Cội nguồn họ Phạm: Thời Nguyễn
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thời Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Vị tướng Hộ quân sứ thời Tây Sơn ở Thừa Thiên Huế


Triều Nguyễn Tây Sơn và triều Nguyễn Gia Long phủ định nhau, hậu quả hiện nay những tư liệu lịch sử về Tây Sơn quá hiếm. Các tướng lĩnh Tây Sơn cao cấp, nổi tiếng thì chính sử có ghi chép còn những tướng lĩnh Tây Sơn cấp bậc không cao lắm như Hộ quân sứ thì hầu như chưa phát hiện được danh tánh người nào. Vài mươi năm trở lại đây, nhờ những nguồn tư liệu còn lưu giữ trong dân gian, giới nghiên cứu đã phát hiện một số tướng lĩnh Tây Sơn và đã công bố. Gần đây, nhờ điền dã ở làng Đồng Di, chúng tôi phát hiện một vị Hộ quân sứ Tây Sơn họ Đinh.

Đinh Như Đăng sinh ngày 23 tháng 6 năm Kỷ Tỵ [1749], tự Bố Dung, thân phụ là ngài Đinh Như Tượng (sinh năm Đinh Mùi [1727]), mẹ là bà Lê Thị Xảo (sinh năm Kỷ Dậu [1729], con ông Lê Quang Bậc, em chú bác với Thị giảng quốc sư Lê Cao Kỷ). Thuở niên thiếu Đinh Như Đăng học hành và rèn tập ở Học hiệu Đồng Di (phía sau văn miếu Đồng Di), do sơ ngoại Hiến Đức hầu Lê Quang Hiến của ông thành lập, Tham nghị Phạm Quang Liên sùng tu, và ông ngoại bác Tuấn Đức hầu Lê Cao Kỷ của ông tôn tạo. Khi vào tuổi 17, chưa kịp thi cử thì nhà ngoại gia biến, ông ngoại bác lúc bấy giờ là Sư phó, lo việc học cho kế tử Nguyễn Phúc Luân, khi Võ vương Nguyễn Phúc Khoát băng hà, bị phe Trương Phúc Loan bức tử cùng với ngoại tả Trương Văn Hạnh. Năm Đinh Như Đăng vào tuổi 36, quân đội Lê Trịnh đánh chiếm Phú Xuân, nhà chúa xuôi nam, gia đình nhà quan tan tác, nhất là gia trạch từ đường bên ngoại cũng như Học hiệu văn miếu Đồng Di bị hoang phế do thiên tai, chiến tranh. Năm Bính Ngọ [1786], Nguyễn Huệ ra Phú Xuân, đánh thắng quân Lê Trịnh do đại tướng Phạm Ngô Cầu chỉ huy, Đinh Như Đăng đã tòng quân, cộng tác với Tây Sơn. Đinh Như Đăng sớm trở thành tướng Hộ quân sứ, theo vị chỉ huy tài ba Quang Trung Nguyễn Huệ trong những lần ra Bắc, đỉnh cao là chiến dịch đại phá quân Thanh mùa xuân Kỷ Dậu [1789]…
Ảnh chụp nhà thờ họ Đinh Như ở làng Đồng Di (Đông)
Khi đã thành đạt với chức Hộ quân sứ, ông trở lại quê nhà cùng với kỳ mục của làng Đồng Di, tận suất vi binh, đóng góp công sức tôn tạo đình Đồng Di, từ đường họ Phạm, thờ ngài khai canh Vân Hiên hầu Phạm Quang Hựu, Hàn lâm viện Chiêu Đức bá Phạm Quang (muội húy). Đặc biệt Hộ quân sứ Đinh Như Đăng đã thỉnh cầu làng Đồng Di tôn tạo Văn miếu và từ đường thờ Hiến Đức hầu Lê Quang Hiến. Lúc bấy giờ, Hộ quân sứ Đinh Như Đăng đã trình với làng về dấu tích gia trạch, của sơ ngoại Hiến Đức hầu Lê Quang Hiến, sau văn miếu hoang tàn. Trải qua loạn lạc, phần lớn các họ đã đến đời thứ VI, tính từ năm thành lập làng 1628 đến khi tôn tạo văn miếu vào thời Tây Sơn, khoảng 150 năm, cho nên người làng phần nhiều không còn nhớ nơi ở xưa của Hiến Đức hầu Lê Quang Hiến. Đinh Như Đăng là cháu ngoại họ Lê, ông lại là rể họ Lê nữa nên nắm vững chuyện xưa. Ông đã thuyết phục người làng xoay hướng văn miếu về bên phải, dựng nghi môn mới. Còn phía trái làm từ đường thờ Hiến Đức hầu Lê Quang Hiến và dựng cổng của từ đường.
Hộ quân sứ Đinh Như Đăng (đời thứ VI) là anh em họ, cùng chung ông cố Đinh Như Phi (đời thứ III), với Đinh Như Xuyên (đời thứ VI). Ông Đinh Như Xuyên sinh năm Đinh Hợi (1755) là rể của quan Hộ quân sứ Nguyễn Nhuận làng Vân Thê. Hộ quân sứ Đinh Như Đăng mất ngày 4 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802). Có khả năng ông theo đoàn quân rời Phú Xuân từ tháng 5 Tân Dậu [1801] của triều đình Quang Toản và tử trận khi vua Gia Long đưa quân ra Bắc thanh toán triều Bảo Hưng Nguyễn Quang Toản. Về sau con cháu cải táng di cốt của Hộ quân sứ về xứ Huyền Võ của làng, bên tả của mộ ngài tổ. Dòng chính giữa bia “Phụng vị đệ lục thế tổ khảo Tế Dương quận Đinh Như tự Bố Dung phủ quân chi mộ”. Lạc khoản: “Ất Mùi niên xuân”, “Đệ nhất phái đệ nhất chi thế tôn đẳng đồng bái”.
Hộ quân sứ Đinh Như Đăng có người con trưởng Đinh Như Kinh, một vị túc nho, nhưng vì thân phụ là tướng Tây Sơn nên ông Đinh Như Kinh sống ẩn dật ở làng. Ngài Đinh Như Kinh sưu tập truyền ngôn của phụ lão, dựa vào tư liệu chữ Hán ở từ đường họ Lê Quang, sắc phong của các quan họ Lê… soạn bản thảo Hương phổ Đồng Di, đưa ra hội đồng kỳ lão của làng đọc và góp ý. Văn bản hoàn tất năm Thiệu Trị thứ hai. Nhờ có văn bản này, về sau làng Đồng Di mới tra cứu để viết báo cáo lên các vua Thành Thái, Duy Tân sắc phong các nhân thần.
Đại Nam chính biên liệt truyện do các sử quan của Quốc sử quán Nguyễn soạn, xếp Tây Sơn là Ngụy Tây nhưng vẫn chép lại Ngụy Tây đã làm nên trang sử hào hùng của những ngày đại thắng 1789, quét sạch quân xâm lược Thanh ra khỏi bờ cỏi Đại Việt. Nên chăng làng Đồng Di nên bổ sung đệ tam công đức của làng, trong đó có Hộ quân sứ Đinh Như Đăng, dật sĩ Đinh Như Kinh, để phối thờ ở đình, trong tinh thần “ăn quả nhớ người trồng cây”.

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

Phạm Cao Chẩm (1872 - 1918)

Phạm Cao Chẩm sinh năm Nhâm Thân -1872 tại xóm Trại, làng Xuân Phổ, nay thuộc thôn Xuân Phổ Tây, xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

images845427_PCC1.JPG


Phạm Cao Chẩm đỗ tú tài Hán học, nên thường được gọi là Tú Chẩm. Ông là người cùng chí hướng và là bạn tâm giao của các ông tú tài Hán học nổi tiếng ở Quảng Ngãi: Lê Ngung (? – 1916), Trần Kỳ Phong (1872 – 1941), Nguyễn Tuyên…

Những năm 1905 -1906, Phạm Cao chẩm cùng Cử Cẩn (Lê Đình Cẩn), Phạm Cao Đài, Lê Ngung, Bố Khiết (Lê Tựu Khiết),... hưởng ứng phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ, khởi xướng thành lập Duy Tân hội Quảng Ngãi, do Lê Đình Cẩn đứng đầu.

Duy Tân hội Quảng Ngãi phát động mạnh mẽ phong trào cải cách xã hội theo phương châm “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, khơi gợi tình cảm yêu nước, ngấm ngầm nuôi dưỡng ý chí kháng Pháp, thổi luồng gió mới vào phong trào đấu tranh của nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, được giới trí thức và đông đảo nhân dân hưởng ứng nhiệt thành.

Năm 1907, nhóm “Đông Kinh nghĩa thục” hoạt động mạnh ở Hà Nội, gây được tiếng vang trong cả nước, thu hút sự chú ý của giới trí thức ái quốc. Phạm Cao Chẩm cùng Từ Hữu Lập được Duy Tân hội Quảng Ngãi cử ra Hà Nội tiếp xúc và trao đổi với các yếu nhân của Đông Kinh Nghĩa Thục (Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đào Nguyên Phổ, Hoàng tăng Bí…) để trao đổi, tìm hiểu và học tập kinh nghiệm, đặc biệt là về lĩnh vực giáo dục cộng đồng và cổ vũ quần chúng. Khi trở về,  ông và Từ Hữu Lập mang theo nhiều tài liệu của Đông Kinh Nghĩa Thục, rồi nghiên cứu và biên soạn lại để in ấn phổ biến, cổ động cho phong trào Duy Tân tỉnh nhà.

Năm 1908, phong trào Kháng thuế - Cự sưu bùng lên mạnh mẽ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi và các tỉnh Trung Kỳ. Ở Quảng Ngãi, khi phong trào có dấu hiệu chuyển sang bạo động, các nhà Duy Tân, trong đó có Phạm Cao Chẩm, đã dũng cảm “đứng mũi chịu sào”, trực tiếp hướng dẫn người dân tranh đấu, đồng thời đại diện cho “lục phủ huyện dân” (dân chúng 6 phủ, huyện của tỉnh) đối mặt thương thảo với thực dân và phong kiến tay sai.

Phong trào Kháng thuế - Cự sưu ở Trung Kỳ bị đàn áp đẫm máu. Nguyễn Bá Loan, Lê Khiết, Phạm Mỹ bị xử tử. Trần Kỳ Phong, Nguyễn Sụy (Thuỵ), Nguyễn Đình Quản, Nguyễn Tuyên, Phạm Cao Chẩm... bị đày ra Côn Đảo cùng với các nhà yêu nước Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, trong đó có Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện...

Trong tù, mặc cho bọn cai ngục đàn áp, đày ải, Phạm Cao Chẩm và các bạn tù đồng chí hướng vẫn giữ vững chí khí của người yêu nước. Ông thuộc thế hệ các chiến sĩ đầu tiên biến nhà tù thực dân thành nơi học tập tri thức, rèn luyện dũng khí, hun đúc tình cảm yêu nước, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới với quân thù.
 Nhà thờ họ Phạm ở thôn Xuân Phổ Tây, xã Nghĩa Kỳ, Tư Nghĩa
Nhà thờ họ Phạm ở thôn Xuân Phổ Tây, xã Nghĩa Kỳ, Tư Nghĩa

Năm 1915, được trả tự do, Phạm Cao Chẩm về lại quê nhà và nhanh chóng tham gia vào cuộc vận động chuẩn bị khởi nghĩa Duy Tân do Việt Nam Quang Phục hội khởi xướng. Ông cùng Lê Ngung, Nguyễn Thụy, Phạm Tuân... là những người được giao trách nhiệm tổ chức khởi nghĩa ở Quảng Ngãi. Âm mưu của các nhà yêu nước bị bại lộ, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp. Lê Ngung, Nguyễn Thụy cùng nhiều sĩ phu khác bị xử chém. Phạm Cao Chẩm bị kết án tù chung thân và đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Mồng 4 tết Nguyên đán, năm Mậu Ngọ (1918) Tú Chẩm cùng với Nguyễn Trọng Thường (con trai thủ lĩnh Cần Vương ở Hưng Yên là Nguyễn Thiện Thuật – tức Tán Thuật) lãnh đạo những người tù chung thân nổi dậy cướp đảo. Việc lớn bất thành, hai ông bị giặc hành hạ tàn bạo rồi đem ra xử bắn, vùi xác ở nghĩa địa Hàng Keo (Côn Đảo).

Tháng 7/1988, di hài Phạm Cao Chẩm được chính quyền tỉnh Quảng Ngãi, huyện Tư Nghĩa, Ban liên lạc tù chính trị Quảng Ngãi cùng gia đình đưa về quê nhà, tổ chức cải táng long trọng.

Xuân Phổ là một làng quê trù phú, hiền hoà nằm bên tả ngạn sông Trà Khúc, nổi tiếng với đồng mía nương dâu quanh năm xanh mượt. Họ Phạm là một trong hai dòng tộc khai phá làng Xuân Phổ, có nhiều người tham gia các phong trào yêu nước - kháng Pháp, được rất nhiều nhân sĩ và đồng bào Trung Kỳ nể trọng, như Phạm Cao Đài, Phạm Cao Đàm...

Sau cách mạng Tháng Tám-1945, có một thời gian xã Nghĩa Phương, huyện Tư Nghĩa đổi tên là xã Phạm Cao Chẩm để tỏ lòng tri ân ông. Hiện nay, ở phía tây thành phố Quảng Ngãi cũng đã có một con đường mang tên Phạm Cao Chẩm.

Phạm Cao Chẩm là một nhà yêu nước, hy sinh vì nghĩa cả. Ông cũng là một nhà canh tân giáo dục theo xu hướng Duy Tân ở Quảng Ngãi đầu thế kỷ XX.
Theo: QNĐT
Nguồn tin: Người xứ Quảng