Cội nguồn họ Phạm: Nhà khoa bảng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà khoa bảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhà khoa bảng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Di tích lịch sử Quốc gia: Đền - Chùa Hưng Thịnh, Hoàng Nam, Nghĩa Hưng, Nam Định


ĐỀN - CHÙA HƯNG THỊNH
(Xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định)
Xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia theo QĐ số 226-VH/QĐ, ngày 05/02/1994.
                       
            Đền - chùa Hưng Thịnh thờ hai vị tiến sỹ Phạm Nguyên Bảo và Phạm Đạo Phú triều Lê Thánh Tông năm 1487.

            Tiến sĩ Phạm Nguyên Bảo là cháu cụ Phạm Thời Cử. Cụ Phạm Thời Cử là một trong 3 vị thuỷ tổ châu chiếm cùng Cụ Phạm Đại Lang và Dương Thế An đến mảnh đất này từ năm 1425, lúc đó nơi đây còn là một bãi bồi hoang vu của bể nha Hải Nam. Sau 03 năm chiêu mộ và khai phá đến năm Lê Lợi nguyên niên 1428. Nơi đây được thành lập xã lấy tên là Hưng Phú và chia thành 02 thôn Đông và Đoài tức thôn Hưng Thịnh ngày nay…

            Tiến sỹ Phạm Nguyên Bảo sinh năm 1456 sau lập xã 28 năm. Khi lớn lên bắt đầu theo học 1 người nổi tiếng là học sỹ giỏi người thôn Đoài và người thi đỗ đệ nhị giáp tiến sỹ khoa Đinh Mùi. Triều Lê Thánh Tông năm 1487 là một người có tài kiêm văn võ, người được vua phong chức phó đô ngự sử kiêm chức võ giai chưởng, quân nội thị, cầm một đội quân trông coi nơi dinh vua ở.

 
            Năm 1492 giặc ngọc lân do tên tướng Gia Đa Lý, cầm đầu nổi loạn ở vùng Hưng Hoá. Vua cử đại tướng Trần Trường đi dẹp. Tiến sỹ Phạm Nguyên Bảo làm sớ  tâu Vua xin được đi cùng, được vua chấp nhận và chính người đã chỉ huy chiến đấu bắt sống được tướng giặc Gia Đa Lý. Sau trận này được vua khen Tiến Sỹ Phạm Nguyên Bảo là người có tài Vua phong thêm chức Võ Huân Tướng công tả hiệu điển và cử đi giữ chức toàn quyền tuần thủ vùng Thanh - Nghệ. Người mất tháng 2 năm 1497 tức ngày 27 tháng giêng năm Đinh Tỵ. Chết cùng năm nhưng trước vua Thánh Tông 3 ngày.

            Triều đình thương tiếc mất một vi tướng tài tổ chức lễ quốc tang. Sắc phong tôn thần lê triều đinh vị khoa, đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân, tạc vũ giai chưởng, nội thị thăng nghệ an trấn thủ, sỹ chí phó đô ngự sử tăng thiếu uý thuỵ vũ thánh, phạm tướng công uy linh phú dực, vũ dũng phân duơng, đại tướng đổng quân (công đoan tức đại vương trung đẳng thần). Rồi cử một đại quân rước thi hài về an táng tại quê hương Hưng Phú chữ hán ghi (lệnh tấn binh tống hồi) mộ người táng tại gồ con hạc cánh đồng tân xây thành lăng theo hình hạc rộng một xào bắc bộ.

            Khi rước thi hài tiến sỹ về bản quán đi qua tỉnh nào, tỉnh ấy có trách nhiệm nghênh tiếp và lập đền thờ (Phạm Tướng Công) vì vậy mà khu cột cờ Nghệ An cũ, Thanh Hà, Đông Sơn, Thanh Hoá có đền thờ Phạm Tướng Công Phạm Sá Đông cao thượng cũng có miếu thờ 2 tiến sỹ đây là nơi quê hương tổ tiên của cụ Phạm Thời Cử.

            Để tỏ lòng ngưỡng mộ và uống nước nhớ nguồn đối với các danh nhân có công với dân tộc. Ngay sau khi người mất năm 1497 nhân dân ta đã xây đền thờ phụng người ở phía bắc chùa do thôn Đoài trực tiếp phụ trách.

            Ngày 2 tháng 8 năm Canh Dần 1530 Tiến Sỹ Phạm Nguyên Bảo được thôn Đông xây đền thờ ở phía nam chùa, 2 ngôi xây song để thờ phụng người.

            Đến năm Tự Đức thứ 7 dân làng hợp nhất 2 đền vào làm 1 để thờ phụng.

            Kể thừ ngày người mất đến nay đã hơn 500 năm nhưng danh tiếng của người vẫn được bảo tồn qua các triều đại, tên tuổi, vị trí chức vụ của người được ghi ở Quốc Tử Giám Hà Nội được chép trong sử sách lưu trữ thư viện quốc gia.

 
            Khi người mất, nơi thờ phụng người vẫn có nhiều các bậc đại nhân, chí sĩ có tinh thần dân tộc yêu nước lui tới thăm viếng ngưỡng mộ người, làm nhiều câu đối tiến cúng để thờ phụng người, câu đối như sau:

Bút tận nghiêng thành uỷ khả uý
Nghĩa can trung giáp tử do sinh

            Hàn lâm thị giảng đại học sỹ Nguyễn Trọng Hợp tiến cúng, câu đối xin tạm dịch.
            Với kẻ thù bút nghiên thành gươm giáo, thành luỹ oai khả sơ
            Cả trung và nghĩa đều đứng hàng đầu, nên mất cũng như còn.

            Và dưới đây là thần tích của Tiến sỹ Phạm Văn Nghị soạn nói về thần tích vị trí chức vụ của người như sau:

Đại an có đất phát văn
Thủ lê Hoàng Đức thánh quân hiếu hiền
Khoa đinh vị lịch niên thập bát
Thần vào thi nhị giáp đề danh
Trời sinh võ nghệ cũng rành
Vũ giai chức thưởng thông minh trực hầu
Giặc ngọc lâu loạn miền hưng hoá
Thần xin đem binh mà đánh tan
Tâu về ngọc bệ chỉ ban
Phong cho làm chức nghệ an tấn thần
Giặc bốn mạn lê quân tự tướng
Chàn lại đem nghị tướng khởi hành
Bỗng đâu lạc vị tướng tinh
Cối sao cơ vị thiên đình thẳng lên
Tặng thiếu uý vũ thành tên thuỵ
Triều cho dân phụng sự làm thần
Uy linh thực đã xuất quân
Nhất môn liên chúng văn thần kế khoa
Sau 3 năm khoa là Canh Tuất
Thần đỗ lên tam giáp truyền lô
Tao đàn nguyên suý cung Vua
Nhị Thập bát tú đều đua thi tài
Chức thị lang thu hoài mấy buổi
Mạc cướp ngôi tìm lối thoái quy
Về sau lê tặng tham ty
Thuỵ là trung ý phong vi phúc thần
Thần hai vị hoán luân một miếu
Hộ tống xưa đại tiểu khôn bi
Phương rân nhớ phúc thần ri
An cư lạc nghiệp hi hi xuân đài

            Riêng về đối tự của ngài không có bút tích để lại, hương phả chữ hán của thôn chỉ ghi ao vườn của ngài ở xóm Tây An và 24 mẫu cấp tứ của nhà Vua ban cho 2 vị và có ghi ngôi mộ tổ phát tích ra 2 đức đại khoa táng tại gồ mai cua ở thôn Vân Cù nay là thôn An Lộc huyện Nam Trực có bia đá đề.

            (Hưng Phú Đại An nhị đại khoa tổ mộ xứ).

            Kèm theo văn tự nhân dân ta mua 1 sào ruộng tư điền thời tự đức để trả công cho người trông coi mộ tổ, hàng năm phải sắm lễ để ngày thanh minh các cụ ra thăm mộ lễ đức thần linh.
           

           
Xã Hoàng Nam đón bằng di tích lịch sử văn hoá theo quyết định số 226/VH/QĐ ngày 5/2/1994 đền, chùa thôn Hưng Thịnh thờ hai vị tiến sỹ Phạm Nguyên Bảo và Phạm Đạo Phú triều Lê Thánh Tông năm 1487.

            Trong phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” theo chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT. Tường THCS Hoàng Nam được giao chăm sóc đền chùa Hưng Thịnh. Trường đã tổ chức cho học sinh học tập những nét lớn về thân thế sự nghiệp của tiến sĩ Phạm Nguyên Bảo và Phạm Đạo Phú. Tổ chức cho tham quan khu di tích để các em trực tiếp nhìn cảnh quan, cách bố trí nơi thờ cúng và sự đóng góp công sức của các thế hệ ông cha xây dựng ngôi đền chùa trang nghiêm thành kính để các em tri ân về cội  nguồn mà hai tiến sĩ đã có công phù lê dẹp ngoại xâm đem lại nền thái bình cho đất nước và xây dựng quê hương trù phú. Tổ chức dâng hương cùng địa phương nhân ngày mở hội. Phân công cho từng khối lớp làm cỏ trong vườn đền chùa, tưới nước chăm sóc cây hoa cây cảnh, quét dọn vệ sinh trong khu nội tự đền chùa.






 
Lương Thế Dũng - Phòng GD&ĐT
             (Bài viết và ảnh do trường THCS Hoàng Nam cung cấp)

Trích lược Hành Thiện Xã Chí


Xét thế Khoa – lục, thì làng ta phát Khoa từ khoảng niên hiệu Thông – nguyên Triều Lê (Triều Vua Cung Hoàng đế) (1522) cho đến Khoa Ất Mão niên hiệu Duy Tân thứ 9 (1915), nghĩa là không còn để lối thi hương, hội nữa.
Số trúng Tiến sĩ, Phó bảng, Cử nhân và Tú tài, tổng cộng được 338, tựu trung có khoa trúng được 2 Tiến sĩ, lien khoa (khóa trước và khóa nối sau) trúng được 2 giải nguyên (tức là đỗ đầu cử nhân hay là thủ khoa) cũng có năm đỗ được cả giải nguyên (đỗ đầu), Á nguyên (thứ nhì) và thứ ba Cử nhân cùng một khoa. Có năm cha con, anh em, chú cháu, cùng trúng 1 khóa, ngạn ngữ có câu: “Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện” nghĩa là nơi khoa giáp làng Hành Thiện đứng đầu Tỉnh Nam, không kém gì làng Cổ Am tỉnh Đông (Hải Dương) vậy.
Khai khoa cho làng ta là cụ Nguyễn Thiện Sĩ, về họ Nguyễn rồi các cụ trong các họ nối nhau khai khoa cho các họ như các cụ Đặng Minh Dương, Đặng Khắc Nhượng, Phạm Ngọc Thân, Tống Tâm Quang, Đỗ Khắc Thiêu, Lã Đinh Phùng, Đào Đắc Dư, Vũ Nguyên Trình, Đặng Quang Dư, Trần Vũ Giám, Đinh Nguyên Thiệu.

HỌ PHẠM: 
Phó Bảng
1
Á nguyên
1
Cử nhân
6
Tú tài
33
Tú tài phụ tịch
1

Cụ Phạm Ngọc Thân, Tam trường … 1619 – 1628, triều Lê Vĩnh Tôn.
- Phạm Đoan Du, - nt 1663-1671, triều Lê Cảnh Thọ.
- Phạm Duy Dương, - nt 1684, triều Lê Chính Hòa
- Phạm Liên, - nt –
- Phạm Doanh Nho, - nt 1691-1699
- Phạm Khánh, - nt 1691
- Phạm Đăng Toàn, 22t, Tú tài Khóa Nhâm Ngọ, 1702.
- Phạm Nguyễn Kỳ, 19t, Cử nhân Khóa Mậu Tý, 1708, Tổng trưởng.
- Phạm Khắc Du, 22t, Tú tài Khóa Tân Mão, 1714.
- Phạm Đoan Nha, 19t, Tú tài khóa 1735.
- Phạm Nguyên Liêu, 24t, Tú tài khóa Canh Ngọ 1750.
- Phạm Bình Triết, 28t, Tú tài khóa Bính Tý, 1756, Cảnh hưng.
- Phạm Quốc Cơ, 21t, Tú tài Khóa Nhâm Ngọ 1762, Cảnh hưng.
- Phạm Ngọc Trác, 15t, Tú tài Khóa Đinh Dậu 1777, Tổng trưởng.
- Phạm Xuân Lý 24t, Tú tài – nt –
- Phạm Quốc Hòe, 17t, Tú tài Khóa Canh Tý, 1780
- Phạm Nguyên Hang, 14t, Tú tài Khóa Quý Mão, 1783.
- Phạm Thời Nghi, 22t, Hạ khóa sinh 1801 Triều Tây Sơn.
- Phạm Ngọc Bích, 27t, - nt -.
- Phạm Ngọc Mạo, 22t, Cử nhân Khóa Giáp Ngọ 1834, Triều Minh Mạng.
- Phạm Ngọc Lương, 34t, Cử nhân Khoa Quý Mão, 1842, T.Thiệu trị.
- Phạm Quang Duyệt, 23t, 2 Khóa tú tài, 1847-1867, T.Tự Đức.
- Phạm Viết Ky, 20t, Tú tài Khóa Đinh Mùi, 1847, và 1867.
- Phạm Viết Vy, 39t, Tú tài Khóa Mậu Thân 1848, triều Tự Đức.
- Phạm Ngọc Chất, 23t, Tú tài 1870 (Cử nhân (Á nguyên) Tri phủ (khóa Giáp Tuất 1874 Tĩnh Gia).
- Phạm Đăng Liêu, 34t, Tam Trường Khóa Quý Dậu 1753 (Cảnh hưng).
- Cụ Phạm Ngọc Nhiễm, 18t, Cử nhân Khóa Giáp Tuất 1874, Kiểm tịch.
- Phạm Ngọc Chuyên, 39t, Tú tài Khóa Bính Tuất 1886.
- Phạm Đàn, 28t, Tú tài Khóa Mậu Tý, 1888.
- Phạm Duy Ân, 30t, 2 Khóa Tú tài 1891,1906.
- Phạm Đình Sắc, 24t, sau đổi tên là Phạm Ngọc Đoan, Cử nhân 1894, Phó Bảng 1901 Giáo thụ
- Phạm Ngọc Bình, 37t, Cử nhân Khóa Giáp Ngọ, 1894.
- Phạm Ngọc Lý, 23t Cử nhân Khóa Giáp Ngọ, 1894.
- Phạm Ngọc Đan, 27t, Tú tài KHóa Giáp Ngọ, 1894.
- Phạm Mạnh Doãn, 20t, Tú tài Khóa Canh Tý, 1900, triều Thành Thái.
- Phạm Ngọc Khôi, 20t, 2 khóa Tú tài 1903, 1906.
- Phạm Sỹ Đô, 34t, Tú tài 1909, Cung phụng.
- Phạm Ngọc Thụy, Tú tài 1900, Quán ở Nghệ An nhập tịch Hành Thiện.
Theo langhanhthien.com

Tiến sĩ Phạm Huy -Người con làng Cổ Bái

(BaoNghean) Trong công trình Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, Sở Văn hoá- Thông tin Nghệ An ấn hành, 2000 (tr. 370-373) PGS. Ninh Viết Giao khẳng định Đền Cổ Bái, xã Đông Hải (nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc) là nơi thờ Tướng công- Tiến sĩ Phạm Huy (1470- ?), đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ Qúy Sửu, năm Hồng Đức thứ 24 (1493) đời vua Lê Thánh Tông, giữ đến chức Công Bộ đô cấp và từng đi sứ Trung Hoa. Sinh thời, Tướng công thương yêu, đùm bọc dân làng nên được người dân nơi đây kính cẩn lập đền thờ.  
Tộc phả dòng họ Phạm ở làng Cổ Bái còn ghi lại câu chuyện ngày xưa có hai mẹ con từ Hưng Yên dắt díu nhau hành khất qua làng. Thấy ngôi nhà thuộc hàng khá giả trong làng, hai mẹ con liền bước vào xin. Thấy cậu bé chừng 10 tuổi có tên là Phạm Lồng vẻ mặt khôi ngôi tuấn tú, chủ nhà tỏ ý muốn nhận cậu làm con nuôi và chu cấp việc học hành, còn mẹ cậu thì tiếp tục đi hành khất. Phạm Lồng bày tỏ lòng biết ơn với gia chủ tỏ ý không đành để mẹ đi hành khất một mình liền xin cho mẹ cậu được ở lại giúp đỡ việc nhà. Cảm kích trước tấm lòng hiếu đễ của Phạm Lồng, chủ nhà đồng ý để hai mẹ con cùng ở lại và cải tên cậu thành Phạm Huy với mong ước sự nghiệp của cậu sẽ được huy hoàng.

Phạm Huy ngày càng tỏ rõ sự thông minh hơn người, chẳng bao lâu sức học đã vượt bạn bè đồng trang lứa, người cha nuôi phải gửi cậu sang ông đồ làng bên (nay là xã Nghi Xuân - huyện Nghi Lộc) để tiếp tục được thụ giáo. Khoa thi năm Qúy Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493), Phạm Huy ghi danh bảng vàng với học vị Tiến sĩ, triều đình ban lệnh cho địa phương tổ chức lễ Vinh quy bái tổ.

Sắc phong của vua Cảnh Hưng (triều Lê) đối với công đức Tiến sĩ Phạm Huy.

Nhà báo Giao Hưởng (Báo Lao Động, thường trú tại Nghệ - Tĩnh), người sinh ra và lớn lên tại vùng đất này cho biết, lúc còn nhỏ ông được nghe dân làng Cổ Bái kể lại rằng, ngày ấy hai làng xẩy ra sự tranh chấp về quyền làm chủ lễ Vinh quy bái tổ của Tiến sĩ Phạm Huy. Làng bên cho rằng, nếu không có thầy đồ nhiều chữ của làng này dạy dỗ thì làm gì có Tiến sĩ Phạm Huy hôm nay. Còn làng Cổ Bái lí luận rằng, nếu không có gia đình cha mẹ nuôi cưu mang thì làm sao có một Phạm Huy giỏi dang để ghi danh bảng vàng. Hơn nữa, từ khi mẹ con Phạm Huy ở lại làng Cổ Bái thì đã là người của làng rồi, cho nên quyền làm lễ phải thuộc về làng Cổ Bái. Không làng nào chịu làng nào, cuối cùng triều đình phải vào cuộc phân xử và phần thắng thuộc về làng Cổ Bái.

Tham gia quan trường, làm đến chức Công Bộ đô cấp sự trung, về hưu lại đưa gia đình về sinh sống tại làng Cổ Bái. Lúc làm quan cũng như khi mãn nhiệm, Phạm Huy luôn thương yêu, chở che và giúp đỡ dân làng. Vì thế, dân làng Cổ Bái tôn ông làm Thành hoàng và lập đền thờ. Các bậc cao niên cho biết, đền làng Cổ Bái tồn tại đến những năm 50 của thế kỷ trước, về sau do chiến tranh loạn lạc không được trùng tu, tôn tạo nên bị đổ. Năm 2001, xã Phúc Thọ tổ chức khánh thành điện Đông Hải (cũng là một di tích tầm cỡ hàng đầu của xã Đông Hải xưa, nơi thờ vị anh hùng dân tộc Yết Kiêu và sát hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn, hai vị thủy tổ của nghề sông nước) ngay trên khuôn viên của đền làng Cổ Bái xưa.

Linh vị của Tiến sĩ Phạm Huy được người dân Cổ Bái dành một nơi trang trọng trong điện Đông Hải. Cần nói thêm rằng, điện Đông Hải được tái dựng từ lòng hảo tâm của lương y Phạm Thiên Long (1922- 2006), người con của làng Cổ Bái thành đạt trên đất Sài Gòn, và ông chính là hậu duệ của Tiến sĩ Phạm Huy.

Về làng Cổ Bái xưa, theo chân ông Trần Vân Nam (cán bộ giảng dạy Trường Đại học Vinh về hưu) đến điện Đông Hải, chúng tôi thành kính thắp một nén hương trước linh vị Tiến sĩ Phạm Huy. Cụ từ trông coi điện Đông Hải mở tráp cho chúng tôi chiêm ngưỡng bảy sắc phong của hai triều đại Lê- Nguyễn liên quan đến thân thế, sự nghiệp và công đức của vị Tiến sĩ làng Cổ Bái. Nội dung các bản sắc phong khẳng định công đức hộ quốc giúp dân, bảo vệ mùa màng của vị nhân thần được thờ tại đền Cổ Bái và lệnh cho dân làng quanh năm khói hương, thờ phụng và tổ chức tế lễ hàng năm.
 
Điện Đông Hải tái dựng trên nền Đền Cổ Bái xưa.

Trong đó, sắc ban năm Cảnh Hưng thứ 14 (triều Lê) khẳng định các bậc tiền nhân phong cho Phạm Huy làm Tử Vương ("Thần cai quản, hưởng lộc lâu dài một vùng") và nay tiếp tục "phong cho Đô cấp sự trung bái khê Phạm Công Khai xuất thân Đồng khoa tiến sĩ Qúy Sửu làm Hiến Đạt Đại Vương". Sau này, vua Lê Chiêu Thống phong tiếp "Hiến Đạt Uyên Nguyên Hùng Bái Đại Vương". Sang triều Nguyễn, năm Tự Đức thứ 11 Phạm Huy được "tặng thêm danh hiệu Tấn lương thần". Đến năm thứ 33 lại được "ban tặng Bảo chiếu Đàm âm, được tế lễ vào dịp Quốc Khánh". Năm Đồng Khánh thứ 2, công đức Phạm Huy được "ghi nhớ thần phả tặng thêm Dực bảo Trung Hưng chi thần". Năm Duy Tân thứ 3 tiếp tục ban sắc cho dân làng tế lễ vào dịp Quốc Khánh. Đến năm Khải Định thứ 9 tiếp tục "tặng thêm Quang ý Trung đẳng thần, đặc chuẩn tế lễ vào dịp Quốc Khánh".

Sự nghiệp và công đức của Tướng công- Tiến sĩ Phạm Huy là niềm tự hào của bao thế hệ người dân xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc nói riêng và toàn tỉnh Nghệ An nói chung. Vì vậy, thế hệ hôm nay cần có những việc làm thiết thực để ghi nhớ và tôn vinh người con tiêu biểu của quê hương.

Bùi Công Kiên

Tiến sỹ Nho học huyện Đường An (15 TS họ Phạm)

Bia văn chỉ huyện Đường An

Trên khu đất đình làng Hoạch Trạch tức làng Vạc thuộc xã Thái Học huyện Bình Giang còn nhiều bia đá. Trong số ấy có bia văn chỉ huyện Đường An.
 Bia cao hơn đầu người đặt trên bệ đá, 2 mặt khắc chữ Hán. Một mặt đề: “ Đường An văn chỉ bia” nói mục đích dựng bia để tôn sùng đạo Khổng chấn hưng văn hiến và ghi tên những người đã góp công của vào việc xây dựng bia văn chỉ. Một mặt đề: “Lịch dai tiên hiền bi” khắc tên các vị hiền tài của các làng trong huyện từ trước đến nay.
Đường An là tên huyện Bình Giang từ thế kỷ 12 thời nước ta thuộc nhà Đường nước Tàu, từ năm 618 đến năm 907. Năm 1885, vì kiêng tên vua Đồng Khánh là Đường mà đổi thành Năng An. Năm 1895, bỏ cấp phủ lấy tên phủ Bình Giang thay cho tên Năng An.
Ngày xưa ta học chữ Hán theo đạo ông Khổng Tử, nên ở kinh đô, ở ty, sở xác tỉnh đều xây văn miếu, ở từng huyện xã xây văn chỉ để thờ đức Khổng Tử và các học trò của ông. Hằng năm cứ đến mùa xuân, mùa thu, những người có học vị ở từng cấp lại tụ họp làm lễ đức Khổng Tử. Văn tế mời các vị có học vị, có công lao với dân, với nước đã qua đời gọi là các bậc tiên hiền về cùng hưởng.
     Tiên hiền bao gồm những người đỗ học vị tiến sỹ và những người không đỗ tiến sỹ nhưng làm quan có nhiều công trạng, được phong chức tước cao hay mở trường dạy học, hay nuôi nấng con cháu nhiều người đỗ tiến sỹ. Ngày xưa học trò thi hương đỗ cử nhân, mới được vào thi hội. Đỗ thi hội mới vào thi đình. Thi đình để phân những người đỗ thi hội làm 3 loại: Đệ nhất giáp tiến sỹ được học vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa; Đệ nhị giáp tiến sỹ được học vị hoàng giáp; Đệ tam giáp tiến sỹ được học vị đồng tiến sỹ. Từ thời Lê về sau cứ 3 năm một lần thi hương và thi hội.
     Bia văn chỉ huyện Đường An dựng năm Thiệu Trị thứ 4, triều Nguyễn Gia Long năm 1844. Bài văn bia do cụ đỗ tiến sỹ khoa Bính Tuất 1826 chức Bắc Ninh học chính, quán làng Lương Đường kêu là Vũ Như Phiên soạn. Làng Lương Đường(Lương Ngọc) nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang, tỉnh hải Dương.
     Bia ghi họ và tên, học vị, chức tước 109 tiên hiền của 24 xã thuộc huyện Đường An.
     Lược kê tiên hiền từng xã như sau:
1.     Mộ Trạch có 42 tiên hiền, trong đó có 36 tiến sỹ gồm: Một trạng nguyên: Lê Nại; 9 hoàng giáp là: Vũ Hữu, Vũ Đức Khang, Vũ Quỳnh, Vũ Đôn, Vũ Cán, Lê Tử, Vũ Bạt Tụy, Lê Quang Bí, Vũ Đình Lâm;  26 đồng tiến sỹ là: Vũ Nghiêu Tá, Vũ Hán Bi, Vũ Nguyên Trinh, Vũ Hằng Trình, Vũ Lân Chỉ, Nhữ Mậu Tô, Vũ Tĩnh, Vũ Lương, Vũ Trác Lạc, Vũ Đăng Long, Vũ Công Lượng, Vũ Bật Hài, Lê Công Triều, Vũ Duy Doãn, Vũ Công Bình, Vũ Duy Khuông, Lê Cảnh Tuấn, Vũ Cầu Hối, Vũ Công Đạo, Vũ Đường, Vũ Đình Thiều, Vũ Trọng Trình, Nguyễn Thường Thịnh, Vũ Đình Ân, Vũ Phương Đề, Vũ Huy Đĩnh; 6 tiên hiền không có học vị tiến sỹ là: Vũ Nạp, Cự Họ Tạ, Vũ Duy Chí, Vũ Phương Tượng, Vũ Văn Hành, Vũ Phương Nhạc.
2.     Ngọc Cục có 8 tiên hiền trong đó có 2 hoàng giáp là: Bùi Danh Kiên, Trương Hữu Bùi; 6 đồng tiến sỹ là: Vũ Thiệu, Vũ Huy Viên, Phạm Điển, Phạm Liễn, Phạm Hữu Dung, Đào Tuấn Ngạn.
3.     Lương Đường có 8 tiên hiền trong đó có 2 hoàng giáp là: Đoàn Đức Pho, Nguyễn Dung; 6 đồng tiến sỹ là: Nguyễn Luân, Phạm Dương Úng, Vũ Huy Viêm, Phạm Quy Thích, Vũ Đức Khuê, Vũ Như Phiên.
4.     Hoạch Trạch có 7 tiên hiền trong đó có 2 hoàng giáp là: Vũ Tụ, Vũ Công Điệu; 5 đồng tiến sỹ là: Trần Vĩ, Nhữ Tiến Dụng, Nhữ Đình Hiền, Nhữ Trọng Thai, Nhữ Đình Toản.
5.     Đan Loan có 6 tiên hiền trong đó có 1 thám hoa là: Vũ Thạnh; 5 đồng tiến sỹ là: Bùi Thế Vinh, Vũ Huyên, Vũ Huy, Vũ Trần Tữ, Đào Vũ Hướng.
6.     Đình Tổ có 4 tiên hiền trong đó có 2 đồng tiến sỹ là: Vũ Đăng, Vũ Công Phự; 2 tiên hiền không có học vị tiến sỹ là: Trần Tiên và Đỗ Cảnh Lạc.
7.     Thời Cử có 3 tiên hiền, trong đó có 1 bảng nhãn là: Nguyễn Toàn An; 2 đồng tiến sỹ là: Nguyễn Lũ và Nguyễn Công Đạt.
8.     Lôi Khê có 3 tiên hiền trong đó có 1 đồng tiến sỹ là: Vũ Sâm và 2 tiên hiền không có học vị tiến sỹ là: Chu Lộc và Phạm Nguyện.
9.     Đào Xá có 3 đồng tiến sỹ là: Phạm Hựu, Phạm Quang Chiêu, Đào Huy Điển. (Nay Đào Xá thuộc huyệ Ân Thi)
10. My Thứ có 3 đồng tiến sỹ là: Lê Kim Quế, Lê Kim Bàng, Phạm Minh.
11. Lỗi Dương có 2 hoàng giáp là: Phạm Tăng và Phạm San.
12. Tuy Lại có 2 đồng tiến sỹ là: Vũ Loan và Vũ Mật.
13. Châu Khê có 2 đồng tiến sỹ là: Ngô Văn Huy và Hoàng Xuân Linh.
14. Trâm Khê có 2 đồng tiến sỹ là: Nguyễn Kính Chỉ và Nguyễn Đức Phu
15. Tòng Tranh có 2 đồng tiến sỹ là: Ngô Tuy và Nguyễn Bách Tuế.
16. Vĩnh Lại có 2 đồng tiến sỹ là: Đỗ Chính Lạc và Bùi Hoàn Khánh.
17. Nhữ Xá có 1 hoàng giáp là: Lê Thọ Khảo và 1 đồng tiến sỹ la: Nhữ Tôn.
18. Hà Xá có 1 đồng tiến sỹ là: Vũ Đức Lâm.
19. Hường Gián có 1 đồng tiến sỹ là: Đinh Khắc Minh.
20. Thanh Gián có 1 hoàng giáp là: Nguyễn Bá Dong.
21. Bì Đổ có 2 đồng tiến sỹ là: Phạm Thuần Nhiên và Phạm Thiên Túc.
22. Lý Đông có 1 đồng tiến sỹ là: Phạm Nguyên.
23. Bình Đê có 1 thám hoa là: Lưu Khắc Chuyên.
24. Tuấn Kiệt có 1 đồng tiến sỹ là: Phạm Đình Chung.
Q.Tiền sưu tầm
Nguồn tin: chaukhe.com

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

THƯỢNG THƯ PHẠM ĐÌNH TRỌNG ANH HÙNG THỜI LOẠN VÀ BI KỊCH CUỘC ĐỜI

Danh nhân lịch sử Phạm Đình Trọng, một nhà khoa bảng có nhiều đóng góp với triều đình Lê - Trịnh, qua nhiều thế kỷ được nhân dân tôn thờ, nhưng một thời gian dài tên tuổi bị lu mờ, các nơi thờ tự bị xâm hại, lãng quên...Mới đây, được sự giúp đỡ của giới lịch sử học, các nhà bảo tồn bảo tàng, hậu duệ đời thứ 17-18 của cụ Thượng Phạm đã mở hành trình tìm về quá khứ, phát hiện được nhiều chứng cứ để "minh oan" cho Phạm Đình Trọng. Và lịch sử đã công bằng trả lại vị trí cho ông: hội thảo khoa học về thân thế sự nghiệp Tiến sĩ - Thượng thư Phạm Đình Trọng do giới sử học Việt Nam tổ chức; đình Khinh Dao, nơi thờ Phạm Đình Trọng làm thành hoàng được xếp hàng cấp quốc gia, Nhà nước đầu tư gần 20 tỷ đồng để tu bổ, tôn tạo; đền miếu thờ Quan Thượng quận ở Khinh Dao được xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố...
   Phạm Đình Trọng xuất thân và nhập thế ở xã hội Đại Việt vào giữa thế kỷ 18, khi mâu thuẫn giữa nông dân và phong kiến phát triển lên một đỉnh cao, biểu hiện thành cao trào nông dân khởi nghĩa mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu. Chính lúc này sự tồn vong của triều đình Lê - Trịnh trước cao trào khởi nghĩa nông dân lại được đảm bảo bằng tài năng của danh tướng Phạm Đình Trọng. Giáo sư sử học Văn Tạo cho rằng: Để đánh giá đúng sự thật về Phạm Đình Trọng cần hiểu biết sâu về đối thủ không đội trời chung của ông là Nguyễn Hữu Cầu - người đánh thắng nhiều tướng tài của Lê - Trịnh mà chỉ có thua Phạm Đình Trọng. Nguyễn Hữu Cầu, người làng Lôi Động, huyện Thanh Hà, tỉnh Quảng Ninh. Ông là người mạnh khoẻ, nhanh nhẹn, chiến đấu hăng, mưu trí, quyền biến trăm đường, nhiều lần bị mấy vòng vây, chỉ một mình một ngựa vượt vây xông ra, rồi một vài hôm lại có quần chúng hàng vạn người. Ông được coi là Hạng Vũ nước Nam, có tài "nhất hô bách ứng".
   Trong cuộc chiến kéo dài giữa Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu đều trổ hết tài năng. Nhưng phần thắng cuối cùng đã thuộc về triều đình Lê - Trịnh mà công lao xuất sắc nhất đã được ghi về Phạm Đình Trọng: năm Tân Mùi (1751), tháng giêng, mùa xuân, Phạm Đình Trọng bắt được Nguyễn Hữu Cầu ở Nghệ An. Thế rồi bi kịch cũng đã xảy ra với Phạm Đình Trọng. Sau khi diệt Nguyễn Hữu Cầu, Phạm Đình Trọng phụng mệnh đi trấn thủ Nghệ An kiêm đốc binh châu Bố Chính. Thấy nhân dân một số nơi thiếu đói, ông xin cho xá thuế, thi hành đức trị nên đất Nghệ An, Bố Chính dân được an cư lạc nghiệp. Ông còn cho lập các đội hương binh ở Nghệ An, lại đặt các đồn binh liên hoàn ở những nơi xung yếu, cùng hương binh canh phòng tuần tiễu giữ gìn an ninh trật tự. Một số quan đại thần, tướng lĩnh cao cấp của triều đình Lê - Trịnh hẹp dạ, vốn ghen tài thấy thế lại gièm pha với chúa Trịnh rằng ông mưu phản. Chúa Trịnh Doanh tin lời xiểm nịnh, muốn chặt vây cánh của vua Lê đã ép Phạm Đình Trọng uống thuốc độc chết vào đêm 30 Tết năm Giáp Tuất (1754). Khi sứ giả của Phủ Chúa đem rượu độc vào ban cho ông được chết toàn thây. Một bộ tướng cầu xin ông vào Nam theo Chúa Nguyễn, nhưng ông không nghe lời, cho mời Đốc đồng Nguyễn Danh Lâm căn dặn mọi việc để giữ yên xứ Nghệ, rồi lặng lẽ mặc triều phục hướng về Bắc vái vọng vua Lê, đoạn uống cạn chén rượu độc Chúa ban. Năm ấy, Phạm Đình Trọng mới 41 tuổi, tài năng đang ở độ chín. Trong Văn tế ông, Tiến sĩ Nguyễn Danh Lâm thảng thốt khóc than: "Tướng công hà cớ gì mà phải chết!? - Ngài là bậc quốc gia dựa cậy. Như cột trụ, như đá tảng giữa dòng nước xiết, triều đình tưởng trông. Ngài là một văn chương đạo đức, được dân chúng thực sự ngưỡng vọng. Ngài như cam lồ, mưa lành, phương trấn thảy đều chờ mong..." và đánh giá: "Chưa bốn mươi, chức Thượng thư, với người là sớm, với Ngài là còn chậm! Đội mũ nhà nho làm Tướng, với người thì lạ, với Ngài đúng sở trường..."
   Có thể nói, sự kết thúc cuộc đời bi thảm của cả hai nhân vật Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu là sự kiện tiêu cực điển hình của xã hội Đại Việt giữa thế kỷ 18, khi chế độ phong kiến đi xuống.
    Phạm Đình Trọng, người làng Khinh Giao, huyện Giáp Sơn, trấn Hải Dương, nay là thôn Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi (1739), niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 5 đời vua Lê Ý Tông. Ông từng giữ chức Phó đô ngự sử, vào phủ Chúa Trịnh (Phủ Liêu) làm Bồi Tụng, tước Dao linh hầu. Sau đó, được bổ giữ chức Hiệp trấn 3 đạo Đông, Nam, Bắc. Năm 1750, vì có công dẹp cuộc nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu (Quận He), Phạm Đình Trọng khi ấy mới 36 tuổi được thăng chức Thượng thư bộ Binh, hàm Thái tử Thiếu bảo, tước Hải Quận công. Trong lời Chế phong, vua Lê Hiển Tông đã tán dương tài năng, đức độ của ông như sau: "Xét Phạm Đình Trọng: Tài năng dùng làm cột trụ, làm đá tảng cho Nhà nước, khí độ cao như núi cao. Trời phú cho văn chương, tuổi trẻ nổi tiếng khoa giáp. Tỏ khí nghiệp từ lúc làm quan nhỏ, sắn có ước mong công hầu...".
     Phạm Đình Trọng là một con người tài cao, chí lớn, được đương thời và hậu thế hết sức nể trọng. Sử gia Phan Huy Chú đã ghi tên Phạm Đình Trọng tề danh với các bậc tài năng kiệt xuất như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Duy Thì, Đặng Đình Tướng, Nguyễn Nghiễm...Phan Huy Chú bình phẩm về con người ông bằng những lời khen ngợi: "Ông sinh ra đã có vẻ khôi ngôi. Năm lên 8 tuổi học vỡ lòng, đã hiểu được luật thơ. Khi lớn, văn chương hùng hồn...Ông tài kiêm văn võ, làm bậc nguyên thần của nước, là danh tướng làng nho, công lao sự nghiệp kỳ vĩ, gần đây chưa thấy có".
   Phạm Đình Trọng sinh ra trong một gia tộc nối đời nho học, thế phiệt trâm anh nên đã kế thừa, phát huy truyền thống gia đình. Ông vốn dòng dõi danh sĩ Phạm Sư Mạnh đời Trần, Phạm Gia Mô đời Hậu Lê, cao tổ là Phạm Chất Lượng làm đến chức Tả thị lang bộ Hộ, tước Hồng Nguyên hầu, tằng tổ là Phạm Huy Ánh làm đến chức Đô ngự sử hàm Thái tử Thiếu bảo, tước Yến Dực hầu; cha là Phạm Doãn Địch, Giám sinh Quốc tử giám làm đến chức Tri phủ phủ Thiệu Phong.
   Năm 1912, khi soạn bộ "Nam Hải dị nhân liệt truyện" (Truyện những người kỳ lạ ở đất Nam Hải), Phan Kế Bính lựa chọn tất cả 50 nhân vật, sắp xếp theo trật tự 8 bậc. Phạm Đình Trọng được Phan Kế Bính xếp vào hàng "Các bậc danh thần", tức bậc thứ 2, chỉ sau "Các bậc đại anh kiệt" (Trong số "Các bậc danh thần" có Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Trịnh Kiểm, Lương Hữu Khánh, Phạm Đình Trọng). Hiện nay, chúng ta có thể không hoàn toàn tán đồng với các sắp xếp, đánh giá của họ Phan về nhân vật hay một số nhân vật khác trong bảng giá trị các danh nhân lịch sử phong kiến nước ta, nhưng dù sao chăng nữa cũng phải thừa nhận nhân vật Phạm Đình Trọng thuộc loại tài năng kiệt xuất hiếm có vào nửa đầu thế kỷ 18. Chẳng thế mà vào năm Giáp Tuất (1754), khi nghe tin Phạm Đình Trọng chết ở doanh trấn Nghệ An, vua Lê Hiển Tông vô cùng thương xót, sai quân thuỷ bộ hộ tống linh cữu về làng Khinh Dao an táng; đồng thời sai quan Thượng thư là Trần Cảnh đến tận nơi dự tế. Chúa Trịnh Doanh cũng sai Thượng thư Bộ Lễ Nguyễn Công Thái đến tế và tặng 16 chữ: "Phủ dân, Tiễu khấu, Cố bản, An biên, Ái quốc, Trung quân, Hoàn danh, Cao tiết" (có nghĩa là: Yên dân, Diệt giặc, Vững gốc, An biên, Yêu nước, Trung quân, Danh thơm, Cao tiết).
   Theo ông Ngô Đăng Lợi, Chủ tịch Hội KHLS Hải Phòng, Phạm Đình Trọng có để lại một tập thơ chữ Hán chép tay; khoảng những năm 1966-1967, đã thông báo in xong bản dịch tập thơ trên báo Nhân Dân, không rõ sao không thấy phát hành. Di sản văn chương của ông hiện chỉ còn bài phú "Bắc môn toả thược" (Then khoá cửa Bắc) làm khi còn đi học; bài "Tượng đầu đoán tụng" làm khi trị nhậm ở châu Bố Chính và một bài thơ "Tiễn Nhập thị Tham tụng Kiều Quận công Nguyễn Công Thái trí sĩ" và một vài câu đối đáp với Quận He Nguyễn Hữu Cầu. Gia phả cho biết, Phạm Đình Trọng có 4 phu nhân: Chính thất họ Lưu hiệu là Trinh Tĩnh; thứ thất họ Đặng hiệu là Từ Dũ; thứ thất họ Lưu, hiệu là Từ Hoa; thứ thất họ Nguyễn, hiệu là Diệu Tín. Không rõ theo nguồn tài liệu nào, Từ điển nhân vật Việt Nam (tái bản lần thứ 4 - NXB Văn học HN- 1997) cho biết vợ ông là nữ sĩ Mai Lâm Tuyết, con gái Thượng thư Mai Thế Kiệt và em gái An Đông hầu Mai Khôi, người luôn sát cánh với Phạm Đình Trọng trong các cuộc chính phạt.
Trần Phương
Nguồn http://haiphonghoc.vnweblogs.com
Đình Khinh Giao (ảnh Dương Tuấn Tú)

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Thạch Động Phạm Nguyễn Du

Thạch Động Phạm Nguyễn Du

  •   TRẦN ĐÌNH HẰNG
  • Tình cờ, người bạn trong ngành văn hóa thông tin tỉnh Quảng Trị giới thiệu tôi với anh hàng xóm sau nhà, công tác ở bệnh viện Đông Hà, và thật cơ duyên, anh Phạm Văn Hải lại chính là cháu đời thứ 11 của Tiến sĩ Phạm Nguyễn Du, tác giả của một công trình viết về xứ Đàng Trong hồi cuối thế kỷ XVIII, mà tôi có dịp tiếp cận từ trong luận văn cao học năm 1999.
Tôi rất lấy làm tiếc khi được biết rằng hiện nay ở quê hương, nhà thờ và lăng mộ ông - đã được công nhận di tích quốc gia[1]- vẫn không còn lưu giữ được nhiều tài liệu, di vật, ngoài một bức vẽ truyền thần (?), một sắc bằng (một đã không còn) và một bia đá[2]. Điều đó đã làm tôi ray rứt và với những tư liệu có được, tôi liền gửi anh Hải một danh mục trước tác của ông, nguyên văn chữ Hán cùng bản dịch tác phẩm Nam hành ký đắc tập, kèm một lời đề nghị gia tộc có thể sưu tập, biên soạn một cuốn sách về ông. Có lẽ tâm tư nhiệt thành của tôi hơi thái quá, đến nỗi nhiều người trong dòng tộc tỏ ra nghi ngờ, vì một mục đích thực dụng cá nhân nào đó của tôi. Thú thực, cảm giác bị xúc phạm thì ít, mà nặng nề hơn, tôi lại thấy rất buồn: một con người nổi tiếng đương thời như vậy, mà nay ít được mọi người biết đến, sử sách nhắc đến, kể cả trong gia tộc.
Phạm Nguyễn Du (1739 - 1787) vốn có tên Phạm Vĩ Khiêm, tự Hiếu Ðức và Dưỡng Hiên, hiệu Thạch Ðộng, người làng Ðặng Ðiền, huyện Chân Phúc (Nghệ An), là người học giỏi, có tiếng hay chữ từ nhỏ. Tuy nhiên, mãi đến năm Cảnh Hưng 40 (1779 - 40 tuổi), mới đậu Hoàng Giáp, sau làm quan đến Ðông Các Ðại học sĩ.
Theo Nghệ An ký và Ðăng khoa bị khảo, ông làm Ðốc đồng Nghệ An khoảng năm 1786 - 1787, sau đó thì bị bệnh và mất ở vùng Thanh Chương - Nam Ðàn (Trần Văn Giáp, 1970, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam, Tập I, H: Thư viện Quốc gia xuất bản: 99 - 100). Sau khi mất, ông được truy phong tước Thuận Lương Đại Vương (theo bản dịch sắc phong ngày 20/3/Thiên Thống I - 1787, hiện lưu giữ tại nhà thờ).
Theo Nghệ An ký, dẫn Ðăng khoa lục, thì ông đỗ tiến sĩ năm 40 tuổi, tiến triều nhận chức Hiệu thảo thiêm sai tri hình phiên, Hội nguyên thịnh khoa khoa Kỷ Hợi, đời Lê Hiển Tông, Cảnh Hưng 40 (1779). "Lúc còn trẻ, văn chương ông đã có tiếng là khí chất lỗi lạc cao vượt hơn đời. Năm Cảnh Hưng 36 (1775), do thế gia vọng tộc, được tiến triều làm Thiêm sai tri hình phiên. Sau khi đỗ, ông giảng Minh lý học, ra sức nghiên cứu, viết sách Luận ngữ ngu án. Xếp thứ tự trước sau trong sách Luận ngữ chia làm 4 mục: Thánh, Học, Sĩ, Chính, mục nào cũng có điều lý phân minh. Ông lại có tập Thạch Ðộng thi văn sao truyền ở đời... (Bùi Dương Lịch, 1993, Nghệ An ký, H.: Nxb. KHXH: 316).
Theo văn bia số 82 - Bài Ký Ðề Tên Tiến Sĩ Thịnh Khoa Kỷ Hợi tại Quốc Tử Giám Hà Nội thì năm Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 (1779), "chấm cho 4 trường hợp cách là bọn Phạm Nguyễn Du 15 người", với 02 Ðệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân và 13 Ðệ tam giáp Ðồng Tiến sĩ xuất thân:
1. "Lê Huy Trâm: Xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam, Nho sinh trúng thức, 38 tuổi".
2. "Phạm Nguyễn Du: Xã Ðặng Ðiền, huyện Chân Phúc, phủ Ðức Quang, trấn Nghệ An, đỗ tỉnh nguyên (đỗ đầu tỉnh), văn chức, tứ trọng và ngự đề đều đỗ đầu, phụng thị nhập giảng, trãi giữ các chức huyện, tự viên lang, thiêm phó, Tiến triều đàm đạo, Thiêm sai tri Hình phiên, Hàn lâm viện Hiệu thảo, kiêm Quốc sử Toản tu, năm ấy 40 tuổi, đệ nhị trường đệ tứ trường và ứng chế đỗ đầu".
Ðặc biệt trong 13 vị Ðệ tam giáp Ðồng tiến sĩ xuất thân khoa này, còn có hai người quê Nghệ An là Nguyễn Đường và Phạm Huy Ôn [3].
Chỉ giới thiệu từng đó vẫn chưa đủ nếu muốn khái quát nên bức chân dung của Tiến sĩ Phạm Thạch Động mà không nhìn vào trước tác đồ sộ của ông, đặc biệt là tất cả lại được ra đời trong một môi trường rất đặc biệt, với "hội" những người bạn tri âm tri kỷ đặc biệt như Lê Quế Đường (Quí Đôn), Ngô Thì Nhậm, Bùi Huy Bích... với tác phẩm Phủ biên tạp lục, Vân đài loại ngữ, Đại Việt thông sử... rất nổi tiếng. Sơ bộ, chúng tôi thống kê được trước tác đồ sộ đó với hơn ngàn trang chữ Hán, kể cả viết sử, chính luận, thơ văn, lời bạt, lời tựav.v... Có thể kể ra một số ví dụ cụ thể như sau:
1. Nam hành ký đắc tập: soạn và đề tựa năm Ðinh Dậu thời Cảnh Hưng (1777). Bùi Huy Bích, Thần Khê Phạm Thiên Nhất, Ninh Tốn, mỗi người viết một bài tựa năm Ðinh Dậu (1777). Bản viết 150 trang, 4 tựa, 4 mục lục, nội dung bao gồm văn thơ của Phạm Nguyễn Du: 8 bài văn bàn luận về cách dùng người, binh tài, hình thế, phong tục, nhân tình, xa kiệm (xa xỉ và dè xẻn), tiết nghĩa, tổng luận (Q 1); giới thiệu tóm lược một số thơ ngũ ngôn, thất ngôn của Nguyễn Cư Trinh, Ngô Thế Lân, Trần Thụy, Hồ Tông Diên, Nguyễn Phúc Dục, Mạc Thiên Tích (Q 2); 6 lá thư, trát gửi đại tướng quân Hoàng Ngũ Phúc, văn tế thần thánh (Q3); 78 bài thơ tả cảnh, tức sự, cảm hoài; và bài phú Xuân Thành đông vũ (mưa đông ở Xuân Thành) và bài phú Nguyễn Thị di cung  (cung thất còn sót lại của họ Nguyễn).
2. Thạch Ðộng văn sao, bản viết 381 trang, gồm 191 bài văn của ông: văn tế (Chu Công, cầu mưa), ký lục (sự tích và lai lịch họ Phạm), thư tín (trao đổi ý kiến với Phạm Lập Trai, Ngọ Phong Công, Trần Danh Án), khải (xin mộ thủy thủ, đóng thuyền, canh phòng bờ biển), tựa, bạt (sách Ðộc sử tuyên ngôn), văn bia, bàn về kinh nghĩa...
3. Thạch Ðộng tiên sinh thi tập (2 bản: 174 trang, 266 trang), với trên 400 bài thơ của ông vịnh cảnh núi sông, di tích lịch sử, danh thắng, đền chùa miếu mạo, mừng tặng, thù tạc với bạn bè (vịnh núi Dục Thúy, đền Thụy Hương, đền Hùng, mừng Ngọ Phong được làm Tham chính Nghệ An, tặng bạn cũ ở Tây Hồv.v...).
4. Nghệ An hoàng giáp Phạm Thạch Ðộng vịnh sử tập là bản viết 40 trang thơ của ông, vịnh các nhân vật lịch sử của Trung Quốc từ đời Bàn Cổ đến đời Ðường Hiến Tông (806 - 820).
5. Chu huấn toản yếu, gồm 5 quyển, đại khái phỏng theo sách Cận Tư lục của Chu Hi và Lã Tổ Khiêm đời Tống, lấy toàn tập văn của Chu Văn Công chia ra từng loại, xếp thành tiết mục, gồm hơn 600 điều.
6. Ðộc sử si tưởng, bản viết 102 trang, chép 164 bài thơ của ông, vịnh 150 nhân vật lịch sử Trung Quốc, bài tựa của tác giả viết năm Cảnh Hưng 29 (1768).
7. Luận ngữ ngu án. Ðông Xuyên Cư sĩ viết tựa năm Cảnh Hưng 42 (1781). Bài tiểu dẫn đề năm Minh Mạng 13 (1832), bản viết 422 trang, 1 tiểu dẫn, 1 bạt, 1 phàm lệ, có mục lục, tất cả nhằm chú thích, giải nghĩa lời nói và việc làm của thầy trò Khổng Tử trong sách Luận Ngữ. Có lời bàn của người biên soạn.
8. Ðối liên thi văn tập, bản viết 124 trang, trong đó có Cựu Lê quốc tang đối liên: câu đối trong các dịp tang lễ của Trịnh Thái Tổ, Hoàng Ngũ Phúc, thân phụ Phạm Vĩ Khiêm (Phạm Nguyễn Du).
9. Bi ký tạp biên, bản viết 174 trang, có chữ Nôm; trong đó có phần II. Bi, ký, lục, truyện, khảo, của các tác giả Việt Nam như Nguyễn Văn Hiển (Ðồ Bàn thành ký), Phan Thanh Giản (Thiên Y Tiên nữ truyện ký)... và nhiều tác giả khác: Nguyễn Thượng Hiền, Phạm Nguyễn Du...
10. Danh phú hợp tuyển, Danh phú tập, Bát vận phú, Bát vận phú hợp tuyển, Lê triều bát vận phú. Do Ân Quang Hầu biên tập và viết tựa năm GL 13 (1814), Ðốc học Trung Chính Bá và Trợ giáo Thời Bình Nam khảo đính. Hải Học đường in năm GL 13 (1814), một bản in, 5 bản viết. Ðây là các bài phú chọn lọc của các danh gia từ đời Trần đến đầu đời Nguyễn như Mạc Ðĩnh Chi, Lê Quý Ðôn, Ðặng Trần Côn, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Du, Phạm Quý Thích..., đề tài lấy trong Kinh, Truyện, Sử... về các vấn đề chính trị, quân sự, nhân sự, địa dư, thời tiết... dùng làm mẫu cho người học làm văn thi cử.
11. Lê triều hội thí văn tập; Lê Hội văn, ba bản viết. Đây là những bài văn sách xuất sắc (mỗi khoa chọn một bài) trong các khoa thi Hội, Ðình từ năm Lê Chính Hòa Giáp Tuất (1694) - Lê Chiêu Thống Ðinh Mùi (1787), cộng 33 khoa. Tên những người thi đỗ như Nguyễn Quyền, Lê Quý Ðôn, Phạm Nguyễn Du, Bùi Dương Lịch...
12. Danh ngôn tạp trú, bản viết 260 trang, trong đó có Tao đàn thoại cổ thi tập, Phạm Nguyễn Du viết tựa, Bùi Huy Bích viết lời dẫn, Vũ Ôn phẩm bình; tập thơ xướng họa giữa Bùi Huy Bích và Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Ngô Thì Nhậm...
13. Nghệ An thi tập, Thanh Trì Hoàng giáp Bùi Bích soạn. Thạch Ðộng Dưỡng Hiên Nguyễn Du Thanh Thi viết tựa năm Nhâm Dần (1782). Văn Tiến Hoan Châu Tử Cư sĩ Nguyễn Ðường viết tựa năm Nhâm Dần 1782). Diên Hà Quế Ðường viết tựa năm Cảnh Hưng 44 (1783). Hai bản viết (2Q), 3 tựa (467 bài thơ của Bùi Huy Bích làm trong khi nhậm chức Ðốc Ðồng Nghệ An: thơ tiễn tặng, đề vịnh (Q1); thơ
14. Tồn am thi cảo, Hầu tước họ Bùi, tự Ấm Chương sáng tác, Phạm Nguyễn Du viết bạt năm Nhâm Dần (1782), Quế Ðường ở Diên Hà viết tựa năm Cảnh Hưng 4 (1783), hai bản viết: 350 trang; 558 trang (670 bài thơ của Bùi Huy Bích).
v.v...
Nghệ An nổi tiếng với truyền thống khoa bảng và thực sự đủ tự tin để được vinh danh là đất học, mà ở đó, có nhiều, nhiều những người như Thạch Động Phạm tiến sĩ. Niềm tự hào đó không dừng lại trong phạm vi gia tộc, mà mở rộng ra cả quê hương, đất nước. Cuốn sách về thân thế sự nghiệp của ông, ít ra cũng trong suy nghĩ của tôi, sẽ rất đồ sộ, và cũng rất ý nghĩa cho hậu thế. Và dù còn nhiều khó khăn nhưng có thể trong thời gian tới, chúng tôi sẽ cố gắng sưu tập bộ trước tác đó, thành kính xin đặt ở một nơi trang trọng trong nhà thờ của ông.
                                                                                        T.Đ.H
 Nguồn tin: Văn hóa Nghệ An
Địa chỉ liên hệ: Trần Đình Hằng, Phân Viện Nghiên cứu VHTT tại Huế
22B Lê Lợi. ĐT: 054. 848040. Mb. 0903553745.
 
Kèm theo bức ảnh:
Trang đầu của tác phẩm Nam hành ký đắc tập.
 


[1] Quyết định số 95/1998-QĐ/BVHTT, ngày 24 tháng 01 năm 1998 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, công nhận di tích lịch sử nhà thờ và lăng mộ tiến sĩ Phạm Nguyễn Du, ở xã Nghi Xuân, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
[2] Do chính Tiến sĩ Phạm Nguyễn Du viết, khắc xong năm Nhâm Dần 1782, mãi cho tới năm Cảnh Hưng thứ 43 (1784) mới dựng đặt ở phía đông nhà thờ. Nội dung bi ký là bản lược sử gia tộc, trong đó có vài nét tiểu sử của ông cũng như sự ra đời của bi ký.
[3] Nguyễn Ðường, người xã Trung Cần, huyện Thanh Chương, phủ Ðức Quang, trấn Nghệ An, đỗ kỳ tứ trọng, kính nhận chức Huấn đạo, ứng chế đỗ thứ nhì, mấy đời thi đỗ, chú cháu làm quan một triều, đỗ năm 34 tuổi. Phạm Huy Ôn người xãThu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Ðức Quang, trấn Nghệ An. Nho sinh trúng thức, đỗ đầu hàng tỉnh. Cha con anh em cùng làm quan một triều, đỗ năm 25 tuổi (Ðỗ Văn Ninh Bs, 2000, Văn bia Quốc tử giám Hà Nội, H.,: Nxb. VHTT: 565 - 568).