG



1.    Tên di tích: Đình Ngọc Động
2.    Loại công trình:  Kiến trúc lịch sử văn hoá
3.    Loại di tích: Di tích cấp quốc gia
4.    Quyết định: Được công nhận di tích theo quyết định số: 310/QĐ/BT ngày 13 tháng 2 năm 1996.
5.    Địa chỉ di tích: Thôn Ngọc Động – xã Hoàng Đông – huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam.
6.    Tóm lược thông tin về di tích 
        Đình Ngọc Động xã Hoàng Đông huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam nguyên thờ Trấn Quốc Đại Vương thời Hùng Vương. Ngài văn võ toàn tài, có công phá giặc hộ quốc bảo dân được thờ làm phúc thần muôn đời ngưỡng mộ.
       Vốn xưa vào thời Hùng Vương thứ 6 là Huy Vương. Tại Nghệ An có ông Phạm Hiên và vợ là Hoàng Thị Việt gia cảnh xung túc chăm làm việc thiện xong hiếm muộn đường con cái, vợ chồng ông không nản càng ra tâm làm phúc để cầu nguyện sớm có người nối dõi. Trời chẳng phụ lòng người, không lâu sau bà Hoàng Thị có mang. Trải qua 12 tháng đến ngày mồng 10 tháng 8 năm Đinh Sửu sinh hạ một trai khôi ngô tuấn tú, ông bà quý lắm đặt tên là Phạm Phúc. Phạm Phúc lớn lên học một biết mười, tài năng hơn người, trí tuệ siêu phàm, văn võ toàn tài, thông minh xuất chúng, mọi người đều cho là thần đồng giáng thế. Năm Phạm Phúc 18 tuổi thì cha mẹ đều qua đời. Phạm Phúc vô cùng thương xót tìm đất an táng cư tang nghiêm cẩn.
      Bấy giờ Phạm Phúc có người cậu ruột tên là Hoàng Độ, là Lạc Hầu cai quản quận Huyện Vũ đóng ở kinh, bèn tìm đến lương tựa. Khi ấy Cao Miên đem 20 vạn quân vào xâm phạm bờ cõi, Hùng Huy Vương cất Hoàng Độ làm nguyên soái, đốc 10 vạn quân đi đánh giặc Cao Miên. Hoàng Độ tiến cử cháu ruột là Phạm Phúc làm tiên phong cùng đi đánh giặc. Hai ông tiến quân vào đạo Sơn Nam, đánh lớn 1 trận, Phạm Phúc tả xung hữu đột giữa chốn ba quân như vào chỗ không có người, quân địch thua to tháo chạy về nước. Hai ông dâng biểu tâu công thắng  trận . Hùng Huy Vương xuống chiếu vời về triều, phong Hoàng Độ làm Sơn Nam bộ chúa. Phạm Phúc làm trưởng quản ở Duy Tân. Ông thấy đất Động Linh núi sông uốn khúc, rồng châu hổ ấp, hoàng xà uốn khúc, chiêng trống tượng hình, bưng dựng một hành dinh để nghỉ ngơi và nắm giữ quân quyền. Tại đây ông nghĩ việc khuyến khích nông trang, mở nghề thủ công buôn bán. Ông lại tâu xin Vua miễn các sai dịch cho dân, cấp thêm vàng mua ao ruộng làm công dụng hương hoả cho làng. Qua vài tháng, Hoàng Công lâm bệnh qua đời, ông dâng biểu tấu về triều đình Hùng Huy Vương phong Hoàng Độ là Bảo Quốc Đại Vương, triệu ông Phạm Phúc về trấn thủ đạo Sơn Nam.
       Mới qua vài năm, ở phương bắc có giặc Ân do Tương Thạch Linh cất quân sang  xâm lược nước ta, thanh thế rất lớn.  Hùng Huy Vương sai  sứ thần  triệu Phạm Phúc về triều. Ông vâng lệnh chọn 25 người ở trang Động Linh làm tâm phúc rồi tiến quân đánh giặc, hơn 20 trận không  phân thắng bại. Hùng Huy Vương bèn lập đàn tế các trời đất, được Long Quân hiện hình, chỉ cách tìm người tài giữ nước. Hùng Huy Vương sai sứ giả đi tìm, đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh thì tìm được Thiên Vương. Thiên Vương hét lên một tiếng cao lớn dị thường cưỡi ngựa sắt phi như bay tới Châu Sơn đánh lớn một trận, chém chết tướng Thạch Linh. Đang đánh giặc búa sắt bị gãy, Thiên Vương đành nhổ tre để đánh giặc tiếp, giặc thua chạy tan tác. Khi ngựa sắt về tới núi Ninh Sóc thì Thiên Vương bỏ áo giáp cưỡi ngựa bay lên trời. Tàn quân của giặc còn lại bị ông Phạm Phúc đuổi giết ra tận bờ biển mới thu quân về. Khi về đến Đắng Châu thì ông Phạm Phúc cũng hoá luôn, bấy giờ là ngày mồng 10 tháng 11. Hùng Huy Vương tôn phong Thiên Vương là Phù Đổng Thiên Vương, cho lập đền thờ phụng. Lại phong cho ông Phạm Phúc là Trấn Quốc Đại Vương, cho nhân dân bốn khu trang Động Linh lập miếu trên nơi hành dinh năm xưa thờ tự
      Đến thời Lý, vua Lê Thái Tổ đi đánh chiếm Thành, thuyền qua Đắng Châu, gặp phải mưa to gió lớn không đi được. Đêm ấy, Trấn Quốc Đại Vương hiển linh xin đi theo đánh giặc. Sáng hôm sau trời quang mây tạnh, thuyền vua thẳng đến đất Chiêm Thành, đánh được một trận lớn thu được toàn thắng. Thái Tổ nghĩ đến ơn thần bèn lập chùa bên Hồ Tây bốn mùa cúng tế.
      Trải qua các triều đều có sắc phong ghi vào tự điển 4 mùa tế lễ.
       Nay kính cẩn tuân theo Ngọc Phả, chọn ngày tốt thợ khéo đế vào bia đá, nêu rõ công lao của Ngài lưu truyền mãi về sau.
Phụ chép :
       Đình Ngọc Động phối thờ trưng triều Sơn Tinh Công Chúa tôn thần, bà vốn là danh tướng có công phù giúp Hai Bà Trưng đánh đuổi Tô Địch và Trấn triều diện suý phu nhân Thuỷ Tinh công chúa là vợ quan Nội hầu Phạm Ngũ Lão, Người đã lập nhiều kỳ tích trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Ở thời Trần, hai bà đều có công bảo quốc hộ dân, cứu khốn phò nguy, được nhân dân trong vùng tôn thờ, hương hoả bất tuyệt.

Nguồn: ditichlichsuquocgia.violet.vn/

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Đình An Cố (Theo Từ điển Thái Bình)

Đình th. An Cố, x. Thụy An, h. Thái Thụy. Dưới triều Lê Tương Dực (1509 - 1516), Cửa trùng đài xây dở dang thì bị Nguyễn Hoằng Dụ phá. Bấy giờ có Lỵ quốc công, TS. Nguyễn Thế Ân, quê gốc làng, con nuôi họ Nguyễn l. Mộ Trạch, h. Đường An (Hải Dương), xin vua Mạc ban cho ngôi điện còn đang thi công, chưa lắp dựng đem chia cho l. An Cố 2 vì gian trung tâm, 2 vì hồi; chia cho dân Mộ Trạch 4 vì còn lại. Dân An Cố gia công thêm 4 vì kèo gian cạnh để xây tòa tiền tế, lại làm thêm 3 gian hậu cung... Tương truyền, đình khánh thành vào niên hiệu Minh Đức (1530 - 1540). Sang đời Lê Chính Hòa, năm Qúy Hợi (1683), được đại tu. Ngôi đình hiện tại vẫn giữ nguyên phong cách ấy. Năm Thành Thái thứ 8 (1896), xây thêm 5 gian tả vu, 5 gian hữu vu (công trình này bị hạ giải vào đầu thập kỷ 70, tk. XX).
Đình hướng tây, tọa lạc trên khuôn viên rộng 2.000m 2 . Tòa tiền tế 7 gian. Hậu cung đình 3 gian. Thờ Thành hoàng Phạm Hải. Trước 1975, được liệt vào một trong 18 di tích do Nhà nước bao cấp tu bổ, tôn tạo. Được xếp hạng DTKTNT cấp quốc gia (1962)

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Phát hiện di tích thờ tướng quân Phạm Cự Lạng ở huyện Phú Bình và Phổ Yên (Thái Nguyên)

PHÁT HIỆN DI TÍCH THỜ
TƯỚNG QUÂN PHẠM CỰ LẠNG Ở HUYỆN PHÚ BÌNH
VÀ PHỔ YÊN (THÁI NGUYÊN)
NGUYỄN ĐÌNH HƯNG
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên
Qua cuộc khảo sát và nghiên cứu gần đây, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 4 di tích lịch sử văn hóa thờ danh nhân Phạm Cự Lạng. Đó là các di tích: đình Đoài thuộc xóm Ngói, xã Hà Châu, huyện Phú Bình, đình Hoàng Đàm, xóm Hoàng Đàm, xã Nam Tiến, đình Thượng Giã, xã Thuận Thành, nghè thôn Nam Đô, làng Đông Cao, huyện Phổ Yên. Thực tế, trải qua 2 cuộc chiến tranh kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các di tích bị tàn phá, song vẫn còn lưu giữ được tư liệu Hán Nôm quý. Đây là những di tích lịch sử văn hóa đã được nhân dân lập nên từ xưa để thờ cúng và truyền lại cho thế hệ sau. Trong số 4 di tích nói trên đều có thần tích và sắc phong. Đặc biệt như đình Đoài còn tới 17 sắc phong, 1 thần tích, đình Thượng Giã có tới 31 đạo sắc phong, 1 thần tích, đình Hoàng Đàm có 5 sắc phong, 1 thần tích và nghè Nam Đô có 8 sắc phong, 1 thần tích.
Theo cuốn Thư mục thần sắc, thần tích do Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam - Hà Nội (1995) đang lưu trữ có chép:
“số 11962, Đoài (thôn), làng Hà Châu, tổng Hà Châu, phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên - Thái Nguyên, 1938 - 4 tr, 62 trang chữ Hán, 5 đạo sắc phong, 5 danh mục đạo sắc phong, 1 thần tích.
7 nhân thần: Thiều Dung, Cô Xuân, Đức Ông Cột, Cao Sơn, Diên Bình, Quý Minh, Khuông Quốc”.
Q4/0 18/XV, 6.
“số 11926, Thượng Giã (làng), tổng Thượng Giã, phủ Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên - Thái Nguyên, 1938 - 7 tr., 69 tr: 31 đạo sắc phong 1 thần tích.
6 nhân thần: Cao Sơn, Hoành Dũng Kháng Quốc, Hồng Thánh, Tam Giang, Lan Nhi, Lã Sậu.
1 thiên thần: Tả Phụ Minh Thiên.
Q 4/0 18/XV, 24.
“số 11913, Hoàng Đàm (làng), tổng Hoàng Đàm phủ Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên -1938 - 6 trang, 39 tr, 39 tr. chữ Hán;
6 nhân thần: Trương Hống, Trương Hát, Quý Minh, Từ Nhân, Phạm Cự Lạng, Chu Đại Liệu.
Q 4/0 18/XV, 3.
“số 11942, thôn Nam Đô (thôn), làng Đông Cao, tổng Tiểu Lễ, phủ Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên - Thái Nguyên, 1938 - 3 trang, 71 tr chữ Hán, 2 thần tích.
3 nhân thần: Quý Minh, Tam Giang, Duyên Bình.
Q 4/0 18/XV, 11
Qua nghiên cứu bản thần tích của Nghè Nam Đô, chúng tôi phát hiện ra trong nội dung bản thần tích này cho thấy ở di tích còn thờ các vị thần là: Cao Sơn, Phạm Cự Lạng và Dương Tự Minh nữa.
Khảo sát di tích, nghiên cứu các thần tích và sắc phong của đình Đoài (xã Hà Châu), trong số 17 đạo sắc phong còn khá nguyên vẹn được các cụ cất giữ rất cẩn thận trong ống quyển, đã qua trên một thế kỷ nhưng giấy vẫn còn tốt, chữ sắc nét, rõ ràng, có 1 đạo sắc phong cổ nhất có nội dung bản như sau:
“Sắc Bắc Ninh tỉnh Hợp Hòa huyện Hà Châu xã tòng tiền phụng sự: An nghĩa, Chiêu linh, Hiển liệt, Chiêu trung, Nhu tiết, Trác vĩ, Tam Giang, Khước địch, Thượng đẳng thần, hiệu Đôn tĩnh, Hùng tuấn, Trác vĩ, Cao Sơn, Thượng đẳng thần.
Thanh lãng cao diệu địch cát tuấn tĩnh, Quý Minh thượng đẳng thần.
Cương kiên Trung kiêu Địch quả Trang vũ Quang ý Khuông quốc, Trung đẳng thần.
Tiết kinh ban cấp: sắc phong chuẩn kỳ phụng sự Tự Đức tam thập nhất niên chính trực trẫm ngũ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển, khâm tai !
Tự Đức tam thập tam niên thập nhất nguyệt nhị thập tứ nhật”.
Dịch nghĩa: Sắc ban cho xã Hà Châu, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh từ trước tới nay phụng thờ các vị thần:
- An nghĩa, chiêu linh, hiển liệt, nhu tiết, trác vĩ.
Các vị thần là: Tam Giang, Khước địch, Thượng đẳng thần
- Đôn tĩnh, hùng tuấn, trác vĩ, Cao Sơn, Thượng đẳng thần
- Thanh lãng, Cao diệu, Địch cát, Tuấn tĩnh, Quý Minh Thượng đẳng thần.
- Cương kiên Trung kiêu Địch quả Trang vũ Quang ý Khuông quốc, Trung đẳng thần (1).
Từng được các triều ban cấp sắc phong, chuẩn cho thờ phụng. Niên hiệu Tự Đức thứ 31 (1878) đúng dịp đại lễ mừng thọ trẫm ở tuổi 50, đã ban chiếu quý mở rộng ân điển, trong lễ có thăng thêm cấp bậc, đặc biệt chuẩn cho thờ phụng như trước đây, để ghi nhớ ngày đại lễ của quốc gia và nối tiếp điển thờ. Hãy kính theo.
Ngày 24 tháng 11 niên hiệu Tự Đức năm thứ 33 (1881)(2).
Tham gia phiên âm, dịch nghĩa bản sắc phong này là các cụ Trần Văn Đật (86 tuổi), cụ Tạ Đình Phúc (73 tuổi), cụ Phạm Bá Đông (68 tuổi) ở địa phương.
Bản thần tích, thần sắc của đình Đoài được chép trên giấy dó kích thước 16 x 23cm, cuốn sách bị rách ở góc phải nhưng vẫn còn đọc được, chữ viết theo thể “chữ chân”. Cuốn sách này không ghi niên đại nhưng dựa vào nét chữ khi đối chiếu với nét chữ trong 2 cuốn văn tế của đình Đoài thì được biết có thể chúng được soạn vào năm Khải Định thứ 2 (1918). Nội dung chia làm 2 phần: phần đầu chép tóm tắt sự tích các vị thần được thờ tại đình trong đó có Phạm Cự Lạng (thế kỷ X) và Dương Tự Minh (thế kỷ XII), phần cuối của sách chép lại các bản sắc phong.
Cũng cần nói thêm đình Đoài còn có tên gọi là đình Nam Định. Tên này có ý nghĩa như thế nào cũng còn là dấu hỏi với các nhà nghiên cứu? Trong bản sắc phong được dịch nghĩa nói trên gọi tướng quân Phạm Cự Lạng là Khuông Quốc (tên hiệu). Chúng tôi đã dựa vào nội dung các bản thần tích, thần sắc của các di tích mà biết được tên hiệu của Phạm Cự Lạng là Khuông qQuốc, Hồng thánh, ví dụ như: bản TTTS làng Hoàng Đàm, tổng Hoàng Đàm, thôn Nam Đô, làng Đông Cao, tổng Tiểu Lễ, phủ Phổ Yên gọi tên thần là Phạm Cự Lạng, còn bản thần tích, thần sắc (TTTS) làng Thượng Giã, (Phổ Yên) gọi tên thần là Hồng Thánh, trong khi bản TTTS đình Đoài, xã Hà Châu, phủ Phú Bình lại gọi là Khuông Quốc.
Thần tích viết về Phạm Cự Lạng như sau:
Phạm Cự Lạng sinh ngày 20 tháng 11 năm 944, người làng Trà Hương, Nam Sách, Hải Dương. Ông sinh ra trong một gia đình võ quan. Ông nội là Phạm Chiêm, giữ chức Đông Giáp tướng quân đời Ngô Quyền. Cha là Phạm Mạn, làm Tham chính Đô đốc đời Ngô Nam Tấn vương (Xương Văn), mẹ là Trần Thị Hồng. Ông bà có 8 người con, 5 trai, 3 gái đều hiển đạt.
Ngay từ nhỏ Phạm Cự Lạng đã tỏ rõ tư chất thông minh, có chí lớn, văn võ đều thấu hiểu. Ông thường cùng anh cả là Phạm Hạp đem tiền của chiêu dụ mọi người, mua ngựa luyện quân. Khi Đinh Bộ Lĩnh dấy binh dẹp loạn 12 sứ quân, Phạm Cự Lạng cùng Phạm Hạp đem hơn 2000 người, ngựa từ quê đến Hoa Lư phò giúp Đinh Bộ Lĩnh. Phạm Cự Lạng được phong chức Phòng Ngự sứ tiên phong Tướng quân ra giữ biên ải Đại Ác.
Năm Mậu Thìn (968), dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tức là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Phạm Cự Lạng được phong Tâm phúc tướng quân, coi việc Thị vệ - Quan thân cận của nhà vua.
Năm 979, vua Đinh và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại, Đinh Toàn mới 6 tuổi được lập lên ngôi vua. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp (anh trai Phạm Cự Lạng) thấy uy quyền của Phó vương Lê Hoàn quá lớn bèn khởi binh chống Lê Hoàn nhưng đã bị Lê Hoàn dẹp tan. Phạm Hạp bị Lê Hoàn xử tử. Tuy vậy, Phạm Cự Lạng vẫn được Lê Hoàn tin dùng làm tướng dưới quyền.
Năm sau, nhà Tống nhân lúc nước Đại Cồ Việt rối ren, liền nảy ý đồ đánh chiếm, liền sai quan trấn thủ Ung Châu là Hầu Nhân Bảo cùng các tướng Tôn Toàn Hưng, Vương Soạn, Triệu Phụng Huân đem quân theo hai đường thuỷ bộ vào xâm lược. Tình thế vô cùng nguy cấp. Tháng 7 năm ấy, Thái hậu Dương Vân Nga phong Phạm Cự Lạng làm Đại tướng tiên phong đem quân đi chống giặc. Trước lúc tiến quân, Phạm Cự Lạng hội quân sỹ ở cửa Đào Lâm (chưa rõ nay thuộc địa phận tỉnh nào), nói rằng: “Bây giờ quân giặc sắp vào bờ cõi mà chúa thượng hãy còn nhỏ tuổi, lấy ai mà thưởng phạt cho chúng ta… chẳng bằng nay ta tôn Thập đạo tướng quân lên ngôi thiên tử đã, rồi sau sẽ xuất quân”. Quân sỹ nghe nói đều hô vang vạn tuế.
Sau chiến thắng chống quân Tống, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Thiên Phúc (Canh Thìn - 980), Phạm Cự Lạng được phong làm Thái úy.
Cuối mùa xuân năm Tân Tỵ (981), nhà Tống lại đem quân sang xâm lược, mọi mũi tiến quân của giặc đều bị quân Đại Cồ Việt phá tan, tướng giặc là Hầu Nhân Bảo chết trận, quá nửa quân Tống bị tiêu diệt, buộc vua Tống xuống chiếu lui quân.
Năm Nhâm Ngọ (982), Phạm Cự Lạng phụng mệnh vua đi đánh Chiêm Thành để rửa hận việc vua Chiêm vô cớ bắt sứ giả Đại Cồ Việt, trận này quân ta đại thắng.
Mùa thu năm Quý Mùi (983), Phạm Cự Lạng được vua tin dùng trao trọng trách đi khai sông mới từ Đồng Cổ đến Bà Hòa (tức từ Đan Nê, huyện Yên Định đến Đồng Hòa, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ngày nay). Trên đắp thành đường lớn, dưới khai thành sông lớn để lưu thông thuỷ bộ. Cũng trong năm này, Phạm Cự Lạng còn chỉ huy đào cảng Đa Cái ở Hoan Châu (tức Hương Cái, Hưng Nguyên, Nghệ An ngày nay).
Ngày12 tháng 9 năm Giáp Thân (984), Phạm Cự Lạng mắc bệnh sốt rét rồi mất tại Đồng Cổ, nơi ông đang nhậm chức. Nhà vua thương tiếc sai người đem di hài Phạm Cự Lạng về kinh đô Thăng Long, an táng tại phía nam Bồ Sơn. Hưởng thọ 41 tuổi.
Ghi nhớ công ơn của Phạm Cự Lạng ở Đồng Cổ và Đa Cái nhân dân lập đền thờ ông (hiện nay vẫn còn). Tại kinh thành Thăng Long, đời vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) giao cho Bộ Lễ soạn sắc, sắc phong cho Phạm Cự Lạng làm: “Hoành Thánh Đại vương” chuyên xét việc hình ngục, thờ tại đền Ngự sử (nay là đình Lương Sử thuộc phường Văn miếu - Quốc tử giám - Hà Nội). Tại xã Hưng Lộc, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định) cũng có đền thờ Phạm Cự Lạng ghi lại sự tích tương tự như đình thờ Lương Sử.
Qua nghiên cứu các sắc phong và thần tích(4) còn lưu giữ được ở đình Đoài, xã Hà Châu (Phú Bình), đình Hoàng Đàm và đình Thượng Giã (Phổ Yên) thì trong các bản thần tích đều gọi tên ông là Phạm Cự Lạng, tỏ ý tôn trọng (không gọi tên tục của ông) và trong sắc phong gọi một cách trân trọng là Hồng thánh Khuông quốc Trung vũ Tá trị Đại vương, tên hiệu này được truyền từ thời Lý Thái Tông cho tới ngày nay.
Ngoài các di tích thuộc địa bàn các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nội và Nam Định (không biết ở Hải Dương quê ông có đền thờ ông không?) thì tỉnh Thái Nguyên có 4 di tích thờ Phạm Cự Lạng đã được nói ở trên. Trong số đó di tích tiêu biểu là đình Đoài còn lưu giữ được sắc phong, thần tích và bài vị thờ ông. Bản Sắc phong ở đình Đoài được vua Tự Đức năm thứ 33 (1881) ban phong, nguyên văn sắc phong: “Cương kiên, Trung kiêu, Địch quả, Trang vũ, Quang ý, Khuông quốc, Trung đẳng thần”. Như vậy, ông là một trong những nhân thần thuộc hàng Trung đẳng thần được nhân dân thờ phụng.
Qua việc phát hiện các tài liệu Hán Nôm tại các di tích nói trên cho biết thêm về 4 nơi thờ Phạm Cự Lạng. Những tư liệu Hán Nôm mới phát hiện này là những tư liệu bổ sung vào kho tàng các tư liệu viết về Phạm Cự Lạng một nhân vật lịch sử lớn, người đã có công với dân, với nước ở thế kỷ thứ X.
Chú thích:
(1) Tức Phạm Cự Lượng.
(2) Tham gia phiên âm, dịch nghĩa bản sắc phong này là các cụ Trần Văn Đật (86 tuổi), cụ Tạ Đình Phúc (73 tuổi), cụ Phạm Bá Đông (68 tuổi) ở địa phương.
(3) Thư mục thần sắc, thần tích tỉnh Thái Nguyên tr.1178, mục 11913, 11926 ( Hoàng Đàm tổng và Thượng Giã làng, phủ Phổ Yên), tr.1183, mục 11962 (Đoài thôn, làng Hà Châu, phủ Phú Bình) Viện Thông tin Khoa học Xã hội Việt Nam, H. 1995.
Đại Việt sử ký toàn thư (kỷ nhà Đinh, kỷ nhà Lý), tập I, Nxb. KHXH, H. 1998.
(4) Xem thêm: thần tích 2 xã Hoàng Đàm và Thượng Dã, phủ Phổ Yên, bản viết chữ Hán xen Nôm, trong đó có chép lại những sắc phong cho Phạm Cự Lượng. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, sách ký hiệu AE.A18/1 và AE.A18/3.
Sưu tập 17 sắc phong đình Đoài, xóm Ngói, xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.455-460

Nguyễn Đình Hưng
Nguồn tin: Viện Hán Nôm