Cội nguồn họ Phạm: Danh nhân khác
Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh nhân khác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh nhân khác. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

Tây từ làng Đồng Di, một di tích cổ quý hiếm

Tây từ làng Đồng Di, thờ ngài Đệ nhất khai canh, Triệu cơ Tây thổ của làng là Nội Tán Vân Hiên Hầu Phạm Quang Hựu. Nhân vật lịch sử này có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn Phúc Lan mở mang bờ cõi.
Hương phổ Đồng Di chép rằng, thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Phạm Quang Hựu cùng với người em trai theo cha là ngài ký lục Phạm Quang Đồng, theo chủ trương của nhà chúa, về vùng phía đông của làng Dã Lê để khai hoang lập ấp. Lúc bấy giờ có vị tú tài triều Lê là Lê Quang Ngạnh, ngài Đinh Như Khoan (húy Dư), ngài họ Dương (muội húy)… theo phò chúa Nguyễn Hoàng, đã hưởng ứng chủ trương di dân, khai hoang lập ấp và các vị ấy đã khai canh Đồng Di Tây. Vùng trũng đang bồi tạo của Đầm Sam dần dần được đắp đập be bờ, đào hói để dẫn nước ngọt vào rửa mặn, trị phèn,… Về sau, thân phụ Phạm Quang Đồng để lại hai anh em ở Đồng Di, sang sống ở làng Mậu Tài và biệt tăm. Hai anh em họ Phạm tiếp tục sống ở Đồng Di, rồi đỗ đạt, riêng Phạm Quang Hựu là bạn đồng học của thế tử Nguyễn Phúc Lan, sớm thành đạt và giữ chức Nội Tán khi Nguyễn Phúc Lan kế thống. Chính Phạm Quang Hựu đã ra sức mở mang làng Đồng Di Tây, còn người em là Chiêu Đức bá Phạm Quang (muội húy) lại khai canh Đồng Di Đông…
Tây từ làng Đồng Di, một di tích cổ quý hiếm
Bàn thờ bên tả với đồ tự khí đơn sơ
Ngài Vân Hiên hầu Phạm Quang Hựu thời trẻ sống ở Đồng Di, trưởng thành làm quan Nội tán trong cung phủ Công Thượng vương Nguyễn Phúc Lan nhưng khi mất, con cháu lại táng ngài ở một địa cát thuộc phường Trung An, tổng Diêm Trường, trên một khoảnh đất đúng một mẫu. Địa bạ phủ Thừa Thiên chép: “TRUNG AN khách hộ phường. Đông giáp xã Cao Đôi (tổng Dã Lê), thôn Đông Kiều, có cột đá làm giới. Nam giáp phường Phụ Ổ Tiên Nộn (tổng Dã Lê), có cột đá làm giới. Bắc giáp phường Cao Đôi và sông.” (sđ d, tr. 225). Về sau, con cháu lại cải táng về địa cát ở phường Thủy Cam, tổng Diêm Trường. Thời Thiệu Trị, làng Đồng Di từng huy động 50 người, tay có giáo mác, cuốc, xuổng để vào rừng chạp mộ ngài. Về sau, con cháu xiêu dạt do các cuộc chiến tranh, hầu như mộ ngài đã bị thất lạc.
Tây từ làng Đồng Di, một di tích cổ quý hiếm
Một đoạn văn tế ngài đệ nhất khai canh
Sau khi Vân Hiên hầu qua đời, nhà của ông biến thành từ đường thờ phụng ông, gọi là Tây từ của làng Đồng Di Tây. Vì Vân Hiên hầu là một đại công thần của thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong nên khi ngài qua đời (ngày 14 tháng 10, không rõ năm), chúa Thượng ban một ngai ngự, một cái tán để thiết trị tại nhà thờ của ngài. Đặc biệt ngày huý nhật (13 tháng 10 âm lịch), con cháu làm đơn lên phủ chúa, chúa cấp 300 quan tiền. Cứ mỗi đời chúa về sau thì ngày kỵ lại bớt 50 quan. Tính từ chúa Nguyễn Phúc Lan, đến thời chúa Võ Nguyễn Phúc Chu thì không còn lệ cấp tiền. Do con cháu họ Phạm quá neo đơn, lại nghèo, không còn tiền nhà nước cấp hàng năm, nên không còn khả năng tu sửa Tây từ, công trình này hư hỏng nặng. Làng quyết định kỵ ngài ở đình Đồng Di. Thời Tây Sơn, nhờ quan Hộ quân sứ Đinh Như Đăng xin làng tận suất vi binh để tôn tạo Tây từ đẹp đẽ. Qua thời gian, làng vẫn tiếp tục tu bổ. Tây từ đến nay cũng đã xuống cấp nghiêm trọng, hai chái bị sập, trang trí long phụng bị gãy đỗ, mái ngói dột nát, tường thấm nước làm tăng độ ẩm, đe dọa cấu kiện gỗ bên trong. Do vậy năm nay, làng Đồng Di Tây đang trùng tu lại Tây từ.
Hậu duệ của ngài khai canh hiện ở làng quá ít ỏi, gia phả gốc đã thất lạc. Năm 1982, hai cha con Phạm Quang Chẩn, Phạm Quang Thưởng bằng truyền ức để viết cuốn gia phả được 6 đời, không đầy đủ. Ngay cuốn gia phả năm 1982 cũng bị trôi trong trận lụt năm 1999. May có bà Huỳnh Thị Thương, vợ của Phạm Quang Thưởng tìm được ở ngọn tre… Các án thờ bên trong Tây từ quá sơ sài, án giữa không có bài vị, án tả lại thiết trí 4 bài vị đã bị xóa các dòng chữ Hán, còn án hữu cũng không có bài vị…
Vân Hiền hầu Phạm Quang Hựu là một công thần của triều chúa Nguyễn Đàng Trong. Cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi Đàng Trong thành công thì có sự góp phần không nhỏ của ông. Đặc biệt, ông là vị đệ nhất khai canh làng Đồng Di (Tây), một làng có Văn miếu, nơi sĩ tử bốn phương đến học tập rèn luyện, nhiều người đỗ đại khoa như Lê Quang Đại, Lê Cao Kỷ… nên dân gian một thời truyền tụng: “Học Đồng Di thi An Hòa”… Tây từ đang được làng Đồng Di vận động tôn tạo và đã bắt đầu kế hoạch, là việc làm đáng được ủng hộ của con dân làng Đồng Di. Nên chăng, Hội đồng tộc trưởng thỉnh nguyện chính quyền sở tại giúp làm đơn, hồ sơ gửi cơ quan hữu trách sớm công nhận Tây từ và văn miếu Đồng Di là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Theo Báo Thừa Thiên Huế

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

Phạm Cao Chẩm (1872 - 1918)

Phạm Cao Chẩm sinh năm Nhâm Thân -1872 tại xóm Trại, làng Xuân Phổ, nay thuộc thôn Xuân Phổ Tây, xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

images845427_PCC1.JPG


Phạm Cao Chẩm đỗ tú tài Hán học, nên thường được gọi là Tú Chẩm. Ông là người cùng chí hướng và là bạn tâm giao của các ông tú tài Hán học nổi tiếng ở Quảng Ngãi: Lê Ngung (? – 1916), Trần Kỳ Phong (1872 – 1941), Nguyễn Tuyên…

Những năm 1905 -1906, Phạm Cao chẩm cùng Cử Cẩn (Lê Đình Cẩn), Phạm Cao Đài, Lê Ngung, Bố Khiết (Lê Tựu Khiết),... hưởng ứng phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ, khởi xướng thành lập Duy Tân hội Quảng Ngãi, do Lê Đình Cẩn đứng đầu.

Duy Tân hội Quảng Ngãi phát động mạnh mẽ phong trào cải cách xã hội theo phương châm “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, khơi gợi tình cảm yêu nước, ngấm ngầm nuôi dưỡng ý chí kháng Pháp, thổi luồng gió mới vào phong trào đấu tranh của nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, được giới trí thức và đông đảo nhân dân hưởng ứng nhiệt thành.

Năm 1907, nhóm “Đông Kinh nghĩa thục” hoạt động mạnh ở Hà Nội, gây được tiếng vang trong cả nước, thu hút sự chú ý của giới trí thức ái quốc. Phạm Cao Chẩm cùng Từ Hữu Lập được Duy Tân hội Quảng Ngãi cử ra Hà Nội tiếp xúc và trao đổi với các yếu nhân của Đông Kinh Nghĩa Thục (Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ, Hoàng tăng Bí…) để trao đổi, tìm hiểu và học tập kinh nghiệm, đặc biệt là về lĩnh vực giáo dục cộng đồng và cổ vũ quần chúng. Khi trở về,  ông và Từ Hữu Lập mang theo nhiều tài liệu của Đông Kinh Nghĩa Thục, rồi nghiên cứu và biên soạn lại để in ấn phổ biến, cổ động cho phong trào Duy Tân tỉnh nhà.

Năm 1908, phong trào Kháng thuế - Cự sưu bùng lên mạnh mẽ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và các tỉnh Trung Kỳ. Ở Quảng Ngãi, khi phong trào có dấu hiệu chuyển sang bạo động, các nhà Duy Tân, trong đó có Phạm Cao Chẩm, đã dũng cảm “đứng mũi chịu sào”, trực tiếp hướng dẫn người dân tranh đấu, đồng thời đại diện cho “lục phủ huyện dân” (dân chúng 6 phủ, huyện của tỉnh) đối mặt thương thảo với thực dân và phong kiến tay sai.

Phong trào Kháng thuế - Cự sưu ở Trung Kỳ bị đàn áp đẫm máu. Nguyễn Bá Loan, Lê Khiết, Phạm Mỹ bị xử tử. Trần Kỳ Phong, Nguyễn Sụy (Thuỵ), Nguyễn Đình Quản, Nguyễn Tuyên, Phạm Cao Chẩm... bị đày ra Côn Đảo cùng với các nhà yêu nước Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, trong đó có Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện...

Trong tù, mặc cho bọn cai ngục đàn áp, đày ải, Phạm Cao Chẩm và các bạn tù đồng chí hướng vẫn giữ vững chí khí của người yêu nước. Ông thuộc thế hệ các chiến sĩ đầu tiên biến nhà tù thực dân thành nơi học tập tri thức, rèn luyện dũng khí, hun đúc tình cảm yêu nước, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới với quân thù.
 Nhà thờ họ Phạm ở thôn Xuân Phổ Tây, xã Nghĩa Kỳ, Tư Nghĩa
Nhà thờ họ Phạm ở thôn Xuân Phổ Tây, xã Nghĩa Kỳ, Tư Nghĩa

Năm 1915, được trả tự do, Phạm Cao Chẩm về lại quê nhà và nhanh chóng tham gia vào cuộc vận động chuẩn bị khởi nghĩa Duy Tân do Việt Nam Quang Phục hội khởi xướng. Ông cùng Lê Ngung, Nguyễn Thụy, Phạm Tuân... là những người được giao trách nhiệm tổ chức khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Âm mưu của các nhà yêu nước bị bại lộ, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp. Lê Ngung, Nguyễn Thụy cùng nhiều sĩ phu khác bị xử chém. Phạm Cao Chẩm bị kết án tù chung thân và đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Mồng 4 tết Nguyên đán, năm Mậu Ngọ (1918) Tú Chẩm cùng với Nguyễn Trọng Thường (con trai thủ lĩnh Cần Vương ở Hưng Yên là Nguyễn Thiện Thuật – tức Tán Thuật) lãnh đạo những người tù chung thân nổi dậy cướp đảo. Việc lớn bất thành, hai ông bị giặc hành hạ tàn bạo rồi đem ra xử bắn, vùi xác ở nghĩa địa Hàng Keo (Côn Đảo).

Tháng 7/1988, di hài Phạm Cao Chẩm được chính quyền tỉnh Quảng Ngãi, huyện Tư Nghĩa, Ban liên lạc tù chính trị Quảng Ngãi cùng gia đình đưa về quê nhà, tổ chức cải táng long trọng.

Xuân Phổ là một làng quê trù phú, hiền hoà nằm bên tả ngạn sông Trà Khúc, nổi tiếng với đồng mía nương dâu quanh năm xanh mượt. Họ Phạm là một trong hai dòng tộc khai phá làng Xuân Phổ, có nhiều người tham gia các phong trào yêu nước - kháng Pháp, được rất nhiều nhân sĩ và đồng bào Trung Kỳ nể trọng, như Phạm Cao Đài, Phạm Cao Đàm...

Sau cách mạng Tháng Tám-1945, có một thời gian xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa đổi tên là xã Phạm Cao Chẩm để tỏ lòng tri ân ông. Hiện nay, ở phía tây thành phố Quảng Ngãi cũng đã có một con đường mang tên Phạm Cao Chẩm.

Phạm Cao Chẩm là một nhà yêu nước, hy sinh vì nghĩa cả. Ông cũng là một nhà canh tân giáo dục theo xu hướng Duy Tân ở Quảng Ngãi đầu thế kỷ XX.
Theo: QNĐT
Nguồn tin: Người xứ Quảng

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Đàn Viên ký ức lục của Phạm Văn Thụ

ĐÀN VIÊN KÝ ỨC LỤC

PHẠM ĐỨC DUẬT

Hội văn nghệ Thái Bình

       Đàn viên ký ức lục là tập hồi ký gần một nghìn trang viết tay bằng chữ Nôm củ một tác gia Hán Nôm hồi đầu thế kỷ XX. Ông tên là Phạm Văn Thụ, tự Đàn Viên, hiệu Đông Bạch Phái, người làng Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Năm Thành Thái thứ tư (1892), ông đậu Phó bảng, rồi làm tri huyện các huyện Thư Trì, Thần Khê, Duyên Hà, Phụ Dực, Tri phủ Kiến Xương, Tiên Hưng thuộc Thái Bình. Sau đó ông được thăng Tuần phủ Phúc Yên. Sau vụ Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn bị ám sát trước dinh thự Thái Bình ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Sửu (13-3-1913), Phạm Văn Thụ được thăng Tổng đốc Thái Bình. Tháng 8 – 1923, ông vào Huế làm Thượng thư Bộ Hộ dưới triều Khải Định. Tháng 6 năm 1926, Phạm Văn Thụ về hưu ở quê làng Bạch Sam.

       Khi còn làm quan ông từng viết sách Thái Bình tỉnh thông chí, An Nam sơ học sử lược dịch,và đề tựa, viết lời bạt một số sách như Trung học Việt sử toát yếu, Việt sử tam tự tân ước toàn biên, Quốc triều luật học giản yếu... v.v

       Sau khi hưu quan, ông để thời gian viết bản thảo Đàn Viên ký ức lục này. Tập bản thảo không chỉ viết về tiểu sử cá nhân, gia đình, quê hương tác giả, mà điều quan trọng là nhiều sự kiện chính trị xã hội của địa phương nơi ông làm quan được kể lại với tình cảm cởi mở, chân thành, làm rõ nhiều vấn đề lâu nay còn nghi hoặc.

       Có lẽ rất ít tác gia Hán Nôm hồi đầu thế kỷ trước, có được tiểu sử cụ thể, tỉ mỉ như Phạm Văn Thụ tự thuật về mình trong Đàn Viên ký ức lục. Mở đầu ông viết “Ta sinh năm Bính Dần, ngày 18-5, hoàng hiệu Tự Đức năm thứ 19 (tức dương lịch 30-6-1866). Thuở bé mệnh danh là Phạm Văn Trúc, theo tục phối với tên thân huynh ta cho dễ nhận. Năm 21 tuổi, gặp kỳ Bính Tuất ân khoa, hoàng hiệu Đồng Khánh nguyên niên (1886), chưa kịp tục bộ, đội tên làng là Phạm Văn Viên, ứng thí trúng Tú tài. Cách khoa Mậu Tý (1888) đến khoa Tân Mão (1891), cải chính là Phạm Văn Thụ, thi trúng Cử nhân. Khoa hội Nhâm Thìn (1892) liền trúng Phó bảng. Đương buổi phong trào thay đổi, đúng câu thơ cổ:

Giang sơn phong cảnh còn nguyên đó,

Thành quách nhân dân đã khác rồi.

       Chính khi ta ứng hạch, quán chỉ còn đề theo hạt tân thiết là Đạo Địch Lâm. Khi nộp quyển vào trường lại được gửi về tỉnh Hải Dương cũ. Đến khi thành mệnh Cử nhân, mới cải sáp sang tỉnh Hưng Yên.

Nước non vẫn nước non nhà,

Gò cây in dấu ông bà mở mang.

       Chỉ đáng nực cười trong thời kỳ ngoài hai mươi tuổi mà cái huy hiệu ta, nào Khoá Trúc, nào Tú Viên, nào Cử Thụ, nào Bảng Thụ, thay hình đổi dạng đến đôi ba lần, an nhiên không lấy làm phiền, cũng chưa vượt khỏi ra ngoài không khí tập quán vậy. Ta vốn tính đã đa sầu, đa cảm, cuộc đời lại bán cựu bán tân, có dám đâu thừa nước mắt khóc người xưa, cũng học đòi ăn cơm mới nói chuyện cũ”.

       Khi làm Tri phủ Kiến Xương, ông được chứng kiến vụ tập hợp nghĩa binh của sư chùa Lãng Đông tiến lên thị xã toan đánh chiếm các dinh thự của công sứ Davis và Tuần phủ Vương Hữu Bình. Ông nhận xét “hạt Kiến Xương là nơi phồn kịch, khó cai trị nhất tỉnh Thái Bình. Ta ở mới gần một năm, quan dân yên vui, không điệp đổi làm huyền ca, đương có cái cảm tình điền trù tử đệ. Bỗng đâu kỳ tháng một, năm Đinh Dậu (Thành Thái cửu niên, tức tây lịch 1897) nổi biến Mạc Thiên Binh.

       Hết thẩy toàn kỳ, hại nhất là Hải Dương, Hải Phòng, vì có can đến tính mệnh người Tây. Vậy dân mắc phải một phan kỳ thảm. Phủ, huyện nào hoặc hạt dân tiềm khởi, hoặc Thiên Binh kinh quá, người thì cách, người thì phát vãng. Quan huyện Thuỷ Nguyên Nguyễn Ngọc Kiểm, quan phủ Kiến Thụy Phạm Du, tiến sĩ và bạn hương niên với ta vô tình mà phải tống tử tại đảo Côn Luân. Phúc tướng như cụ Đỗ Văn Tâm, tổng đốc Hải Dương, nửa đêm quan toàn quyền tiếp báo, tức thì đến tỉnh, đòi đem cụ ra pháp trường hành hình”.

       Năm 1913, Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn bị ám sát bằng tạc đạn ở cửa dinh, Phạm Văn Thụ ghi: “Năm 1913, mùng 6 tháng 2 Quý Sửu, tỉnh Thái Bình phát sự tạc đạn, cụ tuần Hành Thiện Nguyễn Duy Hàn bị hại. Ta phải đổi về chịu lấy gánh nặng, chối từ không được. Thầy tớ cũ phần nhiều lo thay cho ta. Vì tạc đạn đã lâu chỉ thấy đồn, chưa ai biết rõ hình dạng nó thế nào. Đột nhiên, một tiếng thực như sấm dậy đất bằng, ai cũng choáng váng. Vậy mà ta khổ tâm đối phó, nhất ngôn nhất động, may trúng cơ nghi...”

       Mùa nước năm ấy (Quý Sửu 1913), đê Phú Chử huyện Thư Trì bị vỡ, mấy huyện bị lụt, công sứ Perret tự tử. Sau nạn lụt lớn này, Phạm Văn Thụ làm bài thơ song thất lục bát gần một trăm câu để uý lạo đồng bào.

       Vụ Pháp truất ngôi vua Thành Thái, khi đó ông đương quyền Tuần phủ. Một hôm phó sư Dupuy hỏi ông: “Không biết những khi phế lập lễ nghi như thế nào? Còn lúc định rước xuống thuyền, đem ngài sang Tây, ngộ ngài không chịu thì xử trí làm sao?”

       Ông cảm động ứa nước mắt mà trả lời: “Đã sinh biến phế lập, còn có lễ nghi gì?...

       Tôi trộm nghe đức Thành Thái sở dĩ sinh điên, cũng chỉ vì có thông minh mà vô sở dụng. Nhà nước muốn đem sang Tây tưởng nên dùng cách êm ả để ngài đỡ chứng uất... Rồi lại để ở chỗ đức Hàm Nghi, đãi lấy Vương lễ. Mà rước đức Hàm Nghi về chấp chính, thực có phúc cho nước Nam tôi”...

       Tất nhiên, bọn quan cai trị Pháp chỉ nói lấy lòng quan lại nước ta vậy thôi, không khi nào chúng dám đưa vua Hàm Nghi về thay vua Thành Thái. Thế mà thân hào Thái Bình vẫn làm đơn, có hàng trăm chữ ký, xin rước vua Hàm Nghi về chấp chính. Một hôm ông và quyền án sát Trần Thiện Kế đến Hội Nam Phong, tại nhà cụ tuần Luật Trung đông đủ các cụ đại lão. Cụ Khâm Nhân Mục nói: “Chà chà! Thái Bình giỏi nhỉ. Xin rước đức Hàm Nghi về làm vua à?”

       Cuối năm ấy đúng 30 tết, ông Phan Chu Trinh cùng ông Đinh Dụng Hưởng cưỡi ngựa ở huyện Mỹ Lộc sang chơi. Ông tiễn ông Đinh Dụng Hưởng về Ninh Bình, còn ông Phan Chu Trinh ở lại ăn tết với ông một tuần lễ. Đêm nào cũng nói chuyện đến khuya. Ông Phan nói: “Thời cục này, tất phải thi hành chính thể dân chủ mới tiến hoá được...”. Sau cụ Nguyễn Thượng Hiền lấy tình niên bảng cứ chủ nhật thường sang trò chuyện, nào là ông Phan Chu Trinh, ông Nguyễn Sinh Huy có tiếng chí sĩ cũng hay vãng lai giao du. Thứ nhất can hệ là cổ động rước đức Hàm Nghi. Vì thế nhà nước dùng cách ky mi (trói buộc-PĐD) cốt đem ta lên phủ Thống Sứ để tiện phòng thám những chốn ẩn vi của ta hành động”.

       Về việc ông Hoàng Tăng Bí bị Pháp tình nghi, ông nói: “Ông Hoàng Tăng Bí đỗ trẻ, sẵn lòng nhiệt hiểu, cảm ngộ lời hiểu của quan toàn quyền, định đổi tư tưởng về đường thực nghiệp. Ông Hoàng đi khắp các nơi diễn thuyết lập hội buôn bán nội hoá, hiệu là Hội Đông Thành Xương... Nói cho phải, giá bắt lỗi ông Hoàng Tăng Bí vào luật “Khi trá quan tư thủ tài” (dối trá việc công việc tư để giữ tiền bạc của người khác – PĐD) thì đúng, chứ bắt vào luật “mưu phản” thì rất oan”.

       Đàn Viên ký ức lục còn ta ta biết khá tường tận về việc hoạt động của nghĩa quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật làm thủ lĩnh và việc thực dân Pháp đối phó với quan quân Đề Thám ở Yên Thế như thế nào.

       Tháng 6-1926, sau nhiều lần đề nghị, Phạm Văn Thụ được nghỉ hưu. Tuy vậy mỗi khi có cuộc bạo động nào, các quan lại Pháp cũng thỉnh cầu hỏi ký kiến ông. Thí dụ, vụ nghĩa quân đánh huyện Phụ Dực và Vĩnh Bảo. Tri huyện Hoàng Gia Mô bị hạ sát. Mô là con Hoàng Mạnh Trí. Mô gọi Hoàng Trọng Phu là chú. Tính Mô kiêu ngạo và rất tàn nhẫn. Bọn Pháp cai trị định nghiêm trị dân Cổ Am, nhưng Phạm Văn Thụ can ngăn. Mặc dầu vậy, Thống sứ Robin vẫn cho ném bom làng Cổ An.

       Mấy năm nghỉ hưu, bên cạnh việc thăm thân hữu đôi bên nội ngoại, phần nhiều ông giành thời gian viết tập hồi ức, công phu, tỉ mỉ, chân thực này. Bản thảo được cử nhân Bùi Lương, con rể cả ông phiên ra quốc ngữ. Toàn bộ bản quốc ngữ do Phạm Văn Thảo, con trai cả ông đóng thành mấy tập để gia đình giữ làm vật gia bảo.

       Phạm Văn Thụ về hưu được hơn bốn năm, ngày 12 tháng 6 Canh Ngọ (7-7-1930) ông bị bệnh đột ngột rồi mất tại quê nhà, thọ 65 tuổi.

       Đàn Viên ký ức lục là tập tư liệu rất quý. Ngoài việc phản ánh nhiều sự kiện chính trị quan trọng ở các tỉnh phía Bắc, ở triều đình Huế suốt hơn 30 năm Phạm Văn Thụ làm quan, nó còn cho chúng ta hiểu nhiều tập tục cả tốt và xấu của xã hội nông thôn phía Bắc nước ta thời kỳ thuộc Pháp. Tự nội dung tập tư liệu cũng cho chúng ta thấy tinh thần yêu nước của nhân dân và sĩ phu cùng thủ đoạn cai trị của hàng loạt quan lại Pháp và những tên Việt gian khoác áo quan lại những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.102-107
Nguồn tin: Viện Hán Nôm

Phạm Đình Trạc (Bạt Khang) - người gương tiết liệt

PHẠM BẠT KHANH - NGỜI GƯƠNG TIẾT LIỆT
HOÀNG THỊ MAI HƯƠNG
Hà Nội
Nói đến gương Trung quân tuẫn quốc, người ta phần nhiều khâm phục Nguyễn Tri Phương (2873) và Hoàng Diệu (1883) tuẫn tiết cùng thành Hà Nội mà ít biết rằng, trước đó tới bốn, năm chục năm (1883) còn có Phạm Đình Trạc, Phạm Đăng Lưu(1) và Bùi Tăng Huy(2) cùng một lúc hy sinh hết sức lẫm liệt theo thành Cao Bằng. Tấm gương của ba liệt sĩ Nam Trung Bắc này đã được chép vào phần Trung nghĩa liệt truyện - Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập. Song ở mức độ rất sơ lược.
Riêng về Phạm Đình Trạc, qua việc nghiên cứu hai tư liệu bằng chữ Hán trong thư viện của Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Cao Bằng ký lược, kí hiệu A.999 và Cao Bằng thành hãm sự ký, kí hiệu A.1379, chúng tôi đã cố gắng khắc họa về cuộc đời, sự nghiệp và những giây phút cuối cùng oanh liệt của ông.
Phạm Đình Trạc tự Bạt Khanh sinh năm 1794, hiệu Thuần Tiết, thụy Đoan Trực, người huyện Liêu Xuyên, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Ông là hậu duệ của Phạm Công Thư, Thái tể đời Lê. Năm Tân Tỵ niên hiệu Minh Mệnh 2 (1821), ông đỗ Hương tiến (Cử nhân); khoa thi Hội Ân khoa năm Nhâm Ngọ hiệu Minh Mệnh 3 (1822) ông trúng tam trường. Sau đó Bạt Khanh được bổ làm Lễ bộ Hành tẩu, rồi làm Tri huyện ở Hà Đông, sau lại thăng làm Lễ bộ Viên ngoại lang, thăng làm Lại bộ Lang trung.
Tháng 12 năm Minh Mệnh 13 (1832) ông được điều lên làm Án sát xứ Cao Bằng. Tháng 8 năm sau (1833) năm Quý Tỵ, Tri châu Nùng Văn Vân nổi dậy làm phỉ chống lại triều đình ở Tuyên Quang, chiếm Bảo Lạc sau lan sang Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn làm chấn động khắp ba mặt tỉnh Cao Bằng, đồng đảng của hắn là Nguyễn Hữu Đàn, Nguyễn Tá Cẩn đến tiếp ứng, uy hiếp tỉnh thành Cao Bằng, thế giặc rất mạnh. Trong tỉnh tuy có thổ dân Cao Lạc hợp lại chống nhưng không nổi.
Tháng đó Hoàng Văn Quyền, Tuần phủ Lạng - Bằng sai Lãnh binh Phạm Văn Lưu dẫn quân đến tiếp ứng. Được tin, Bạt Khanh cùng Bố chánh Bùi Tăng Huy xuất quân phối hợp. Song quân ít không địch nổi phải lùi vào thành dùng mưu chống đỡ để đợi viện binh. Ngày 2 tháng 9, giặc kéo đến vây bức. Bạt Khanh chọn hơn 30 nghĩa dũng cố sức chiến đấu. Giữ thành được hơn một tháng, lương hết, quan quân đều nhiễm bệnh, lính đào tẩu quá nửa. Ngày 3 tháng 10, giặc Vân tề tập xung quanh, tấn công vào bốn mặt thành lũy, bắn liên tục làm cây cối quanh thành đổ rụng hết, tình thế thật nguy cấp. Nửa đêm nghe thấy tiếng voi gầm, trong đồn lấy làm kinh hãi, sáng ra thấy Tuần phủ Lạng - Bằng Hoàng Văn Quyền bị giặc bắt vào cũi chở trên lưng voi để uy hiếp dụ hàng quân trong thành. Trong đồn nhiễu loạn, Bạt Khanh thấy tình hình không thể cứu vãn được nữa, bèn bàn với Bùi Bố Chánh: “Tháng trước nghe tin có Tổng binh sẽ đến tấn công giải vây Lạng Sơn, song viện binh vẫn chưa tới, biết làm sao được, nay chờ đến lúc có thư thì tính mệnh quân ta ở đây cũng chẳng còn”. Ông tính sẽ chết theo thành, sai quân mai táng ở đầu đất phía đông. Ông chỉ đầm sâu mà nói: “Đây là huyệt tốt của vợ con ta”. Trước tiên Bạt Khanh bày hương án, áo mũ chỉnh tề, vọng bái vua và cha mẹ, sau giết vợ con mình để khỏi sa vào tay giặc. Các thuộc hạ, nô bộc xin chết theo. Ông đau đớn làm bài phú cuối cùng. Tạm dịch như sau:
“Đông Tân Tỵ làm quan
Ra đi đông Quý Tỵ
Ôi đến cái chết này
Thờ vua mới một kỷ(3).
Những mong tôi thờ vua
Tận trung mà không thể.
Nguyện phụng dưỡng song thân
Thọ lâu, mới một hỷ(4).
Đã lìa vạn dặm xa.
Vợ gầy con thơ bé
Ba mươi ba ngày trời
Sức thần đã kiệt quệ
Không giữ nổi đất vua.
Chết đền ơn trời bể.
Nơi cung đình cao xa
Có thấu tình chăng nhẽ?
Xin cầu cho song thân
Phúc thọ cùng sức khỏe
Con có được thân này
Ơn cha sinh mẹ đẻ.
Bấm đốt ba chín năm
Hợp ít, ly nhiều thế
Mới hiểu dưỡng một ngày
Ra đi, tội sao kể
Đội ơn thiên tử ban:
Trật hàm đến tứ phẩm
Quan chức thật cao sang
Phúc lớn chẳng dám nghĩ.
Không giữu được đất vua
Không bỏ mình vì nước
Rồi đây mặt mũi nào
Nhìn thiên hạ sĩ tử.
Nay thờ vua vẹn đạo
Bằng chính cái chết này
Vợ yếu con thơ xin chịu tội.
Chiếu nguyện vọng;
Con tuy có ngày chết
Nhưng vẫn còn năm sinh.
Đau đớn khôn cùng
Bút không kể tận
Chỉ xin muôn vàn bảo trọng
Nước mắt máu nhòa con xin vái lạy.
Sau đó Bạt Khanh tự sát. Theo ông, Lãnh binh Phạm Văn Lưu, Bố chánh Bùi Tăng Huy cũng quyên thân.
Ngày 5 tháng 10 vua Minh Mệnh được tin rất đau xót thương tiếc cho phục lại chức; ban cấp cho mỗi nhà 100 lạng bạc, thu di hài vào quan quách, đem về nguyên quán chôn cất. Ra lệnh cho quan tỉnh chọn chỗ đất cao ráo ở làng Gia Cung, huyện Thạch An, đông nam thành Bao Bằng lập miếu đường ở đất ấy, gọi là Trung từ và tặng cho ba người tuẫn tiết ở thành Cao Bằng. Xin giới thiệu một trong ba bài thơ “Ngự vịnh tặng phong Cao Bằng tỉnh Tam trung tuẫn tiết tam thủ” của vua Minh Mệnh (Trích trong tập “Tạp sáo tân biên”).
Vì nước có người lưu đại nghĩa
Lập đền riêng Đế xót cô trung
Ba sinh danh chẳng đề năm tháng
Một chết theo về với núi sông.
Cuồn cuộn giữa dòng cùng nước chày
Hiu hiu muôn thuở gió mênh mông
Vân Trường(6) hiển miếu là hàng xóm
Trung hiếu xưa nay Nam Bắc cùng.
Đồng thời có rất nhiều sĩ phu cả nước thương tiếc cảm phục Phạm Đình Trạc, lần lượt gửi đối văn đến viếng như:
1- Lại bộ Lang trung Nguyễn Tuần Phủ.
2- Nguyên Lễ bộ Lang trung Bính Tuất Tiến sỹ Ngô Hy Nhan.
3- Hoàng Tế Mỹ, Lưu Tân, Nguyễn Bảo, Dương Phái, Lưu Huy, Hoàng Văn Đĩnh, Vũ Tài, Lưu Trường, Vũ Bào cộng vãn.
4- Tiến sĩ Lê Văn Trung.
5- Hoàng Giáp Phạm Đôn Nhân
6- Tuần phủ Quảng Yên Vũ Hồng.
7- Đốc học Quảng Yên Đặng Văn Toàn.
8- Tiến sĩ Bùi Ngọc Quý.
9- Huấn đạo Nguyễn Khắc Thận.
10- Văn hội bản tổng.
11- Hội Tư văn bản tổng.
12- Đồng Khế: Tiến sĩ Vũ Tông Phan, Lê Văn Trung, Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, Cử nhân Dương Bá Cung, Nguyễn Đình Đao, Đào Bình Bảo cộng vãn.
13- Hà Tôn Quyền có 5 bài thơ khóc.
14- Nguyễn Văn Lý có thơ khóc.
15- Phạm Đôn Nhân có thơ điếu.
Xin chọn một vài bài thơ bài văn khóc Phạm Đình Trạc mà qua đó ta hiểu thêm được về Phạm Bạt Khanh những giây phút oanh liệt cuối cùng của ông.
Bài 1: (Nằm trong năm bài thơ khóc Phạm Bạt Khanh của Hà Tôn Quyền).
Lẫm liệt chết như sống.
Anh hùng thay Bạt Khanh
Thư sinh sao trang liệt
Nhà vua chưa biết danh
Đánh giữ không có chỗ
Sống chết quyết cùng thành
Thương thay nghe tin muộn
Sự việc mới rõ rành.
Bài của Tiến sĩ Vũ Tông Phan - Tiến sĩ Lê Văn Trung – Phó bảng Nguyễn Văn Siêu, Cử nhân Dương Bá Cung, Nguyễn Đình Dao, Đào Đình Bảo cùng viếng. Tạm dịch như sau:
“Than ôi! Chết vốn đã khó vậy. Nhưng đối với những người như ông đâu phải coi cái chết là đủ. Sinh thời ông mang trong mình cái thông minh của trời đất, gánh học vấn của thánh hiền. Vốn muốn có được công trạng nổi bật với thiên hạ cùng chịu ân tứ để xứng với việc gặp được thời sáng. Chẳng may gặp nguy nan mà chết. Lấy trung nghĩa để cảm kích lòng người, cùng sống chết một phương, lấy việc triều đình giao cho trọng trách làm sở nguyện của mình. Người đã tính đến cái chết ở trong lòng ngay từ buổi đầu, lẽ nào không giữ kín mãi?
Mùa thu năm ngoái, giặc nổi lên ở Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng. Triều đình đã cử đại binh chia nhau ra cứu mà Cao Bằng vẫn trơ trọi không thông. Bọn tôi đều cho rằng: nếu không được viện binh, thì tất sẽ nguy.
Đầu mùa đong, nghe đồn rằng ông đã tự tận nhưng tin chưa rõ ràng. Tháng chạp, thi hài ông được chuyển về sông Nhĩ thủy, bọn tôi lần lượt đến viếng thăm. Thì ra đầu tiên tháng tám, giặc đến quấy nhiễu, ta địch không nổi, ông cùng Bố chánh, Lãnh binh và các quan viên ở tỉnh lui về thành Thương Sơn thủ chiến.
Sau một tháng thành vẫn vững. Rồi Tuần phủ Cao Bằng đến tiếp viện bị giặc bắt làm tù binh, đem ra để uy hiếp mọi người. Đạn đã hết, quân lính hoảng loạn, ông biết tình thế: nếu không được chi viện sẽ chết, bèn bàn với Bố chánh, ăn mặc triều phục đầy đủ, hướng về phía Bắc vái 5 lạy, hướng về văn miếu vái vọng cha mẹ. Sau đó đót bản đồ, soạn một bài thơ nói lên ý chí của mình, gởi thư về cho cha mẹ, không nói riêng gì về mình rồi giục gia quân đào huyệt định đêm sẽ chết ở đó. Sau sợ bọn giặc không biết mình đã chết sẽ làm hại đàn bà trẻ con trong thành, sớm hôm sau, ông mặc triều phục như thường, đứng ở chỗ sẽ chôn mình, trước tiên giết vợ con để khỏi sa vào tay giặc, gia nhân khóc lóc van xin, ông mỉm cười nói: “Thanh ôi anh hùng thất thế, vợ con nặng tình” rồi nằm xuống huyệt. Gia nhân không nỡ lấp đi, ông giục giã lấy tay áo che mặt và ra lệnh lấp đất. Giặc trèo lên bốn mặt núi nghe ngóng. Mặt đất tạm bằng. Bố chánh hỏi: Án sát đâu rồi? Quân lính thưa: đã chết! Bố chánh bèn rút kiếm tự vẫn. Lãnh binh tỉnh Lạng Sơn cũng làm theo. Giặc thắt chặt vòng vây, thành vỡ. Lúc giặc chưa nổi lên, ông đã đoán rằng, sang xuân khoảng tháng 5, tháng 6 sẽ xảy ra sự việc này và dặn dò các quan dưới quyền cùng các bạn ở tỉnh bên rằng: “Giặc dù chưa động, chẳng thể coi thường được. Cuối cùng không cản chúng, vạn nhất thành bị cô lập, đầu tiên tôi sẽ giết vợ con, sau sẽ tự sát để báo đền ơn nước”. Quả nhiên đã như vậy. Trong thơ có nói “Ba mươi ba này, sức thần đã kiệt” chứ đâu phải lo sợ mà co lại, đành chết với thành. Tháng 7 viện binh của giặc rút lui. Một tháng sau giặc suy và đại binh đến. Lại một tháng nữa triều đình mới biết đầu đuôi và ân dụ rằng: “Sự việc là do thành cô mà nguy vậy”; lại nói “Ung dung mà chết vì đại nghĩa chứ không phải làm tắc trách suông đâu”.
Than ôi! Ông bất hậnh mà phải chết như vậy. Từ xưa nay có mấy người như ông, đã thế lại bị mai một bởi những lời đàm tiếu của bọn tiểu nhân. Người có chí đời sau chép nhặt đôi điều mà làm tiểu truyện cũng như việc dụng tâm của ông Âu Dương xưa vậy. Đáng khen thay! Nay nếu sống thì có thể được triều đình khen thưởng, khích lệ và được giới sĩ phu cảm kích. Cái chết ấy có thể báo hiệu cho nhân tâm thế đạo.
Ông từ năm Tân Tỵ đã đỗ cử nhân, được 6 năm triều đình bổ làm Tri huyện, 6 năm sau mới được làm Niết ty Cao Bằng và được nửa năm thì gặp nạn. Ông giao thiệp với bạn bè càng lâu càng được kính trọng, nhẹ nhàng thanh đạm mà ý nhị sâu sắc, luôn luôn mỉm cười ôn hòa, bề ngoài dường như không tỏ thái độ gì mà bên trong kiên quyết không thể đổi thay. Vì vậy bọn tôi vô cùng quyến luyến và không thể nào quên được”.
Chao ôi! Cái tiết của kẻ sĩ là: Trúc dẫu cháy đốt ngay vẫn thẳng(7), là tùng bách sừng sững hiên ngang, lạc ngọc mài chăng khuyết nhuộm chăng đen (Nguyễn Trãi, Thuật hứng XXIV), là băng tuyết trắng tinh, là sen ngào ngạt gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn (Ca dao Việt Nam)… biết ngợi ca bao nhiêu lời cho đủ. Sự hi sinh lẫm liệt của Phạm Bạt Khanh cùng hai đồng sự của ông vì thành, vì nước càng tôn vinh thêm khí tiết của các nhà nho Việt Nam.
Chú thích:
(1) Phạm Đăng Lưu: Người làng Tân Bình, Gia Định. Đầu tiên nhập ngũ, lập công trạng được thăng tới Lãnh binh tỉnh Lạng Sơn.
(2) Bùi Tăng Huy tự Ngọ Uẩn quê ở đạo Ninh Thuận (Phan Rang) đỗ Cử nhân năm Gia Long 18 được cử ra bắc làm Bố chánh sứ Cao Bằng.
(3) Mười hai năm.
(4) Mới mừng thọ cha (mẹ) bát thọ một lần.
(5) Bành là người đời Đường Nghiêu, tương truyền sống đến 800 tuổi. thường là chỉ người chưa thành niên đã chết. Ở đây nói tuổi thọ ngắn dài khác nhau.
(6) Tức Quan Vũ, một trong những tướng tài, kết nghĩa với Lưu Bị, gây dựng nhà Thục Hán? 219 Quan Vũ nổi tiếng về lòng trung nghĩa và khí tiết cứng cỏi.
(7) Thơ Thép Mới “Cây tre Việt Nam”.
Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.185-193
Nguồn tin: Viện Hán Nôm