Cội nguồn họ Phạm: Hải Dương
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hải Dương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hải Dương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Đến Hải Dương nhớ về thăm Đền Quát

Ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương có ngôi đền cổ thờ một danh tướng nhà Trần, người đã có công nhiều lần đục thủng thuyền giặc Nguyên Mông làm nên chiến thắng lẫy lừng trong lịch sử. Đó là đền Quát, thờ danh tướng Yết Kiêu, Đệ nhất đô soái thuỷ quân đức thánh Trần triều...

Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế (1242-1301), phụ thân là Phạm Hữu Hiệu, người Hạ Bì, còn gọi là làng Quát (nay là thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, Hải Dương). Thân mẫu Yết Kiêu là Vũ Thị Duyên, người làng Lôi Động, Thanh Hà, nay là làng Đồng Nổi, xã Tân An, Thanh Hà, Hải Dương. Sinh trưởng trong một gia đình ngư dân nghèo, 8 tuổi mồ côi cha, từ nhỏ, Phạm Hữu Thế đã phải lặn lội sông nước bắt cá tôm nuôi mẹ. Khi đất nước bị quân Nguyên Mông xâm lược, Yết Kiêu từ biệt mẹ tòng chinh và được tuyển vào thuỷ quân nhà Trần. Ông đã cùng quân dân nhà Trần làm nên nhiều chiến thắng, như chiến thắng Hàm Tử, Tây Kết, chiến thắng Bạch Đằng… Ông mất ngày 28 tháng Chạp năm Quý Mão (1303). Khi ông mất, Vua Trần đã ban sắc phong cho dân làng Hạ Bì lập đền thờ và suy tôn ông là Thành hoàng làng. Yết Kiêu còn được lập miếu, đền thờ ở nhiều nơi, nhưng lớn nhất vẫn là đền Quát. Về tên gọi đền Quát, người dân nơi đây kể rằng: trước kia, cứ đến hội đền, dân các làng chài khác về dự hội rất đông vui. Chính vì thế mới gọi là đền Quát (Quát trong từ bao quát).
Đền Quát đang được tiến hành trùng tu.
Đền Quát đang được tiến hành trùng tu.
Khuôn viên ngôi đền hiện nay toạ lạc ở vị trí rất đẹp, phía trước là dòng sông Đinh Đào, một khúc của sông Đò Đáy bao bọc ruộng đồng phù sa màu mỡ. Đây là gò đất cao, trải bằng phẳng, vốn là bến đò xưa, cũng chính là nơi chôn rau cắt rốn của danh tướng Yết Kiêu. Khúc sông trước mặt đền là nơi mà bao đời nay con cháu họ Phạm- hậu duệ của ông- thả lưới, quăng chài để mưu sinh. Khu di tích đền thờ Yết Kiêu bao gồm đền chính và bãi bơi. Đến lần trùng tu đời Nguyễn, đền chính được thiết kế gồm tiền tế 7 gian và hậu cung 3 gian. Giữa đền và bãi bơi có một hồ nước nhỏ rộng rất đẹp. Đền xây dựng bằng gạch, lợp ngói âm dương. Bên trong đền có rất nhiều đại tự, cuốn thư, đồ thờ, các sắc phong, những hình vẽ, chạm trổ. Đền chính đã thay đổi nhiều, còn bãi bơi thì ít thay đổi. Bãi bơi rộng tới 2000m2 dọc theo bờ sông, tại đây có đôi voi đá, ngựa đá và bệ ngự đặt kiệu Yết Kiêu và phu nhân mỗi khi có lễ hội. Khu di tích đền Quát đã được xếp hạng di tích Quốc gia năm 1998. Ở đền Quát bây giờ vẫn còn rất nhiều câu đối hay. Đặc biệt bên trong đền còn có tượng đôi trâu thần. Chuyện kể rằng, vào khoảng năm 15 tuổi, trong một lần đi gánh nước, Yết Kiêu thấy hai con trâu trắng húc nhau chí tử trên bờ sông. Một con nhỏ hơn nhưng hung dữ đánh sừng rất hiểm. Con còn lại rất khoẻ nhưng ra đòn chậm chạp. Ông nghĩ, nếu không can ắt có một con sẽ chết nên nhảy vào dùng đòn ống can hai con trâu ra. Chúng hoảng sợ bỏ chạy xuống sông rồi biến mất, để lại hai cái lông. Yết Kiêu nhanh tay nhặt được, đặt xuống nước thì thấy nước rẽ làm đôi. Ông đinh ninh đó là lông trâu thần, liền cầm lên và nuốt vào bụng. Từ đó, thân thể Yết Kiêu cường tráng phi thường, bơi lặn lâu như đi trên mặt đất... Ngoài tượng đôi trâu thần, trong đền thờ còn có nhiều hiện vật khác như voi chiến, ngựa chiến, cá thần, hạc thần v.v. Đặc biệt, bên phải tượng Yết Kiêu uy nghiêm còn an trí tượng công chúa nhà Nguyên tên gọi Ngọc Loan.

Lễ hội đền Quát tưởng nhớ Yết Kiêu xưa kia được tổ chức vào mùa xuân nhưng gần đây được chuyển sang mùa thu để cộng hưởng cùng với lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc (Chí Linh, Hải Dương) tưởng niệm Trần Hưng Đạo, chủ soái của Yết Kiêu. Đây là những lễ hội quan trọng nhất của Hải Dương. Lễ hội đền Quát bao giờ cũng tổ chức lễ rước thuỷ và rước bộ như một nghi thức quan trọng nhất của phần lễ. Phần hội luôn luôn có cuộc thi bơi chải. Người tham gia thi bơi là những thanh niên khoẻ mạnh, được tuyển chọn rất kỹ từ những xóm chài. Các đội thuyền trước khi bơi đều phải tuân theo nghi lễ bắt buộc là vào dâng hương để xin mùa cá bội thu, nhân dân no ấm. Người bơi đều chít khăn, thắt lưng, tất cả đều mặc áo cổ vuông và khác màu để phân biệt các đội với nhau. Thuyền đua được thiết kế dạng thuyền rồng dài và hẹp có độ lướt cao. Đường đua là đoạn sông thẳng nhất, được cắm cây nêu gắn cờ đuôi nheo để đánh dấu đích đến. Khi người thi bơi nghe thấy một hồi, một tiếng trống, nghĩa là cuộc thi bắt đầu. Lễ hội đền Quát thể hiện tinh thần thượng võ cao đẹp của dân tộc. Nó có nét tương đồng với lễ cầu ngư của ngư dân duyên hải Trung bộ. Hiện nay, lễ hội đền Quát luôn thu hút đông đảo con cháu họ Phạm cũng như du khách xa gần đến thăm viếng.

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sự và sự băng hoại khốc liệt của thời gian, nhiều hàng mục công trình đền Quát đã xuống cấp. Rất nhiều sắc phong quý giá từ thời phong kiến đã bị thực dân Pháp cướp đi mất. Vì thế, để bảo tồn những vốn quý còn lại, đền Quát đang được trùng tu trên diện tích rộng 40.000m2, như một công trình lịch sử văn hoá trọng điểm của Hải Dương cũng như cả nước…
Hải Dương

Châu Khê Thần tích sự trạng

Nam Việt Trần triều Dực chính tương bình Chí trị Cư sĩ đại vương.
Thượng Bộ Lễ của Quốc triều, bộ sách thứ 8 công chính bản Thượng đẳng. Nước Việt xưa trời nam mở vận đức Thánh tổ xây dựng cơ đồ hơn hai nghìn năm là tổ của bách Việt, sau có lời tán rằng:
Sơ khai bách Việt tự Kinh Dương Vương
Nhất thống sơn hà mười tám đời Vương
Trăm con ngàn cháu truyền không dứt
Phối cùng trời đất muôn năm thơm tho.
Gần đây có nhà nghiên cứu lịch sử Trần Huy Bá mới quá cố, phát hiện 18 chi chứ không phải 18 đời, mà mỗi chi gồm nhiều đời vua. Nói rằng Vua Hùng mở nước 18 đời, dài được hơn hai nghìn năm, trải qua các triều đại Trung quốc: Hán, Tống, Tề, Lương. Như nước Nam có các triều: Đinh, Lê, Lý, Trần, bốn họ, sau khi Ngô Quyền xuất hiện mở đầu thời kỳ độc lập, nên có bài thơ của Lý Thường Kiệt như sau:
Nam quốc sơn Hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhĩ đẳng hành khan thủ bại hư.
Nhà Trần tiếp nối ngôi nhà Lý. Vua Trần Thái Tôn tự Trần Chiếu Nha có đức hoan hòa nhân nghĩa, hoằng chính chăm lo nuôi dân, đời bấy giờ tôn là Vua hiền.
Khi ấy, ở động Lôi Nham, phủ Thiệu Thiên đất Ái Châu (tức tỉnh Thanh Hóa ngày nay) có một Ông họ Phạm tên húy là Tuyên, có vợ là bà Trương Thị Đoan, Ông Tuyên Công vốn nòi thi, thư, lễ, nghĩa, vợ chồng ăn ở phúc hậu. Khi ông 28 tuổi, bà 26 tuổi, sinh được 1 gái, khi lên 4 tuổi thì mẹ là bà Đoan mất. Ông làm lễ linh tang. Từ đó, ông Tuyên không có người nội tướng, thân cô nuôi mẹ già, con nhỏ, hàng ngày khó nhọc, nên phải bỏ việc học, chuyên làm nghề thuốc và dạy trẻ con trong làng để có tiền phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ.
Được ba,bốn năm thì từ trang Hậu Trạch huyện Gia Phúc, phủ Hà Hồng, đạo Hải Dương có một nhà họ Nguyễn đến ở nhờ. Ông họ Nguyễn cũng dòng dõi thế gia, sau sinh được một con gái đặt tên là Thị Phương năm ấy 21 tuổi, tư đức hiền hòa, trăm nét nữ công, không gì là không biết, nhan sắc ai cũng mến, ông bèn hỏi và lấy người ấy nối làm chính thất.
       Bà Phương hết lòng thuận theo đạo nhà chồng, ngày tháng ân cần không trái đạo làm vợ. Được vài năm thì mẹ già mất. Ông Tuyên để tang 3 năm, giữ tròn đạo hiếu. Năm ấy 41 tuổi, đi thi đậu tam trường, năm 43 tuổi được làm chức giám phủ Kinh Môn, được 3 năm lại được bổ làm huyện quan huyện Phù Vân, đạo Sơn Lam. Được 5 năm thì ông ngoài 50 tuổi, bà ngoài 40, trai gái chưa sinh được con nào, làm ông lo lắng, thường than với bà rằng: “Tiền nhân gia thế của chúng ta một lòng tích thiện, chưa từng ích kỷ, hại nhân, thế mà sao ta đã quá nửa đời người, vẫn chưa có người nối dõi, xưa có câu rằng: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”, ta đam mê vòng danh lợi làm gì, lòng những muốn nạp quan, từ chức về quê hương làm thuốc, dạy trẻ để nuôi thân nhàn, chẳng màng gì quốc sự, tu tâm, tạo phúc, làm điều nhân, may lòng trời chiếu tới mà thí đức, mong được điềm lành yến bay, há chẳng toại bình sinh ước nguyện”.
Nghĩ vậy, ông bèn dâng biểu lên Triều đình, tạ Triều về quê chỉ giáo tập sỹ tử, trẻ nhỏ, làm thuốc cứu dân, chuyên làm một nghề mà thôi. Dựng phúc lấy dân làm gốc, chẩn bần dưỡng lão, cứu nạn, phù nguy, không việc gì là không hết lòng, chẳng nghĩ danh lợi, chăm lo công đức, hao tán tài sản hơn nữa. Thời gian này, quê ngoại bà thứ nhất ở trang Hậu Tranh, nghe danh ông, mời ông về làng quê ngoại để dạy sỹ tử, hai ông bà đều về quê. Quê đó có chùa Quang Minh, vốn là nơi danh lam cổ tích, sơn thủy hữu tình, rất có linh ứng, người người mọi nơi hiếm con đến cầu tự ở chùa này. Ông thường đến chùa hành hương mật đảo, vợ chồng thành tâm một lòng cầu tự. Một ngày mồng 1 hai ông bà đến cầu nguyện, ở lại ban chiều.
Nửa đêm ông nằm mộng thấy 1 vị sư già cầm 1 chiếc gậy chỉ vào cây thông to và bảo ông rằng: “Vợ chồng ông rất thành tâm đã thấu lòng trời. Trời cho cây đại thụ đó,đem về để tu bổ gia đường, làm cột trụ”. Ông thưa lại cây thông to lớn thế, làm sao chặt mà đem về được. Vị sư già lấy tay vẫy 1 cái, cây thông bỗng hóa thành 1 con rồng xanh cuốn xung quanh ông ba vòng. Ông tỉnh dậy mới biết là nằm mộng, ông bèn nói với bà rằng: “ Tôi mộng như thế có lẽ là điềm lành cho phúc nhà”.
Được khoảng 100 ngày thì bà có thai, mang thai 13 tháng, đến năm mậu thìn, tháng giêng, ngày mồng 1, giờ tý, chợt thấy gió to chuyển động, mưa nhỏ bay quanh nhà, hương thơm phưng phức, khí lành rạng rỡ, bà sinh hạ được 1 trai, mặt mũi phương phi, hình dung cao lớn, thần phong lẫm liệt, tướng mạo khôi kỳ, sắc như hồng phấn, mày ngài, mắt phượng, mũi hổ, mặt rồng, hai má chiều thiên, tam đình bằng phẳng, tay dài quá gối, cả ngày trời đất u ám như đêm, hai mắt không mở, không khóc, ông rất lấy làm lo: Con vừa mù, vừa câm, tưởng như yêu ma oan trái gì đây, được 7 ngày thì 2 mắt mở, sáng như sao trời lóng lánh, tiếng nói như sấm vang, bố mẹ rất lấy làm mừng, ngày ấy là ngày mồng 7 tháng giêng, nhà mở tiệc ăn mừng coi như hòn ngọc trên tay.
Được 1 năm thì biết nói, 5 tuổi biết âm luật thơ, chín tuổi thì thiên tư hiếu hữu, trung hào, bẩm tính thông minh trí tuệ, bố mẹ đặt tên là Trí, từ đó cha dạy con được 3 năm, đĩnh ngộ phi thường, nghe 1 biết mười, 14 tuổi, bách gia chư tử, không gì là không biết, thấu triệt đạo lý Khổng Mạnh, mọi vẻ tinh thông, kể cả binh pháp Tôn Ngô, 16 tuổi trên thiên văn, dưới địa lý, giữa nhân sự, không vật gì điều gì là không tinh hiểu.
Năm đó ngày 10 tháng 9 cha mẹ đều mất, ông cảm động đức dày cha mẹ, chôn cất ở quê ngoại, sau 3 năm báo phục rồi, đưa hài cốt bố mẹ về Thanh Hóa, động Lôi Nham quê cũ, tu bổ từ đường. Được 1 năm gia tộc có ít người nương tựa, lòng ông khẳng khái bỏ chí công danh, không đam tài sắc,các phú hào trong làng xã, nhiều người muốn gả con, lòng ông sớm hôm đèn nhang kính thờ cha mẹ đơn thanh, chiếc ảnh, bút mực làm bạn mà thôi.
Chỉ hiềm là chưa chọn được người nội trợ, gia tài hao tán, ruộng đất sạch không, bốn vách gió lùa, nhà như khánh rỗng, ông thường than rằng: “Cha ta thường cưu mang nghìn người, mà không cứu được cái nghèo của 1 người con”.
Gia đình quẫn bách, ông lấy làm xấu hổ, không bằng đi tìm nơi luyện tập, ủy thác cho chị ruột giữ gia đường, phong bộ, ông lại tìm về quê ngoại. Ngày ấy, đến trang Chu Xá, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng. Tìm xem địa thế, thấy rõ huyệt chân long nổi lên, chia làm 2 nơi, ông theo long mạch đến Chu Xá, một mảnh thanh long nổi lên uốn khúc như rắn đi thẳng đến cuối sông, thế đất như 2 con mắt cùng mở.
Đó là 2 cái giếng đầu rồng là chính cục, hướng về phía trước, có 1 dãy núi nhỏ ôm lấy xung quanh, phía tây nam bao vây lấy ấp. Núi như các ngôi sao la liệt ở đường trước, bảng với bút ứng đối với nhau, voi, ngựa,cờ, trống triều lại, đột nổi lên phía trước, phía sau nước quanh róc rách, trầm ao, ruộng nương hiện rõ, dân ở tựa vào thân rồng, hòn núi vây quanh 2 mặt, phía nam ngựa hướng chiếu vào, phía bắc phượng hoàng múa cánh, địa thế xung quanh bằng phẳng, thật là một mảnh đất chân long tú khí, quả là 1 quý địa.
Ông đi bộ xung quanh tả hữu thấy 1 cái quán bên cạnh dân ở, hai phía hồi long tràn về điền trạch, đó chính là cái thế đai bảng hình rùa, ông bèn ngồi chơi ở quán đó, trông ra bốn mặt trang ấp, lúc bấy trời đã chiều tà, trời sắp tối. Ông nghĩ rằng: Nơi đây không có ai quen mà vào trọ, chợt thấy 1 ông thầy chùa đang đi tới quán, thấy ông ngồi ở đây mà trời đã tối liền hỏi rằng: “Trời tối thế này người nào ngồi ở quán, có việc gì?” Ông đáp rằng: “Ta vốn là nhà nho, nhàn du phong thủy, gặp trời tối không có nơi trọ nghỉ chân, vì thế tạm lưu ở quán này 1 đêm, mai mới đi được”, vị sư nghe vậy, liền mời ông về chùa nghỉ, ngôi chùa ở trang Chu Xá lúc đó gọi là chùa Liên Hoa, ông nói với vị hòa thượng: “Tôi từng xem địa thế, địa hình nơi đây đều là hoa sen, hoa phượng, phía sau cái quán ”hướng mão chuyển chân dần” mà ở càn tốn. “Tốn thủy đáo đường là long cách. Trước cái trầm sau con sông đều là quý cách chân long.
Đêm ấy, ông ngủ ở phật đường, làm bài thơ rằng:
Nhàn quan phong thủy nhất hồ thiên
Tứ diện sơn hà các bảo tuyền
Nhất phiến chân long giai quý cách
Công khanh hầu bá thế tương truyền
Dịch là:
Nhàn xem phong thủy một vùng trời
Bốn mặt sơn hà ôm ấp coi.
Một mảnh chân long là quý cách.
Công hầu khanh tướng nối đời đời.
Đêm hôm ấy , nhân dân ở trang Chu Xá hốt nhiên kinh sợ,chó ngoảnh lên trời cắn, phụ nữ, nhi đồng đều mang bệnh, không xót một người nào. Các họ ở trang Chu Xá gồm có: Họ Phạm, Nguyễn, Trần, Đỗ, Ngô, Dương, Vũ, Đào, Lê, Bùi, Đặng, Đoàn, một trang chia làm 2 khu vực.
Nhân dân thấy điều quái dị như thế, làm lễ tống tiễn thiên thời, nửa đêm cúng lễ xong, ai về nhà nấy, đến đầu canh năm, mọi người lại thấy mộng, thấy 1 ông quan mũ áo tề chỉnh cưỡi con ngựa hồng, đai vàng rạng rỡ, theo sau mấy trăm người tay cầm long đao thẳng tới trong làng họ triệu tập dân mà nói rằng: “Hỡi dân chúng nay có phúc thần đi qua xem địa hình, trú ngụ ở chùa, ta là chủ tể già nom trông coi khu này, thấy thần binh như thế phù tòng rất đông, nhiễu vào dân sự, bọn các ngươi nay muốn được yên, kíp sắm lễ vật tới chùa bái hạ. Mọi người xin làm thần tử, thần binh nghe mệnh lệnh đó thì điều thu hồi, không dám nhiễu loạn, dân chúng mới được yên.
Nhược bằng điềm nhiên vô lễ, sẽ bị trách lỗi. Việc là Hoàng Thiên đã định, đã có sắc mệnh, đã báo cho ta biết trước”. Nhân dân tỉnh ra, làm theo lời mộng, sáng hôm sau mồng 10 tháng giêng, hội đồng các họ đều nói rõ mộng tối trước, ai nấy đều lấy làm lo, liền ra chùa để xem hư thực. Đầu giờ dần ngày ấy, ông từ biệt thầy chùa ra đi, lại đến quán sở, ông đi đã lâu dân mới tới hỏi, hôm qua có người nào trọ với thầy không? Thầy chùa nói rằng: “ Có 1 người xem tướng đất, ở trong chùa với ta, nhân vì người ấy vào quán xem đất, trời tối ta mời về chùa nghỉ. Chưa sáng đã đi rồi, nhưng mà ông ấy còn đang xem đất, chắc chưa đi xa đâu”.
Dân chúng và thầy tăng đi bộ thẳng đến quán, thắy ông đang ngồi xem địa lý, dân chúng hỏi: Ông là người ở đâu lại đây? Mà sớm đã ngồi đó. Ông nói tôi vốn xem phong thủy tối qua nghỉ ở chùa, vì thế sáng đi, dân chúng thầm tưởng đúng như thần báo mộng và hỏi thêm rằng: ÔNg chuyên làm nghề phong thủy hay có nghề gì nữa! Ông cười đáp rằng: Tôi chủ yếu là gia truyền thi lễ, ngồi dạy sỹ tử, ngoài ra bách nghệ không việc gì là  tôi không biết.. Dân chúng bảo nhau rằng: Hay dân ta không có thầy dạy trẻ, dám xin rước người về nhà.
Ông nghe vậy lòng cũng muốn ngồi dạy học và cũng quý nơi đây có tú khí đại cục chân long, bèn về nhà phú ông họ Phạm tạm ở, đợi sau tu bổ trường sở. Ông ngồi dạy học được 1 tháng, dân làng cũng chưa yên ổn, còn nhiều người sinh bệnh, nên bảo nhau: Thần đã mộng trước thật là phúc cho dân ta, phải làm lễ, xin làm thần tử, thì bệnh mới chữa khỏi được. Mấy hôm đó biện lễ vật, đem đến nhà họ Phạm để tạ ơn và cáo rõ thần báo mộng. Nay xin làm thần thứ để được yên.
Ông nghe trong lòng thầm tưởng rằng: Việc do thiên định bèn bằng lòng. Từ đó dân chúng bệnh tật đều khỏi và xin ông xem đất để làm trường sở. Ông truyền lập 1 sở ở Long đầu chính cục, phía dưới dân ở, hai giếng tả hữu là 2 mắt rồng, đằng trước là sông bao quanh, phía ngoài là cờ, trống, dù, tán, voi, ngựa, đao, bút, tất cả đều ứng lập chiếu về hướng trước con thanh long, phía sau , nước vây quanh làng nơi dân ở, phía xa xa la liệt ngôi sao vàng, bút bảng đều ứng lập hướng ất tân kiêm mão dậu tả hữu sánh vai, sao vàng ứng trước, mạch nước vây quanh, rồng ngâm 2 mảnh, tả hữu oanh hồi. Trường sở hoàn thành mời ông đến khai trường giảng dạy. Lúc đó ông Phạm Ngũ Lão ở làng Phù Ủng, lập được công lớn, làm quan triều nhà Trần đến chức thái bảo, thuộc quyền tiết chế của Hưng Đạo Vương. Một hôm Ngũ Lão chơi quê, họp các sỹ tử lại để tập văn chương, ông cuộn 1 quyển văn để trong tay áo, ngày hôm sau đem nộp quyển ở trường.
Đêm ấy Phạm Ngũ Lão nằm mộng thấy 1 người con trai khăn áo chỉnh tề, càm 1 quyển văn từ ngoài vào đứng trước cửa trường. Ngũ Lão hỏi rằng: “Sinh viên ở đâu đến tập?” Ông thưa rằng: “Tôi vốn là la hán tông thiên thần ở nước Việt Nam” nói chưa hết, Ngũ Lão chợt tỉnh mới hay là mộng. Sáng mai giờ dần thấy ông đúng diện bộ trong mộng, không sai chút nào, liền mở quyển xem văn thật là quảng bác uyên thâm, kỳ dị vô định. Hỏi tên họ? Ông thưa rằng: “ Tôi là họ Phạm tên Sỹ, vốn người ở Ái Châu.
Cùng đồng họ nên Phạm Ngũ Lão rất yêu, rất trọng coi ông như anh em thủ túc chí thân, chí ái, sớm hôm không rời nhau. Khi Phạm Ngũ Lão vào triều cho vời ông vào yết kiến Hưng Đạo Vương, thấy diện mạo khôi kỳ, thử tài nghệ văn võ tinh thông, không gì là không thấu suốt. Trong triều lúc bấy giờ ít ai sánh kịp, bèn tiến lên Thái tôn hoàng đế bệ kiến, thử tài học ứng đói như nước chảy, không biến sắc. Trong Triều lúc bấy giờ có Trần Íach Tắc, Dã Tượng, Yết Kiêu đều là những người võ nghệ nổi danh, nhưng không bằng ông liền ban cho ông chức Tham Nghị, từ đó, ông ở Triều giúp việc 3-4 năm lại thăng lên chức tham tri bộ Lễ, sau thăng lên Đô đài Ngự Sử.. Lúc đó vua tôi hợp sức thiên hạ thăng bình.
Vua sai ông đi tuần thú các đạo, phủ, huyện, giúp già nuôi khó phủ dụ nhân tình, nhân dân đều cảm đúc. Một ngày ông về Ái Châu bái yết gia tiên, sửa xong nhà thờ, viếng thăm mồ mả, mở yến tiệc khao thưởng quân lính và họ hàng làng nước thân thuộc, trong khoảng 10 ngày giúp cho chị và họ hàng làng nước thân cận, mỗi nơi là 100 hốt bạc làm vốn, chung mua ruộng đất. Ông du binh 1 tháng đến Chu Xá, phủ Thượng Hồng đạo Hải Dương, (ngày ấy là ngày 12 tháng 8) dân chúng, gia thần đều đến bái hạ ông vào trường sở đóng quân, mở yến tiệc, mời các cụ phụ lão đến dự yến. Ông mừng nói với các cụ rằng: “Tôi cùng dân làng, nghĩa do trời định, cương thường muôn thưở, đạo không đỏi thay. Nay ơn được hiển danh ở triều Trần là nhờ Ngũ Lão danh thần tiến cử.
Nay có 10 hốt vàng xin giúp cho gia thần, dân làng để làm vốn về sau, sửa sang trường sở làm hành cung để dự yến hoặc đi về trú ngụ, ông bèn làm bài thơ rằng:
Thanh long tú thủy địa hình cường.
Sơn thủy bao hàm nhiễu tứ phương.
Chu Xá long đầu chân quý cục.
Cung đình thế thế xuất tài lương.
Dịch là:
Rồng xanh cảnh đẹp địa hình hay.
Sơn thủy bao vây bốn mặt đây.
Chu Xá đồng rồng là quý cục.
Cung đình đời nối lắm hiền tài.
Khi ăn yến xong, ông liền tiến quân đi, họ làng đều muốn theo, xin làm thủ hạ, gia thần. Tất cả là 47 người, họ Phạm 8 người, họ Nguyễn 6 người, đều cho làm hậu cận. Xưa là môn sinh, nay là thần tử, tình sư đệ hay như thế đấy. Ông phụng mệnh về Triều được vài năm thì Thái Tông băng hà, Nhân Tông tức vị phong ông làm Rực hổ hầu, thái bảo tướng quân, nhiệm trấn Châu Hoan.
Lúc đó quân nhà Nguyên do Ô Mã Nhi làm thống tướng, Nguyễn Bá Linh làm phó tướng, đưa một trăm vạn tinh binh áp cảnh biên giới ta, trống đánh vang trời, cờ bay rợp đất. Thư báo gửi về ngày 4-5 lần, đại đồn giặc ở đông Bộ đầu, Hải Dương tự xưng là Mông Cổ tặc, quân đến đạo Sơn Nam, quận Cửu Chân, Sông Thao đạo Sơn Tây rồi đến các Châu Mường ở Tuyên Quang,Hưng Hóa, 16 châu, động đạo kinh bắc, Lạng Bình, Cao Bình, tất cả đều bị quân Nguyên chiếm giữ, thủy bộ đều tiến, thế nước nguy nan,Vua bèn triệu hồi quâng thần nghị bàn đánh giặc, Vua phong Hưng Đạo Vương làm tiết chế ngũ đạo kiêm thủy bộ thượng tướng quân, Trần Ích Tắc làm thống lĩnh đạo Sơn Nam Bình nguyên đại tướng quân, Phạm Ngũ Lão làm tham tán trung quân, Sỹ Công làm tiết chế đạo Hải Dương, Bình nguyên đại tướng quân, Dã Tượng, Yết Kiêu thống lĩnh kinh bắc, Bình nguyên đại tướng quân để nghênh chiến với quân Nguyên.
Riêng nói về Sỹ Công thống lĩnh đạo Hải Dương, Trần Khánh Dư làm phó tướng, Trương văn Hổ làm thống lĩnh hậu quân, đề binh thẳng tới Hải Dương, phủ Đông Châu, đạo, điền chia khu vực, lập doanh đồn, lại sai Trần Khánh Dư đi thuyền thẳng tới Hải Giang, thẳng tiến tới Châu Vân đồn xây đồn ngự chiến, cùng với quân Nguyên đánh trên trăm trận ( lúc này số quân của ông là 3 vạn, mộ thêm 5 nghìn, trong đó 242 người là ở Chu Xá trang. Giặc thấy ông vũ dũng như thần không dám lên. Lúc này Vua chống quân Nguyên ở Sông Thao.
Quân Nguyên thua phải lui. Vua lên thuyền đến Hải Dương hợp hội chư tướng. Hưng Đạo Vương lại triệu tướng quân ở các đạo dẫn binh đến Đông bộ đầu quyết kế phá tan quân Nguyên. Từ Vân Đồn đến Bạch Đằng Giang, bốn mặt vây đánh. Lúc này , mây mù ngập trời, gió mưa ào ạt, ngói vỡ cát bay, quân Nguyên thua chạy. Bắt được Ô Mã Nhi ở trước trận, chém Nguyễn Bá Linh làm 3 đoạn, chiến tướng của quân Nguyên hơn 500 tên với quân lính 3000 chết chìm ở dòng sông, nước sông máu đỏ, thu tất cả khí giới, cờ, trống đem về kinh đô. Giặc Nguyên bình xong, trăm quan rước Vua về Kinh.
Tướng giặc Ô Mã Nhi đóng cũi giao về Tàu. Vua lại sai ông về đạo Hải Dương chiêu dụ bọn phiêu tán, chẩn cấp tiền gạo để nhân dân an cư lạc nghiệp, ai ai đều ca ngợi công đức của ông. Ông về đến trang Chu Xá (mồng 10 tháng 11) ông dựng 1 quán sở, sau đổi là nghị sở để đóng quân, phát tiền 5000 quan, 5000 phương thóc để phát chẩn cho các phụ lão, hội yến 3 ngày, cấp thêm cho dân 10 hốt vàng và nói rằng: “Tôi cùng dân chúng mọi việc đều do thiên định, nghĩa lớn sư, đệ, quân thần, tình lưu muôn thưở, không phải là việc làm sớm hôm, cung quán các nơi, khi sống thì làm nơi dự yến, khi chết thì làm nơi phù tửu, không được rời đi nơi khác, ngày ấy dân chạy loạn trở về , trước sau chia làm 2 khu thứ tự thu tiêu chuẩn , mọi người dân đều tuân theo lời ông dặn, ông bèn làm bài thơ:
Thiên địa sinh ngô tác thế nhân
Sinh vi danh tướng, hóa vi thần.
Sơn hà bất tử , anh hùng cốt.
Chu Xá cung đình cựu chí tân.
Dịch là:
Trời đất sinh ta ở thế gian.
Sống làm danh tướng hóa làm thần
Non sông bất tử, anh hùng cốt
Chu Xá cung đình mãi mãi tân.
Thụ yến xong (lúc này là mồng 1 tháng chạp). Ông từ trong cung đột nhiên ra sân lấy tay vẫy mọi người và nói rằng: “Ta ngồi ở chỗ này, chính là chỗ hàm rồng hướng vào đâu sông lấy nước…” nói chưa dứt , chợt có 1 trận cuồng phong nổi dậy, trời đất tối om, sóng gió ầm ầm, thấy bóng con rồng vàng trong mình ông bay lên biến mất. Quan, dân ai thấy thế ai nấy đều sợ hãi, lập tức vây màn 4 mặt rồi cấp báo lên Triều đình. Vua rất thương xót, sai các danh tướng binh nguyên đều về thăm viếng, truyền cho dân quán sở làm lễ linh táng. Hưng Đạo Vương, Ngũ Lão, Trương Hổ, Dã Tượng, Trần Công đều về thăm hỏi, ban cấp tiền kho 3000 quan, lập công chính thờ cúng, lấy Chu Xá trang làm thang mọc ấp là nơi thần hóa, miễn cho binh lương xuân, thu, sai quan đến tế. Lúc ấy quan Triều đình phụng mạng về nơi ông mất, đã thấy mối đùn thành ngôi mộ lớn ( Ngày ấy là 12 tháng chạp)
Truyền đắp 3 lớp thạch khối, làm lăng, sửa sang cung sở để thờ cúng, cung ở xứ trên, lăng ở cấp dưới trước sân. Quan Triều về tâu, Vua bèn phong Mỹ Tự, Trí Tự, tương bình cư sĩ đại vương, gia phong thượng đẳng phúc thần. Vua lại cho dân sở tại Chu Xá Phạm Công Chất, Phạm Công Tuyên, Nguyễn Công Hanh, Trần Công Vĩnh, Đỗ Công Hàn làm quan điều trưởng địa để giữ cung, lăng, hương, đèn quét dọn. Năm ông này sau 100 tuổi đều được làm bộ hạ, thừa hưởng tế tự, tiền lương của kho nhà nước.
Đời thứ 12 nhà Trần, vận nước cáo chung, họ Hồ tranh quyền, nhà Minh phiếm loạn. lúc này ông Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Ái Châu dẹp xong loạn Minh, lên ngôi Hoàng đế, đặt tên quốc hiệu là Thuận Thiên, truyền đến các đời vua Thái Tôn, Thánh Tôn, Nhân Tôn, Thần Tôn, Kinh Tôn, Túc Tôn, Ý Tôn, Huệ Tôn, Anh Tôn, Chiêu Tôn, Vua Chiêu Tôn bị Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, cha truyền con nối được 5 đời đến Trang Tôn tức là Thái tử của Chiêu Tôn cùng quan đại thần họ Nguyễn làm chức Thái úy khởi nghĩa ở Ai lao diệt trừ. Vua truyền Thái úy đến các nơi đền thờ thượng đẳng thần mật đảo âm phù diệt Mạc. Nếu thành công sẽ bao phong thượng đẳng phúc thần. Khi đến trang Chu Xá đền Sỹ Công đại vương làm lễ mật đảo. Đêm ấy quan Thái úy dừng xe nằm ở chính tẩm, nửa đêm mộng thấy voi, ngựa, binh mã đến Đền, một ông quan mũ áo thêu thùa đai ngài ngà ngọc xuống xe vào trong Đền. Thái úy đứng dậy hỏi: “Ngài là quan chức gì về đây?” Đáp rằng: “Ta là danh tướng Trần Triều nay nghe Lê Hoàng khởi nghĩa dẹp Mạc, tướng quân có lòng muốn cầu nguyện, xin người giúp giữ nước, tôi xin lập công. Nói xong quân sỹ đi theo đều cầm khí giới tiến lên, chuông trống nổi dậy. Quan Thái úy cả kinh tỉnh dậy, bèn truyền phụ lão đem thần hiệu tứ bảo đặt vào trong hàm bái tạ rồi đi. Sau đó cùng với quân nhà Mạc đánh nhau ở địa phận Thượng Phấn trang, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, một trận đánh quân Mạc. Trăm quan rước Vua Trang Tôn về Thăng Long lên ngôi Hoàng đế, khen thưởng ba quân…
Thái úy tâu việc thần Chu Xá có công. Vua bèn phong: Chu Xá trang đại vương từ, y cựu phụng sự, phong thêm mỹ tự: “Bảo quốc đồng hưu vĩnh vị tăng sức, lại phong: Dực chính tương bình tế trị cư sĩ đại vương”. Tăng phong: “ Thông, Minh, Chính, Trực,Văn, Võ, Thánh thần, phù tộ dực tốn, nghị hùng kiệt đoán, cương nghị hùng tán, đại lược tuấn lương đế thế uy linh hiển ứng. Thượng đẳng thần chiểu y cho dân Chu Xá phụng thờ, miễn tất cả việc binh lương, từ đó quốc đảo dân cầu đều có linh ứng, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, cho nên trải 5 đời đế vương bao phong mỹ tự thượng đẳng, lộc vinh không dứt. Thần sinh, thần hóa các tiết khánh hạ chữ Húy, sắc phục đều kê ở sau:
1.     Ngày thần sinh mồng 1 tháng giêng hành lễ, sau 1 ngày quét dọn cung đình, thổi xôi, trầu, rượu, ngày chính mổ trâu, lợn, mở xướng ca, đánh cờ suốt 15 ngày.
2.     Ngày thần mất mồng 1 tháng chạp.
3.  Khánh hạ mồng 7 tháng giêng lễ xướng ca.
4.     Ngày Khánh hạ 20 tháng giêng tùy nghi xướng ca như ngày sinh nhật
5.     Ngày Khánh hạ mồng 10 tháng 3 như ngày sinh nhật.
6.     Khánh hạ 12 tháng 8 như sinh nhật.
7.     Ngày trùng cửu, trùng thập khánh hạ.
8.     Mồng 10 tháng 9.
9.     12 tháng 11.
Húy: Kiêng những chữ : Sỹ, Dực, Hổ.
Lệ cấm: Mặc áo màu vàng,, màu tím, cấm tên phụ, mẫu.
Niên hiệu Hồng Phúc nắm đầu ngày 10 tháng 5.
Hàn lâm Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính phụng soạn.
Niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 2 ngày 15 tháng 3.
Quốc Giám Phủ tri viên Hùng lĩnh Thiêu Khánh Nguyễn Hiện phụng y.
Niên hiệu Thành Thái năm thứ 12 ngày mồng 1 tháng 5, mộc ân đệ tử.
Châu Khê Xá toàn dân thượng hạ tuân phục.
Nguồn tin: chaukhe.com

Văn bia thánh Phạm Sỹ

Thường nghe rằng:

Thánh thần thượng đẳng, công đức sự nghiệp vượt quá bình thường mà sau đó trời cao giao cho nhiệm vụ. Chủ tế và dân chúng cùng nhờ được sự che chở.
Kính nghĩ rằng tôn thần:
Là cây đại tùng hóa thân, là con Hoàng Long ứng thế.
Động Lôi Nham hun đúc, Thần La Hán dáng sinh.
 
Lúc thiếu thời:

Ngài bẩm chất thông minh.
Thiên tư hiếu thảo, học xuyên Khổng Mạnh cung đường.
Tài giỏi Tôn ngô thao lược.
Thật là văn võ toàn năng.
 
Khi lớn lên:

Văn chương uyên bác
Phạm Thái Bảo kiến tri
Tài nghệ tinh thông
Hưng Đạo Vương tiến cử.
Vua khen kỳ tài, liền được trọng dụng.
“Tham nghị trong triều, tuần tra Phong hóa”
Nghiễm nhiên là khuôn mẫu đại thần.
Đương khi nhà Trần nước nhà gặp nạn ngoại xâm, Ô Mã Nhi đem 100 vạn hùng binh tiến vào Cao bằng, Thái nguyên lãnh thổ, khí thế dũng mãnh như roi quất đứt dòng, định nuốt trôi một dải Hồng hà.
Tình hình khẩn cấp nguy nan như thể chẻ sợi tóc, Đại dương thiết chế một đạo Hải dương, ung dung một vị tướng nho quắc thước, trọng thần biên khổn. Ngài cùng Thượng tướng Trần Hưng Đạo và Tham tán Phạm Ngũ Lão chung sức đánh giặc Nguyên, lẫy lừng như sấm vang chớp giật trong trận Vân Đồn, Bạch Đằng Giang phá tan quân Nguyên, bắt được tướng giặc, một xe không thoát, một ngựa không còn, dẹp xong giặc Nguyên giữ vững giang sơn nhà Trần, yên như thái sơn bàn thạch.
Ghi lại đương thời, kỳ mưu chiến thắng một đạo Hải dương, tiết chế công to dẹp Hổ.
Về sau nhờ uy linh âm phù.
Thần kiếm đến Châu Xá, Thái úy cầu đảo mà giúp công diệt Mạc.
Than ơi! Mưu lược bao la, công lao to lớn, lịch sử còn ghi, khói hương nghi ngút.
Nơi đây:       Cung đình Châu Xá
                    Trăng nước Châu giang
                    Ánh trăng lồng lộng
                    Ngựa đá kêu vang
                    Dòng nước nao nao
                    Cờ bay khắp chốn
                    Anh linh hiển hách
                    Đại vương vang danh vạn cổ.

Bia ghi: Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 5, trung tuần tháng giêng.
Đưa bản dịch lên Website chaukhe.com Q.Tiền

Tiến sỹ Nho học huyện Đường An (15 TS họ Phạm)

Bia văn chỉ huyện Đường An

Trên khu đất đình làng Hoạch Trạch tức làng Vạc thuộc xã Thái Học huyện Bình Giang còn nhiều bia đá. Trong số ấy có bia văn chỉ huyện Đường An.
 Bia cao hơn đầu người đặt trên bệ đá, 2 mặt khắc chữ Hán. Một mặt đề: “ Đường An văn chỉ bia” nói mục đích dựng bia để tôn sùng đạo Khổng chấn hưng văn hiến và ghi tên những người đã góp công của vào việc xây dựng bia văn chỉ. Một mặt đề: “Lịch dai tiên hiền bi” khắc tên các vị hiền tài của các làng trong huyện từ trước đến nay.
Đường An là tên huyện Bình Giang từ thế kỷ 12 thời nước ta thuộc nhà Đường nước Tàu, từ năm 618 đến năm 907. Năm 1885, vì kiêng tên vua Đồng Khánh là Đường mà đổi thành Năng An. Năm 1895, bỏ cấp phủ lấy tên phủ Bình Giang thay cho tên Năng An.
Ngày xưa ta học chữ Hán theo đạo ông Khổng Tử, nên ở kinh đô, ở ty, sở xác tỉnh đều xây văn miếu, ở từng huyện xã xây văn chỉ để thờ đức Khổng Tử và các học trò của ông. Hằng năm cứ đến mùa xuân, mùa thu, những người có học vị ở từng cấp lại tụ họp làm lễ đức Khổng Tử. Văn tế mời các vị có học vị, có công lao với dân, với nước đã qua đời gọi là các bậc tiên hiền về cùng hưởng.
     Tiên hiền bao gồm những người đỗ học vị tiến sỹ và những người không đỗ tiến sỹ nhưng làm quan có nhiều công trạng, được phong chức tước cao hay mở trường dạy học, hay nuôi nấng con cháu nhiều người đỗ tiến sỹ. Ngày xưa học trò thi hương đỗ cử nhân, mới được vào thi hội. Đỗ thi hội mới vào thi đình. Thi đình để phân những người đỗ thi hội làm 3 loại: Đệ nhất giáp tiến sỹ được học vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa; Đệ nhị giáp tiến sỹ được học vị hoàng giáp; Đệ tam giáp tiến sỹ được học vị đồng tiến sỹ. Từ thời Lê về sau cứ 3 năm một lần thi hương và thi hội.
     Bia văn chỉ huyện Đường An dựng năm Thiệu Trị thứ 4, triều Nguyễn Gia Long năm 1844. Bài văn bia do cụ đỗ tiến sỹ khoa Bính Tuất 1826 chức Bắc Ninh học chính, quán làng Lương Đường kêu là Vũ Như Phiên soạn. Làng Lương Đường(Lương Ngọc) nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang, tỉnh hải Dương.
     Bia ghi họ và tên, học vị, chức tước 109 tiên hiền của 24 xã thuộc huyện Đường An.
     Lược kê tiên hiền từng xã như sau:
1.     Mộ Trạch có 42 tiên hiền, trong đó có 36 tiến sỹ gồm: Một trạng nguyên: Lê Nại; 9 hoàng giáp là: Vũ Hữu, Vũ Đức Khang, Vũ Quỳnh, Vũ Đôn, Vũ Cán, Lê Tử, Vũ Bạt Tụy, Lê Quang Bí, Vũ Đình Lâm;  26 đồng tiến sỹ là: Vũ Nghiêu Tá, Vũ Hán Bi, Vũ Nguyên Trinh, Vũ Hằng Trình, Vũ Lân Chỉ, Nhữ Mậu Tô, Vũ Tĩnh, Vũ Lương, Vũ Trác Lạc, Vũ Đăng Long, Vũ Công Lượng, Vũ Bật Hài, Lê Công Triều, Vũ Duy Doãn, Vũ Công Bình, Vũ Duy Khuông, Lê Cảnh Tuấn, Vũ Cầu Hối, Vũ Công Đạo, Vũ Đường, Vũ Đình Thiều, Vũ Trọng Trình, Nguyễn Thường Thịnh, Vũ Đình Ân, Vũ Phương Đề, Vũ Huy Đĩnh; 6 tiên hiền không có học vị tiến sỹ là: Vũ Nạp, Cự Họ Tạ, Vũ Duy Chí, Vũ Phương Tượng, Vũ Văn Hành, Vũ Phương Nhạc.
2.     Ngọc Cục có 8 tiên hiền trong đó có 2 hoàng giáp là: Bùi Danh Kiên, Trương Hữu Bùi; 6 đồng tiến sỹ là: Vũ Thiệu, Vũ Huy Viên, Phạm Điển, Phạm Liễn, Phạm Hữu Dung, Đào Tuấn Ngạn.
3.     Lương Đường có 8 tiên hiền trong đó có 2 hoàng giáp là: Đoàn Đức Pho, Nguyễn Dung; 6 đồng tiến sỹ là: Nguyễn Luân, Phạm Dương Úng, Vũ Huy Viêm, Phạm Quy Thích, Vũ Đức Khuê, Vũ Như Phiên.
4.     Hoạch Trạch có 7 tiên hiền trong đó có 2 hoàng giáp là: Vũ Tụ, Vũ Công Điệu; 5 đồng tiến sỹ là: Trần Vĩ, Nhữ Tiến Dụng, Nhữ Đình Hiền, Nhữ Trọng Thai, Nhữ Đình Toản.
5.     Đan Loan có 6 tiên hiền trong đó có 1 thám hoa là: Vũ Thạnh; 5 đồng tiến sỹ là: Bùi Thế Vinh, Vũ Huyên, Vũ Huy, Vũ Trần Tữ, Đào Vũ Hướng.
6.     Đình Tổ có 4 tiên hiền trong đó có 2 đồng tiến sỹ là: Vũ Đăng, Vũ Công Phự; 2 tiên hiền không có học vị tiến sỹ là: Trần Tiên và Đỗ Cảnh Lạc.
7.     Thời Cử có 3 tiên hiền, trong đó có 1 bảng nhãn là: Nguyễn Toàn An; 2 đồng tiến sỹ là: Nguyễn Lũ và Nguyễn Công Đạt.
8.     Lôi Khê có 3 tiên hiền trong đó có 1 đồng tiến sỹ là: Vũ Sâm và 2 tiên hiền không có học vị tiến sỹ là: Chu Lộc và Phạm Nguyện.
9.     Đào Xá có 3 đồng tiến sỹ là: Phạm Hựu, Phạm Quang Chiêu, Đào Huy Điển. (Nay Đào Xá thuộc huyệ Ân Thi)
10. My Thứ có 3 đồng tiến sỹ là: Lê Kim Quế, Lê Kim Bàng, Phạm Minh.
11. Lỗi Dương có 2 hoàng giáp là: Phạm Tăng và Phạm San.
12. Tuy Lại có 2 đồng tiến sỹ là: Vũ Loan và Vũ Mật.
13. Châu Khê có 2 đồng tiến sỹ là: Ngô Văn Huy và Hoàng Xuân Linh.
14. Trâm Khê có 2 đồng tiến sỹ là: Nguyễn Kính Chỉ và Nguyễn Đức Phu
15. Tòng Tranh có 2 đồng tiến sỹ là: Ngô Tuy và Nguyễn Bách Tuế.
16. Vĩnh Lại có 2 đồng tiến sỹ là: Đỗ Chính Lạc và Bùi Hoàn Khánh.
17. Nhữ Xá có 1 hoàng giáp là: Lê Thọ Khảo và 1 đồng tiến sỹ la: Nhữ Tôn.
18. Hà Xá có 1 đồng tiến sỹ là: Vũ Đức Lâm.
19. Hường Gián có 1 đồng tiến sỹ là: Đinh Khắc Minh.
20. Thanh Gián có 1 hoàng giáp là: Nguyễn Bá Dong.
21. Bì Đổ có 2 đồng tiến sỹ là: Phạm Thuần Nhiên và Phạm Thiên Túc.
22. Lý Đông có 1 đồng tiến sỹ là: Phạm Nguyên.
23. Bình Đê có 1 thám hoa là: Lưu Khắc Chuyên.
24. Tuấn Kiệt có 1 đồng tiến sỹ là: Phạm Đình Chung.
Q.Tiền sưu tầm
Nguồn tin: chaukhe.com

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

Lễ hội đình Trần Xá

Đình Trần Xá thuộc thôn Trần Xá, xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trần Xá là mảnh đất được hình thành sớm, với truyền thống lịch sử và văn hoá lâu đời. Thời Lý, Trần Xá có tên gọi Trần Xá trang là vùng đất bồi ven sông Thái Bình và sông Kinh thầy Đình Trần Xá thuộc thôn Trần Xá, xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trần Xá là mảnh đất được hình thành sớm, với truyền thống lịch sử và văn hoá lâu đời. Thời Lý, Trần Xá có tên gọi Trần Xá trang là vùng đất bồi ven sông Thái Bình và sông Kinh thầy nên từ rất sớm dân cư đã tụ cư đông đúc lập thành làng mạc với một thiết chế xã hội chặt chẽ. Theo Ngọc phả tại đình Trần Xá cho biết: Đời vua Lý Nhân Tông (niên hiệu Long Phù thứ 3 - 1103), giặc Ai Lao sang xâm chiếm nước ta, nhà vua đích thân dân quân đi đánh giặc. Vua tiến binh đến địa phận trang Trần Xá thi trời đã tối bèn lập đóng quân nghỉ tại đây. Đêm đó vua nằm mơ thấy 3 người mũ áo chỉnh tề, quỳ trước mặt vua tâu rằng: "Chúng thần là ba anh em họ Phạm ở trang này, nay thấy Hoàng đế dẫn quân đi đánh giặc, xin nguyện theo trợ giúp, nhờ hồng phúc của nước nhà nhất định giặc sẽ tan". Nhà vua tỉnh dậy biết thần báo mộng, sáng hôm sau cho mời các bô lão trong làng vào yết kiến. Được các bô lão kể lại đầu đuôi sự tích ba anh em họ Phạm, nhà vua làm lễ tạ rồi xuất quân đi đánh Ai Lao.
Sau khi chiến thắng trở về, vua sai sứ thần phụng sao sắc chỉ phong tặng phúc thần cho ba anh em họ Phạm. Cho phép trang Trần Xá lập miếu phụng thờ.
Thời Trần, tại Trần Xá loan vụng sông ở phía bắc trang (theo Hán tự "loan" có nghĩa là chỗ nước hõm vào), vào năm 1282 vua tôi nhà Trần đã họp hội nghị vương hầu bách quan bàn kế sách đánh giặc Nguyên Mông lần thứ 2. Về sự kiện này sách "Đại Việt sử ký toàn thư" tập II trang 118 xuất bản năm 1998 ghi rõ: "Mùa đông, tháng 10, vua ngự ra Bình Than, đóng ở vũng Trần Xá, họp các vương hầu trăm quan, bàn về kế sách công thủ và chia đi đóng giữ những nơi hiểm yếu". Trần Xá Loan chính là vụng Trần Xá ngày nay, đây là nơi hợp lưu của hai sông Thái Bình và sông Kinh Thầy.
Ngày nay tại đống Khoai Nợ (xưa gọi là gò Khai Quang) thôn Trần Xá còn 2 cây Ruối cổ dân địa phương vẫn gọi là cọc bọc ngựa, tương truyền đây là nơi buộc ngựa của các tướng lĩnh khi xuống thuyền họp hội nghị Trần Xá Loan. Sau hội nghị và trong suốt thời gian của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, Trần Xá trở thành nơi tập kết, đồn trú quân lương của nhà Trần.
Sang thời Hậu Lê (thế kỷ 18), Trần Xá thuộc tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Vào nửa đầu thế kỷ XVIII, do chính sách hà khắc, sự suy yếu của triều đình vua Lê, chúa Trịnh, nhân dân tổng Cao Đôi đứng lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, cả vùng Trần Xá bị triệt hạ, nhân dân ly tán đi các nơi. Đến đời vua Quang Trung (1788­1792) với chính sách khuyến nông, nhân dân quay về làng cũ sinh sống xây dựng lại làng quê sau một thời gian dân ly tán.
Thời Nguyễn, Trần xá tách thành 2 thôn là Quảng Trạch và Nhân Lý thành lập đơn vị hành chính cấp xã với tên gọi xã Trần Xá, thuộc tổng Cao Đôi, huyện Chi Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Trần Xá chuyển thành một thôn thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương và ổn định cho đến nay.
Đình Trần Xá thờ ba vị thần thời Lý là Phạm Cẩm, Phạm Lang và Phạm Huy và phối thờ Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Theo các cụ cao niên địa phương kể lại: Đình Trần Xá được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Vị trí của di tích khi đó nằm trên một gò đất cao giữa làng, cách vị trí đình hiện nay trừng 500m về phía tây. Hiện nay, tại di tích còn giữ được tấm bia thời hậu Lê.
Sang thời Nguyễn, do vị trí chật hẹp; phía sau là ao lớn của làng, phía trước là đất thổ cư của dân nên các kiến trúc thời Lê đã bị phá dỡ và di tích được di chuyển đến vị trí đất chùa của làng như hiện nay. Tại vị trí cũ nhân dân vẫn gọi là đống đình. Vào đầu thế kỷ XX, đình Trần Xá được trùng tu lớn. Công việc do hai giáp của thôn đảm nhiệm, ngôi đình khi đó được kiến trúc kiểu chữ đinh gồm 5 gian đại bái và 2 gian hậu cung bề thế uy nghi. Các cấu kiện của công trình được trạm trổ tinh sảo rồng phượng, hoa lá. Năm 1953, ngôi đình bị thực dân pháp phá huỷ. Sau kháng chiến nhân dân đã dựng tạm 3 gian hậu cung để thờ tự. Năm 1999, nhân dân địa phương đóng góp công đức cùng sự hỗ trợ kinh phí của chính quyền địa phương, đình Trần Xá được trùng tu, tôn tạo lại. Hiện nay đình Trần Xá bao gồm các hạng mục chính: Cổng đình, toà đại bái 5 gian 2 chái và 2 gian hậu cung.
Hàng năm hội đình Trần Xá diễn ra nhiều kỳ đại lễ nhưng quan trọng nhất là hai kỳ lễ: Lễ kỵ nhật: kỷ niệm ngày mất của ba vị thành hoàng làng vào mồng 12 tháng 3 âm lịch và lễ kỷ niệm ngày sinh Phạm Lang, Phạm Cẩm từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 2 âm lịch. Lễ nhật kỵ tổ chức mở cửa đình từ ngày 11 để làm lễ tế, chiều ngày 13 đóng cửa đình, không có các trò chơi dân gian, quy mô lễ hội nhỏ. Lễ kỷ niệm ngày sinh của hai vị thành hoàng Phạm Cẩm và Phạm Lang, được tổ chức từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 2 âm lịch. Hàng năm đến kỳ lễ hội các vị bô lão, kỳ mục, chức dịch trong làng đã họp bàn để chuẩn bị cho công việc này. Việc đầu tiên là bầu ra ban trị sự với 12 thành viên gồm các bô lão, chức dịch và những người có vai vế trong làng và chỉ những người đàn ông mới được tham gia. Ban tổ chức đã bầu ra một người đứng đầu gọi là ông cai đám hay "Ông thượng" có trọng trách toàn quyền quyết đoán, tổ chức các hoạt động trong lễ hội. Sau khi ban tổ chức họp bàn xong, các đầu việc được giao tới các giáp và các thành viên cụ thể. Hai giáp đông và giáp tây phải trực tiếp lo sắm lễ phẩm chuẩn bị cho hội. Trong các công việc trên, việc chuẩn bị lễ phẩm, lễ tế và lễ rước của làng là quan trọng nhất, kế đó là việc tổ chức các trò chơi trong lễ hội...
Theo lệ xưa quy định lễ phẩm dâng tế của làng gồm lễ chay, lễ mặn quy định như sau:
Ngày sinh của hai ông em (lễ hội chính): 13 tháng 2 lễ cúng gồm 3 con lợn một mầu lông, 3 bàn xôi đỏ, 7 quả trứng, muối tinh và các mâm ngũ quả. rước tế xong ca hát 3 ngày.
Ngày sinh của ông anh: 22 tháng 4 lễ cúng như trên
Ngày hoá của ba ông ngày 12 tháng 3 lễ cúng gồm 3 con lợn một mầu lông, 3 bàn xôi đỏ, 7 quả trứng, muối tinh và các mâm ngũ quả...Ngày này quy định cấm ca hát.
Trong lễ hội đình Trần Xá tế lễ và lễ rước là 2 nghi lễ quan trọng nhất năm nào cũng được tổ chức. Lễ rước được tiến hành vào 2 buổi. Lễ rước ngày 12 tháng 2 làng tiến hành rước về tế nhập tịch xin mở hội. Ngày 13 diễn ra lễ rước tứ bàng do bốn làng đồng tổ chức rước giao hiếu.
Lễ rước ngày 12 tháng 2: Đây là lễ rước quan trọng nhất, công việc chuẩn bị cho lễ rước sẽ được tổng duyệt vào buổi trước hôm lễ rước diễn ra. Các chân khiêng long kiệu, long đình, cầm tán tàu cờ quạt, bát bửu đã được cắt cử rõ ràng. Chỉ những nam thanh, nữ tú đồng trinh mới được vào các chân khiêng này. Chiều hôm trước cờ hoa đã được trang hoàng đầy đủ tại đình và dọc theo tuyến rước. Dân làng mang long đình, cờ quạt, bát bửu chiêng, trống đến nhà ông Lý Trưởng rước sắc của các vị thành hoàng ra đình để chuẩn bị cho lễ rước sáng hôm sau. Sáng sớm ngày 12 dân làng đủ các thành phần kéo ra đình dự lễ. Theo quy định, các vị trí đã được phân công sẵn, đúng 6 giờ sáng, lễ rước được cử hành: Rước từ đình ra đống Mả Giao xin phép thần linh rồi rước trả lại đình làm lễ tế nhập tịch xin mở hội. Sở dĩ hành trình lễ rước như vậy vì các vị thành hoàng thờ tại đình đều hoá cùng ngày tại đống Mả Giao là nơi giáp danh giữa khu thượng và khu hạ trang Trần Xá xưa. Lễ rước cổ truyền tại Trần Xá được tổ chức với quy mô lớn. Từ sáng sớm các ngả đường đã chật cứng người, tiếng nhạc, chiêng trống rộn rã. Đi đầu đoàn rước là đội múa lân. Sau đó là tám lá cờ bát quái. Tiếp theo là đôi cờ tuyết mao, năm lá cờ ngũ hành. Kế đến 4 lá cờ tứ linh tương trương cho sự giao kết, hoà hợp giữa âm dương, trời đất, sự kiểm soát tâm linh người đi rước bằng hình ảnh các linh vật long, lân, quy, phượng. Đi sau là ban nhạc lễ gồm trống, chiêng. Tám người trong phường bát âm đi sau trống chiêng chia làm hai hàng điều khiển các nhạc cụ, vừa đi vừa cử những bản nhạc vui như: Kim tiền, Lưu thuỷ... Sau đó là hàng bát bửu do tám cô gái trẻ mặc áo nậu đỏ, quần trắng đầu chít khăn mang. Đứng trước hàng bát bửu là hai biển Tĩnh túc (tức trang nghiêm, kính cẩn) và Hồi tỵ (tức tránh xa đoàn rước). Đi sau bát bửu là hàng chấp kích do tám chàng trai trẻ mặc áo nậu đỏ, quần trắng đầu chít khăn mang. Kế đến là phường đồng văn, sau là long đình. Long đình đặt bát hương và hòm sắc vua ban cho các vị thành hoàng, sắc của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Hai bên long đình có tàn, quạt, lọng, cờ vải che kín rất tôn nghiêm. Sau long đình là đội nghi lễ gồm chấp kích, bát bửu rồi đến long kiệu đều được trang trí vải đỏ lộng lẫy. Hai Long kiệu đặt hương hoa và chiếc mũ quan tượng trương cho thần thánh ngự trị. Sau long kiệu là các bô lão, quan viên, chức dịch và dân bản trong làng và đoàn người tứ xứ với trang phục sặc sỡ. Như vậy lễ rước hội đình Trần Xá là rước sắc và rước thần. Đứng xa trông đoàn rước như một con rồng đang chuyển mình. Đặc sắc nhất phải kể đến tiết mục "Kiệu bay" với lối múa tạt ngang, tạt dọc, thoắt tới thoắt lui, chạy ào ào như bão tố, quay vòng như cơn lốc hết sức thú vị, hết thảy mọi người đứng xem chật lối chật đường cũng phải dạt ra khi kiệu bay tới. Không khí của buổi rước thật nô nức náo nhiệt trong tiếng nhạc, tiếng chiêng trống rộn rã. Ai cũng hả hê vui nhộn. Khi đoàn rước về tới sân đình, đội hình được tập kết trước sân. Dân làng rước lễ và văn chúc vào đình rồi tiến hành tế nhập tịch xin khai mở hội, lễ rước kết thúc.
Lễ rước tứ bàng ngày 13 tháng 2:Trong lễ hội tại Trần Xá thường diễn ra lễ rước tứ bàng (còn gọi là rước giao hiếu). Đây là nghi lễ đặc biệt ít nơi có được. Sở dĩ có tên gọi này là do 4 làng (Trần xá, Quảng Tân, Linh Xá, Đột Lĩnh) của tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh xưa liên kết với nhau đồng tổ chức rước giao hiếu. Theo quy ước mỗi năm tổ chức rước một lần luân phiên về các làng vào dịp lễ hội chính. Khi đến phiên của làng nào thì làng đó đứng ra đăng cai tổ chức. Như vậy, cứ 4 năm trong kỳ lễ hội, Trần Xá lại đứng ra đăng cai đại lễ rước tứ bàng của bốn làng. Với tâm thức hướng về cội nguồn, lễ rước tứ bàng của 4 làng của tổng Cao Đôi được tổ chức trên tinh thần cộng đồng với việc ứng xử giao tiếp giữa các làng, ý thức về gìn giữ phát triển các giá trị văn hoá cộng đồng. Vào ngày trọng hội các làng rước Thánh, các vị Thành Hoàng làng lễ tại đình làng mình rồi rước tới đình làng đăng cai lễ hội năm đó. Cách sắp xếp đội hình, vị trí từng làng đã được qui định trước. Khi rước tới đình làng chủ hội các làng tập trung làm lễ tế thành hoàng. Đây là nghi lễ chung của cả tổng. Đôi tế do các làng đồng cử các thành viên tham gia. Chủ tế và đội tế cũng phải được lựa chọn kỹ càng, khắt khe. Văn chúc phải soạn thảo nội dung nêu rõ được năm tháng, địa danh, tên, công đức các vị Thánh, thành hoàng của từng làng và chuyển lời cầu xin tới thánh thần, mong các Ngài ban phúc lành cho dân, cầu cho mưa gió thuận hoà, mùa màng bội thu... tới chiều thì lại rước Thánh làng nào về làng ấy. Theo thường kỳ cứ vào năm Trần Xá đứng ra đang cai thì lễ rước của làng cũng được chuẩn bị chu đáo. Quy trình lễ rước cũng được tiến hành trang nghiêm theo đúng quy định. Lễ rước cũng tiến hành rước từ đình ra đống Mả Giao rồi rước trở lại tập kết với bốn làng trước sân đình cùng làm lễ tế. Lễ rước tứ bàng khác chỉ có long đình và một long kiệu. Long đình đặt bát hương và kiệu bài vị các thành hoàng. Trong tâm thức của người dân thì lễ rước tứ bàng của 4 làng được tổ chức nhằm mục đích để các vị thành hoàng, các thánh của 4 làng được gặp gỡ hàn huyên với nhau. Vì theo truyền thuyết và các Thần phả, Sắc phong còn lại tại các di tích cho biết các vị Thánh, các vị Thành Hoàng của 4 làng đều là những linh thần, những anh hùng dân tộc, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi nên khi dân làng tổ chức lễ hội cũng là dịp để tưởng nhớ công ơn các vị tiền bối. Đây là hoạt động văn hoá dân gian hết sức độc đáo, nó không chỉ mang tính nghệ thuật cao mà còn thể hiện rõ tinh thần của cộng đồng làng xã.           
Sau lễ rước diễn ra lễ tế. Đây là một nghi lễ rất quan trọng. Đội tế được thành lập gồm từ 15 đến 17 thành viên. Theo lệ xưa, trước kỳ hội diễn ra, đội tế được duyệt lại thành viên, hoặc bổ sung thành viên mới. Đội gồm các chức danh: 1 mạnh bái là ngưưi đứng đầu đội tế, đứng chấp bái mang trọng trách tế thần. 4 bồi tế là những ngưười có phận sự giúp chủ tế trong quá trình hành lễ. 1 đông xướng và 1 tây xưưng đứng đối xứng hai bên hương án, đông xướng đứng bên phải, tây xướng đứng bên trái, chịu trách nhiệm xướng trong khi hành lễ. 2 nội tán đứng hai bên chủ tế, phụ giúp chủ tế khi hành lễ. Các quan viên chấp sự đứng ở hai bên hương án phụ giúp chủ tế như dâng hương, dâng rượu và chuyển chúc, đọc chúc. Trong các chấp sự này được cử ra một người có nhiệm vụ độc chúc, hoá chúc khi tiến hành lễ. Thành viên đội tế đều phải mặc trang phục tế khi bước vào khoá tế. Theo truyền thống, chủ tế mặc áo lương bên trong màu trắng bên ngoài màu tím, đội mũ tím hoặc đen, quần trắng đi hia đen hoặc đỏ. Bồi tế trang phục như chủ tế, các quan viên mặc quần áo tế màu tím hoặc đen. Văn chúc thường do ngưưi giỏi văn chương chữ nghĩa soạn bằng hán tự. Người này phải có chân trong hội tư văn, được dân làng cử để tả văn. Nội dung văn tế thường nêu rõ công trạng và ca ngợi công đức cao dầy của vị Thành Hoàng và chuyển lời cầu xin của làng xã tới các Ngài.
Nội dung tế lễ chia làm bốn phần:
Thứ nhất là lễ nghênh thần, chủ tế phải làm bốn lễ.
Thứ hai là hiến lễ lên thần linh, lễ dâng ban lần, gọi là sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ, mỗi lần chủ tế và bồi tế phải quỳ để hiến lễ, mỗi lần phải lễ hai lễ, tổng cộng là 6 lễ.
Sau hiến lễ là đọc chúc văn và lễ tất. Lễ tất chủ tế phải lễ bốn lễ.
Nhìn chung cả ba khoá tế (nhập tịch, chính kỵ, tế tạ) được tiến hành giống nhau chỉ khác về phần chúc văn. Như Văn tế nhập tịch ngày 12 tháng 02, ngoài phần ghi rõ ngày, tháng, năm thì nội dung thường nêu rõ lý do, mục đích xin khai mở hội. Văn tế chính hội, thường nêu rõ công trạng các Ngài, mong ngài ban phát tài lộc tới muôn dân, mong cho sức khoẻ bình an tới muôn họ, cho quốc thái dân an. Văn tế giã đám (tế tạ) thì báo cáo thần linh kỳ lễ hội đã thành công và xin kết thúc hội. Nội dung một khóa tế thực hiện đầy đủ 54 bước xướng với một tuần dâng hương, ba tuần dâng rượu, đọc chúc văn và lễ tất. Trong suốt khóa tế trống nhạc tế được cử hành đều đặn theo từng nhịp xướng. Khóa tế được diễn ra trang nghiêm kính cẩn. Sau khi khoá lễ kết thúc dân làng và khách phập phương vào lễ bái mong cầu các vị thành hoàng ban phát phúc lộc, sức khoẻ. Sau buổi đại tế, người ta coi là thần linh luôn có mặt ở đình. Từ hôm mở hội, các chức sắc và bô lão phải chia nhau túc trực tại đình cho đến khi hết hội.
Ngoài ra vào những năm hạn hán, úng lụt, vào ngày 15 tháng 2 âm lịch, 9 làng của tổng Cao Đôi tiến hành rước lễ đến đình Trần Xá tập trung làm lễ tế cầu đảo. Khoá tế thường do hương lý tổ chức. Các thành viên của các làng cắt cử các thành viên của mình tham dự. Đây là điều đặc biệt tại Trần Xá. Trong khoá tế văn tế nêu rõ lời cầu xin của muôn dân tới các Ngài cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Một nghi lễ mang tính phồn thực của cư dân nông nghiệp lúa nước.
Trong lễ hội ngoài các nghi lễ tâm linh được tổ chức rất trang nghiêm, tôn kính thì hoạt động hội, các trò chơi dân gian cũng được tổ chức. Trong lễ hội một số các trò chơi thường xuyên được tổ chức như: cờ người, đi cầu thùm, tam cúc điếm, chọi gà, đấu vật, bắt vịt...ngoài ra còn tổ chức một số hoạt động văn nghệ như hát trống quân, hát đúm...
Lễ hội truyền thống đình Trần Xá là một lễ hội dân gian khá tiêu biểu trên đất Hải Dương. Đây là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, có tác dụng gắn bó cộng đồng dân cư với quê hương, đất nước. Không khí lễ hội thật tưng bừng trong lễ rước, thật thiêng liêng khi tế lễ, thật vui tươi khi chơi hội. Lễ hội đình Trần Xá đã mang đầy đủ những giá trị truyền thống văn hoá được thể hiện rõ trong toàn bộ tiến trình của lễ hội. Thông qua các nghi lễ, các trò chơi dân gian nhiều hoạt động thông thường đã được nghệ thuật hoá, nghi thức hóa và mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc, đó là tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Nguyễn Văn Cường
Nguồn tin: Di tích Côn Sơn Kiếp Bạc


Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Sự tích đình Châu Bộ, Hải Dương

Đình Châu Bộ gắn liền với đền An Phụ, nơi tôn thờ An Sinh Vương Trần Liễu, nơi có tượng đài Trần Hưng Đạo đẹp vào loại bậc nhất ở nước ta.


Nằm ở phía Nam dãy núi An Phụ, di tích đình Châu Bộ xã Hiệp Hoà nằm trong quần thể di tích của huyện Kinh Môn, gắn liền với đền An Phụ, nơi tôn thờ An Sinh Vương Trần Liễu, nơi có tượng đài Trần Hưng Đạo (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) đẹp vào loại bậc nhất ở nước ta. Xa  hơn có chùa Nhẫm Dương, ngôi chùa được kiến tạo từ thời Trần, nơi ghi dấu ấn của nhiều triều đại phong kiến; đình Huệ Trì nơi tôn thờ 2 nữ tướng của Hai Bà Trưng là Thiện Nhân và Thiện Khánh,…Tất cả tạo thành một trung tâm sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, điểm dừng chân của nhiều du khách thập phương về chiêm bái.

Ngược dòng lịch sử, vào thời Hùng Vương, vùng đất Hiệp Hoà thuộc bộ Dương Tuyền, thời Hán thuộc quận Giao Chỉ, đến thời Lý - Trần, thuộc lộ Đông Hải. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) phân định bản đồ và lập phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Thời thuộc Pháp, Hiệp Hoà gồm 3 làng: Làng Đước (Đích Sơn), làng Than (An Bộ) và làng Châu (Châu Bộ) thuộc tổng Đích Sơn, phủ Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ, đến tháng 4 năm 1946 thực hiện chủ trương hợp nhất của huyện 3 làng Đích Sơn, An Bộ, Châu Bộ hợp nhất thành xã Hiệp Hoà, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Xã có 19 dòng họ trong đó dòng họ Đinh được ghi nhận là "tiên công lập ấp". Trong quá trình hình thành và phát triển, các dòng họ chung sống đoàn kết, góp phần xây dựng quê hương giàu mạnh.

Là mảnh đất hình thành khá sớm trong lịch sử, nhân dân Hiệp Hoà cùng với việc lập làng, khai khẩn đất đai đã xây dựng nên nhiều công trình kiến trúc phục vụ nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng. Song, trải qua thời gian và chiến tranh, nhiều công trình đã bị tàn phá và xuống cấp nghiêm trọng. Hiện nay các công trình còn lại là đình Đích Sơn (thôn Đích Sơn) và đình An Bộ (thôn An Bộ), đình Châu Bộ (thôn Châu Bộ). Những di tích đã bị tàn phá, nay được chính quyền và nhân dân địa phương từng bước khôi phục lại.

Đình Châu Bộ mặt tiền quay về hướng Tây Nam, cửa đình nhìn ra sông Phùng Khắc uốn khúc, quanh năm trong mát. Theo dòng lịch sử, đình Châu Bộ gắn bó tự nhiên với thôn từ khi hình thành và trở thành niềm tự hào của nhân dân địa phương. Di tích đã được UBND tỉnh Hải Dương xếp hạng là di tích Lịch sử văn hoá ngày 01 tháng 11 năm 2005 theo Quyết định số 4981/ QĐ - UBND.

Về niên đại ngôi đình đến nay vẫn chưa có tài liệu tin cậy để xác định, theo các cụ già cao tuổi cho biết đình xưa có kiến trúc chữ Nhị (=), gồm 5 gian đại bái và 3 gian hậu cung. Năm 1947 giặc Pháp càn qua làng, đã bơm xăng đốt phá làm cho 3 gian hậu cung bị cháy và hư hỏng nặng, chỉ còn lại 5 gian đại bái được giữ nguyên cho đến ngày nay.

Năm 2002, thể theo nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, chính quyền địa phương đã cho khôi phục 3 gian  hậu cung đình trên nền cũ với quy mô nhỏ, phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng chung. Công trình kiến trúc hiện nay kiểu chữ  Nhị (=) gồm 5 gian đại bái và 3 gian hậu cung, chất liệu gỗ tứ thiết còn khá chắc chắn, mang đậm nét kiến trúc thời Nguyễn.

Phần trang trí điêu khắc nghệ thuật của di tích được tập trung thể hiện  tại hệ thống bờ nóc và đặc biệt là 10 bức cốn gỗ tại gian giữa toà đại bái. Thông qua bàn tay tài hoa, khéo léo của các hiệp thợ ngoã, mộc phối hợp. Thợ ngoã đắp vẽ "lưỡng long chầu nguyệt". Thợ mộc chạm khắc cốn "ngự long huý thuỷ", "tùng trúc hoá long", "tứ linh", "tứ quý" mềm mại, sống động. Các "linh vật" trong nhiều tư thế khác nhau, song cùng chầu về gian thờ chính đã tạo nên một không gian thờ tự đặc biệt linh thiêng, thu hút lòng người.

Mặc dù trải qua nhiều biến động của tự nhiên - xã hội và được trùng tu, tôn tạo ở những giai đoạn sau này, song di tích đình Châu Bộ vẫn giữ  được vẻ đẹp của một ngôi đình cổ và là một trong những di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của thời Nguyễn trên mảnh đất xứ Đông.

Căn cứ vào bia Thần phả, lưu giữ tại di tích do Hàn Lâm viện Đông Các Đại học sĩ (thần) Nguyễn Bính phụng soạn vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), Quản giám bách thần tri điện hùng lĩnh thiếu khanh (thần) Nguyễn Hiền tuân theo bản chính phụng sao vào năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737), Hoàng triều Tự Đức thứ 17 (1864) cho biết, đình Châu Bộ, xã Hiệp Hoà, huyện Kinh Môn là nơi tôn thờ ba vị Thành hoàng là Bà Phạm Thị Ngọc và hai con là Đặng Tuấn và Đặng Võ là những người đã có công giúp vua Trần dẹp giặc và là người mở trường dạy học cho các cư dân trang Châu Bộ cuối thế kỷ XIII.

Thần phả đình Châu Bộ có ghi: "... bấy giờ, thế truyền tại trấn Thanh Hoa, phủ Thiệu Thiên, huyện An Định, trang Đặng Xá có một danh gia lệnh tộc, họ Đặng, tên huý là Tùng, lấy vợ tại bản trang tên là Phạm Thị Ngọc, thuộc dòng dõi nhà nho, chuyên làm nghề dạy học. Ông bà ăn ở với nhau hoà thuận, thảo hiền cho đến khi bà Ngọc 40 tuổi mới sinh một lần được hai con trai, bèn đặt tên cho con ra trước là Đặng Võ, em là Đặng Tuấn. Năm đó chẳng may thân phụ bị bệnh qua đời (tức ngày  mồmg 3 tháng 7), để lại cho bà Ngọc 2 con trai còn thơ dại. Ngọc Nương nuôi dậy hai con học tập, đến khi hai con 15 tuổi, học tập tinh thông, văn chương quán triệt. Nhưng than ôi! Gia đình nghèo khó, không kế sinh nhai. Ba mẹ con liền hành trình đi nơi khác, qua bốn ngày đến trang Châu Bộ, huyện Hiệp Sơn, tỉnh Hải Dương. Mấy mẹ con thấy nơi đây sơn thuỷ hữu tình, liền ở lại bản trang (tức trang Châu Bộ). Năm đó bỗng có giặc Nguyên đến xâm chiếm, vua nghe tin lập tức dẫn quân đến đánh. Qua địa giới trang Châu Bộ, huyện Hiệp Sơn, thấy ba mẹ con dung mạo đường hoàng, khác hẳn người thường, vua liền cho vời đến hỏi: "Nay quốc gia của Trẫm có giặc xâm chiếm, các người có tài giúp Trẫm đánh giặc cứu nước". Anh em Võ công và Tuấn công đều tâu: "Anh em chúng thần vẫn còn mẹ già không sự nghiệp, chỉ lấy việc mở trường dậy học làm đẹp lòng cha đã khuất". Vua lại bảo Nhị công "Nay quốc gia có sự, nhị công giúp nước dẹp yên được giặc tất sẽ được phong thêm tước vị". Nhị công thấy Vua nói vậy liền cùng thừa lệnh xin trợ giúp Thánh Giá (Vua) xuất binh dẹp giặc. Vâng mệnh chiếu nhà Vua, Nhị công cùng từ mẫu đã chiêu mộ được 7 người là những cư dân của trang Châu Bộ làm gia tướng cho mình, là các ông: Phạm Công Toàn, Đỗ Công Khánh, Đào Công Nhân, Đỗ Công Trứ, Nguyễn Công Đinh, Lê Công Bản và Vũ Công Đồng. Nhờ sắc đẹp của bà Phạm Thị Ngọc và tài thao lược của 2 con nên đã đánh nhiều trận thắng lớn, bắt được nhiều tù binh.

Nơi biên cương đã trở lại thanh bình, ngày khải hoàn, vua liền mở yến chúc mừng, khao thưởng quân sĩ và lập tức phong chức cho Thái bà là "Mẫu nghi thiên hạ, đoan mục Hoàng Thái Hậu".Đệ Nhất Công làm "Tả dực Đại Tướng quân" kiêm "Tham tán mưu sự uy linh Đại Vương". Đệ Nhị Công làm "Hữu dực Đại Tướng quân, quyền trưởng các giang đầu uy linh Đại Vương". Các gia thần đều được ban thưởng, phong làm "Thái Thú".

Thái bà cùng 2 con Đặng Võ và Đặng Tuấn sau khi nhận phong của vua ban cùng tâu xin được về trang Châu Bộ để mở tiệc mời làng. Được một tháng, Thái bà nhàn du cảnh chùa (tức chùa Tôn Linh - chùa Tông ngày nay) hôm đó, tự nhiên trời đất tối sầm, mưa gió nổi lên dữ dội, Thái bà tự nhiên hoá ngay tại chùa (tức ngày 10 tháng Giêng). Nhị công nghe tin thân mẫu mất, cùng đến bản chùa, vừa đến khu địa giới của bản chùa cũng tự nhiên hoá (tức ngày 12 tháng 3). Nhân dân ra xem đã thấy thổ trùng phong thành ngôi mộ lớn. Mọi người cho là lạ, (sau tục gọi là đống Mả Ông (tức đống Ông)) liền hành biểu tâu lên vua. Vua nghe tin liền lệnh cho sứ thần đến bản trang để hành lễ điếu tại gia đường trường học, hương hoả phụng thờ. Lại ban cho nhân dân tiền chung 300 quan để phụng thờ mãi mãi".

Hằng năm cứ vào độ xuân về, nhằm ngày 12 tháng Giêng nhân dân Châu Bộ lại nô nức tổ chức lễ hội truyền thống tưởng niệm ngày mất của Đặng Võ và Đặng Tuấn. Theo điển lệ, từ chiều ngày 12 tháng Giêng, đông đảo các tầng lớp nhân dân ra đình tổ chức rước long đình. Lực lượng tham gia rước gồm nam thanh, nữ tú khoẻ mạnh phải "chay tịnh" từ nhiều ngày trước. Lễ rước xuất phát từ đình, đi theo hướng Tây vào trong làng và đi xung quang làng về hướng Đông rồi quay lại đình.

Khi đoàn rước về tới đình làng, việc tế lễ diễn ra rất long trọng và do các cụ ông trực tiếp thực hiện, lễ hội kết thúc vào ngày 13 tháng Giêng. Tuy nhiên, lễ hội chính của đình Châu Bộ, thu hút đông đảo nhân dân tham gia lại là lễ giã đám vào ngày 13 tháng Giêng, đó là tục chạy cờ để tiễn 7 vị gia tướng của 3 mẹ con là: Phạm Công Toàn, Đỗ Công Khánh, Đào Công Nhân, Đặng Công Trứ, Nguyễn Công Đinh, Lê Công Bản, Vũ Công Đồng. Trong làng cử ra 7 thanh niên mặc áo lậu, thắt  lưng bối hậu chạy về 7 điểm, đó là: về Đình; về cửa miếu Tông (cách đình khoảng 300m); về đống Bính (cách đình khoảng 500m); về đống Lỗ Vàng (cách đình khoảng 800m); Về Ao nhà Mát (cách đình khoảng 500m); về đống Thổ Công (cách đình khoảng 1km); về đống Bồ Đê (cách đình khoảng 1km). Điểm xuất phát từ nghè, ai chạy nhanh nhất đến đình thì cắm cờ trước, còn lại phải chạy tiếp về các đống trên để cắm cho được lá cờ của mình. Đây là một hoạt động tín ngưỡng mang dấu ấn tượng trưng, nhằm khắc hoạ lại hình ảnh mẹ con bà Phạm Thị Ngọc khi chiêu mộ quân sĩ, tuyển chọn gia thần, muốn thử tài thao lược, trí thông minh các gia tướng của mình. Sau đó là tục thả thuyền rồng, cũng mang nét tượng trưng cho phương tiện xuất phát từ nơi đây đến nơi biên ải của 2 ông và cũng nhờ vào những chiến thuyền này mà đưa 3 mẹ con bà Phạm Thị Ngọc trở lại với cư dân của trang Châu Bộ. Tục lệ này sau vẫn diễn ra. Đây là một trong nhưng lễ hội hết sức độc đáo, thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân trong làng và các vùng lân cận tham gia, vì người ta cho rằng đó là lúc con người như được tiếp xúc với thần linh, tự hào về quá khứ của mình, cân bằng trong tâm linh, bản thân như được hoà nhập vào cái vô cùng cao cả của trời đất.

Trong cuộc sống thường nhật, người dân nơi đây từ lâu đã hình thành phong tục kiêng tên "huý", điều đó thể hiện sự biết ơn, lòng tôn kính đối với ba vị Thành hoàng làng.

Hiện nay di tích còn lưu giữ được một số cổ vật có giá trị như: Hệ thống ngai thờ, bài vị (03), đại tự, câu đối, bát bửu, nhang án mang đậm dấu ấn nghệ thuật Nguyễn; 2 tấm bia thế kỷ XIX trong đó có một bia thần phả ghi lại hành trạng, công lao của các vị Thành hoàng. Tất cả đồ thờ tự được bài trí xắp xếp cân đối trang trọng trong ánh sáng của hương nến, đã tạo cho di tích một không gian thờ tự linh thiêng, huyền diệu.

Với truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", tôn vinh những người có công với nước, các thế hệ nhân dân thôn Châu Bộ, xã  Hiệp Hoà đã tự nguyện đóng góp nhiều công sức, tiền của để trùng tu, tôn tạo di tích. Di tích đình Châu Bộ không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của nhân dân địa phương, mà còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho cán bộ và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Nguồn:http://dulichvn.org.vn