Cội nguồn họ Phạm: Nam Định
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nam Định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nam Định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

Các làng, dòng họ khoa bảng ở Nam Định


Nam Trực là vùng đất có nhiều người đỗ và đỗ cao. Nam Trực là quê hương của 3 vị Trạng nguyên, 1 Hoàng giáp, 15 Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 1 Phó bảng và 86 Cử nhân và Tú tài. Nói tới các làng khoa làng bảng ở huyện Nam Trực có thể kể đến: làng Cổ Chử với cha con Trần Văn Bảo và Trần Đình Huyên cùng đỗ đại khoa; làng Bái Dương với dòng họ Ngô (Ngô Thế Vinh đỗ Hoàng giáp; làng Bách Tính, Nam Trân, Vân Chàng, Tang Trữ, Lộng Điền...).
Vụ Bản được coi là quê hương của các vị Thám hoa và Hoàng giáp với 1 Trạng nguyên, 1 Thám hoa, 3 Hoàng giáp. Đây là  quê hương của Trạng Lường nổi tiếng về toán học. Dòng họ Nguyễn ở làng Cựu Hào nay thuộc xã Vĩnh Hào, với những tên tuổi như: Nguyễn Xưởng đỗ Cử nhân năm 1786 mở đầu cho dòng họ Nguyễn. Nguyễn Thuyên 3 lần đậu Tú tài. Ông có 4 người con là Nguyễn Khâm, Tú Đoán, Tú Tương  và Ấm Thừa đều đỗ Tú tài. Nguyễn Thành, em trai Nguyễn Thuyên, đậu Tú tài 7 lần,  là ông nội của Nguyễn Văn Tính. Nguyễn Văn Tính đỗ Tiến sĩ khoa thi Tân Sửu (1901) năm Thành Thái thứ 13, cùng khoa với Phan Chu Trinh và Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người em thứ ba của Nguyễn Thuyên là Nguyễn Ngọc Đường cũng đậu Tú tài 4 lần.
Xuân Trường đứng đầu cả tỉnh Nam Định về số lượng người đỗ đạt, nhưng phần lớn là những người đỗ Cử nhân, tập trung nhiều dưới thời Nguyễn. Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân là danh hiệu cao nhất của sĩ tử vùng này đạt được. Nói đến làng khoa bảng của huyện Xuân Trường nói riêng và tỉnh Nam Định nói chung không thể không nhắc tới làng Hành Thiện.
Làng Hành Thiện nổi tiếng là đất học và có nhiều người đỗ đạt trong thời kỳ phong kiến. Thời Nguyễn, làng Hành Thiện có số người khoa mục đứng đầu toàn quốc: 3 Tiến sĩ (Đặng Xuân Bảng (đỗ năm 1856), Nguyễn Ngọc Liên, Đặng Hữu Dương (đỗ năm 1889); 4 Phó bảng (Đặng Kim Toán (đỗ năm 1848), Đặng Đức Dịch (đỗ năm 1849), Nguyễn Âu Chuyên (đỗ năm 1884) và Phạm Đình Sắc (đỗ năm 1901); 87 Cử nhân và  con số người đỗ Tú tài lên đến hơn 200 người. Trong 42 khoa thi tổ chức ở trường thi Nam Định, khoa nào cũng có người Hành Thiện đỗ Cử nhân hoặc Tú tài. Có thể nói, Hành Thiện đứng đầu cả nước về số lượng người đỗ Cử nhân.
Đền thờ trạng nguyên Lương Thế Vinh
Khoa thi Hương năm Kỷ Mão 1879, làng  Hành Thiện có 3 người đỗ đầu là: Giải nguyên Nguyễn Âu Chuyên, Á nguyên Đặng Văn  Nguyện và thứ ba là Nguyễn Lý Thản. Dân làng Hành Thiện có câu: "Thần Chuyên, Thánh Nguyên, Trạng nguyên Thu" để ca tụng 3 người này. Ngoài ra, làng Hành Thiện còn có 4 người đỗ Giải nguyên và  4 người đỗ Á nguyên trong các kỳ thi Hương.
Không  chỉ có nhiều người  tham gia khoa bảng, làng Hành Thiện còn nổi tiếng về sự kiên trì, không nản chí, quyết tâm theo đuổi việc học hành, thi cử. Nguyễn Đăng Thiện đỗ Tú tài khi mới 19 tuổi nhưng đến 60 tuổi mới đỗ Cử nhân. Nguyễn Như Bổng dự 15 khoá thi Hương trong suốt 40 năm, chỉ đỗ Tú tài 2 lần và đỗ Cử nhân khi 60 tuổi.
Có rất nhiều người đỗ đạt của làng Hành Thiện giữ các vị trí trong hệ thống quan chức của triều đình phong kiến từ trung ương tới địa phương.
Số dòng họ, gia đình có nhiều người đỗ đạt ở Hành Thiện, Xuân Trường chiếm số lượng lớn như họ Đặng, họ Nguyễn, họ Phạm...
Những gia đình có ông cháu cùng thi đậu Cử nhân như: ông là Nguyễn Xuân Tháp (là người viết tác phẩm Hành Thiện bản ấp lịch triều đăng khoa lục văn hội thông ký) và cháu là Nguyễn Lý Thản; ông là Đặng Văn Bính và các cháu: Đặng Hữu Dương, Đặng Hữu Hộ, Đặng Hữu Hách.
Gia đình có cha con cùng thi đậu Cử nhân: cha là Đặng Hữu Đức, con là  Đặng Vũ Uyển; cha là Đặng Đức Cường, con là Đặng Đức Chính; cha Nguyễn Xuân Huyền, con Nguyễn Xuân Thống; cha Đặng Đức Nhu, con Đặng Đức Quyên, Đặng Đức Tiêu; cha Lương Trọng Xán, con Lương Ngọc Đĩnh.
Gia đình có chú cháu cùng thi đậu Cử nhân: chú Nguyễn Xuân Huyền, cháu Nguyễn Xuân Kinh; chú Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Thủ Ước, cháu Nguyễn Hân.
Gia đình có anh em cùng thi đậu: anh họ là Tiến sĩ Đặng Hữu Dương, anh Cử nhân Đặng Hữu Hộ, Đặng Hữu Hách, em Cử nhân Đặng Hữu Châu; anh Nguyễn Bá Huống, em Nguyễn Trọng Trù, Nguyễn Thế Tự cùng đậu Cử nhân. Trong đó Nguyễn Bá Huống và Nguyễn Thế Tự đỗ cùng khoa thi năm 1821; anh Nguyễn Đăng Kiều, em Nguyễn Như Bổng; anh Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng, em Cử nhân Đặng Ngọc Toản; anh Nguyễn Đức Ban, em Nguyễn Ngọc Liên; anh Đặng Đê Kinh, Đặng Văn Khánh, em Đặng Văn Độ cùng đậu Cử nhân.
Ý Yên là quê hương của các vị Hoàng giáp. Riêng huyện này đã có tới 7 vị Hoàng giáp, chiếm số lượng lớn nhất những người đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ cập đệ. Cùng với Xuân Trường, Ý Yên cũng là huyện có tiếng với các làng khoa bảng như làng Tam Đăng có gia đình Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, một người con đỗ Phó bảng và ba người đỗ Cử nhân; làng La Ngạn, xã Yên Đồng, có dòng họ Đỗ có truyền thống khoa bảng. Tổ đời thứ 9 của dòng họ Đỗ là Đỗ Huy Cảnh, đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão năm 1819. Con trưởng của ông là Đỗ Huy Uyển đỗ Phó bảng năm 1841. Con trai của Đỗ Huy Uyển là Đỗ Huy Liêu đỗ Hoàng giáp năm 1879. Một số người khác trong  gia đình tuy không tham gia khoa cử nhưng vẫn học giỏi và làm nghề dạy học. Đây là gia đình mà cha con, ông cháu đều đỗ đạt. Từ đường họ Đỗ còn treo đôi câu đối:
Lục triều trung hiếu gia sinh Phật
Tam thế khoa danh quốc phúc hầu
Tạm dịch:
Sáu triều trung hiếu nối nhau, Phật sống trong nhà sao hiếm thấy
Ba đời khoa danh hiển hách, phúc thần được nước kính dâng thờ.
Ngoài ra các gia đình có cha con, ông cháu, chú cháu cùng thi đậu Cử nhân như: xã Phú Khê có cha con Hoàng Trọng và Hoàng Văn Tuấn ; chú Hoàng Văn Tuấn và cháu Hoàng Cẩn cùng đậu khoa thi năm 1876; cha Hà Trọng Thạc, con Hà Trọng Pha, người xã Nguyệt Lãng; cha Bùi Cung Quang, con Bùi Tiến Tiên, người xã Đông Duy; ông là Hương cống Trần Văn Vịnh, cha Trần Văn Tiến, con Trần Văn Cận, bác Trần Văn Quýnh, Trần Văn Thức, anh họ Trần Văn Tạo, Trần Tiễn Đắng cùng đậu Cử nhân, người xã Vũ Xuyên. Trong đó Trần Văn Quýnh và Trần Văn Tiến đậu cùng khoa thi năm 1848; chú Lã Xuân Oai, cháu Lã Xuân Trang, người xã Thượng Đồng; cha là Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh, con là Cử nhân Khiếu Tứ Ứng, Cử nhân Khiếu Tam Lữ, người xã Trực Mỹ. Khiếu Tứ Ứng và Khiếu Tam Lữ là hai anh em đỗ cùng khoa thi năm 1900.
Làng Cổ Lễ huyện Trực Ninh,  có cha con họ Đào cùng đỗ đại khoa (cha là Đào Toàn Bân đỗ Tiến sĩ, con là Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên). Bên cạnh đó còn có các làng, xã có nhiều người đỗ đạt như Phương Để, Dịch Diệp.
Số người đỗ đạt thuộc thành phố Nam Định hiện nay không nhiều, nhưng đều có người đỗ Bảng nhãn, Thám hoa, Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân, Phó bảng và Cử nhân.
Theo: Địa chí Nam Định
(Nguồn từ www.dulichnamdinh.com.vn)

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Di tích lịch sử Quốc gia: Đền - Chùa Hưng Thịnh, Hoàng Nam, Nghĩa Hưng, Nam Định


ĐỀN - CHÙA HƯNG THỊNH
(Xã Hoàng Nam, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định)
Xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia theo QĐ số 226-VH/QĐ, ngày 05/02/1994.
                       
            Đền - chùa Hưng Thịnh thờ hai vị tiến sỹ Phạm Nguyên Bảo và Phạm Đạo Phú triều Lê Thánh Tông năm 1487.

            Tiến sĩ Phạm Nguyên Bảo là cháu cụ Phạm Thời Cử. Cụ Phạm Thời Cử là một trong 3 vị thuỷ tổ châu chiếm cùng Cụ Phạm Đại Lang và Dương Thế An đến mảnh đất này từ năm 1425, lúc đó nơi đây còn là một bãi bồi hoang vu của bể nha Hải Nam. Sau 03 năm chiêu mộ và khai phá đến năm Lê Lợi nguyên niên 1428. Nơi đây được thành lập xã lấy tên là Hưng Phú và chia thành 02 thôn Đông và Đoài tức thôn Hưng Thịnh ngày nay…

            Tiến sỹ Phạm Nguyên Bảo sinh năm 1456 sau lập xã 28 năm. Khi lớn lên bắt đầu theo học 1 người nổi tiếng là học sỹ giỏi người thôn Đoài và người thi đỗ đệ nhị giáp tiến sỹ khoa Đinh Mùi. Triều Lê Thánh Tông năm 1487 là một người có tài kiêm văn võ, người được vua phong chức phó đô ngự sử kiêm chức võ giai chưởng, quân nội thị, cầm một đội quân trông coi nơi dinh vua ở.

 
            Năm 1492 giặc ngọc lân do tên tướng Gia Đa Lý, cầm đầu nổi loạn ở vùng Hưng Hoá. Vua cử đại tướng Trần Trường đi dẹp. Tiến sỹ Phạm Nguyên Bảo làm sớ  tâu Vua xin được đi cùng, được vua chấp nhận và chính người đã chỉ huy chiến đấu bắt sống được tướng giặc Gia Đa Lý. Sau trận này được vua khen Tiến Sỹ Phạm Nguyên Bảo là người có tài Vua phong thêm chức Võ Huân Tướng công tả hiệu điển và cử đi giữ chức toàn quyền tuần thủ vùng Thanh - Nghệ. Người mất tháng 2 năm 1497 tức ngày 27 tháng giêng năm Đinh Tỵ. Chết cùng năm nhưng trước vua Thánh Tông 3 ngày.

            Triều đình thương tiếc mất một vi tướng tài tổ chức lễ quốc tang. Sắc phong tôn thần lê triều đinh vị khoa, đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân, tạc vũ giai chưởng, nội thị thăng nghệ an trấn thủ, sỹ chí phó đô ngự sử tăng thiếu uý thuỵ vũ thánh, phạm tướng công uy linh phú dực, vũ dũng phân duơng, đại tướng đổng quân (công đoan tức đại vương trung đẳng thần). Rồi cử một đại quân rước thi hài về an táng tại quê hương Hưng Phú chữ hán ghi (lệnh tấn binh tống hồi) mộ người táng tại gồ con hạc cánh đồng tân xây thành lăng theo hình hạc rộng một xào bắc bộ.

            Khi rước thi hài tiến sỹ về bản quán đi qua tỉnh nào, tỉnh ấy có trách nhiệm nghênh tiếp và lập đền thờ (Phạm Tướng Công) vì vậy mà khu cột cờ Nghệ An cũ, Thanh Hà, Đông Sơn, Thanh Hoá có đền thờ Phạm Tướng Công Phạm Sá Đông cao thượng cũng có miếu thờ 2 tiến sỹ đây là nơi quê hương tổ tiên của cụ Phạm Thời Cử.

            Để tỏ lòng ngưỡng mộ và uống nước nhớ nguồn đối với các danh nhân có công với dân tộc. Ngay sau khi người mất năm 1497 nhân dân ta đã xây đền thờ phụng người ở phía bắc chùa do thôn Đoài trực tiếp phụ trách.

            Ngày 2 tháng 8 năm Canh Dần 1530 Tiến Sỹ Phạm Nguyên Bảo được thôn Đông xây đền thờ ở phía nam chùa, 2 ngôi xây song để thờ phụng người.

            Đến năm Tự Đức thứ 7 dân làng hợp nhất 2 đền vào làm 1 để thờ phụng.

            Kể thừ ngày người mất đến nay đã hơn 500 năm nhưng danh tiếng của người vẫn được bảo tồn qua các triều đại, tên tuổi, vị trí chức vụ của người được ghi ở Quốc Tử Giám Hà Nội được chép trong sử sách lưu trữ thư viện quốc gia.

 
            Khi người mất, nơi thờ phụng người vẫn có nhiều các bậc đại nhân, chí sĩ có tinh thần dân tộc yêu nước lui tới thăm viếng ngưỡng mộ người, làm nhiều câu đối tiến cúng để thờ phụng người, câu đối như sau:

Bút tận nghiêng thành uỷ khả uý
Nghĩa can trung giáp tử do sinh

            Hàn lâm thị giảng đại học sỹ Nguyễn Trọng Hợp tiến cúng, câu đối xin tạm dịch.
            Với kẻ thù bút nghiên thành gươm giáo, thành luỹ oai khả sơ
            Cả trung và nghĩa đều đứng hàng đầu, nên mất cũng như còn.

            Và dưới đây là thần tích của Tiến sỹ Phạm Văn Nghị soạn nói về thần tích vị trí chức vụ của người như sau:

Đại an có đất phát văn
Thủ lê Hoàng Đức thánh quân hiếu hiền
Khoa đinh vị lịch niên thập bát
Thần vào thi nhị giáp đề danh
Trời sinh võ nghệ cũng rành
Vũ giai chức thưởng thông minh trực hầu
Giặc ngọc lâu loạn miền hưng hoá
Thần xin đem binh mà đánh tan
Tâu về ngọc bệ chỉ ban
Phong cho làm chức nghệ an tấn thần
Giặc bốn mạn lê quân tự tướng
Chàn lại đem nghị tướng khởi hành
Bỗng đâu lạc vị tướng tinh
Cối sao cơ vị thiên đình thẳng lên
Tặng thiếu uý vũ thành tên thuỵ
Triều cho dân phụng sự làm thần
Uy linh thực đã xuất quân
Nhất môn liên chúng văn thần kế khoa
Sau 3 năm khoa là Canh Tuất
Thần đỗ lên tam giáp truyền lô
Tao đàn nguyên suý cung Vua
Nhị Thập bát tú đều đua thi tài
Chức thị lang thu hoài mấy buổi
Mạc cướp ngôi tìm lối thoái quy
Về sau lê tặng tham ty
Thuỵ là trung ý phong vi phúc thần
Thần hai vị hoán luân một miếu
Hộ tống xưa đại tiểu khôn bi
Phương rân nhớ phúc thần ri
An cư lạc nghiệp hi hi xuân đài

            Riêng về đối tự của ngài không có bút tích để lại, hương phả chữ hán của thôn chỉ ghi ao vườn của ngài ở xóm Tây An và 24 mẫu cấp tứ của nhà Vua ban cho 2 vị và có ghi ngôi mộ tổ phát tích ra 2 đức đại khoa táng tại gồ mai cua ở thôn Vân Cù nay là thôn An Lộc huyện Nam Trực có bia đá đề.

            (Hưng Phú Đại An nhị đại khoa tổ mộ xứ).

            Kèm theo văn tự nhân dân ta mua 1 sào ruộng tư điền thời tự đức để trả công cho người trông coi mộ tổ, hàng năm phải sắm lễ để ngày thanh minh các cụ ra thăm mộ lễ đức thần linh.
           

           
Xã Hoàng Nam đón bằng di tích lịch sử văn hoá theo quyết định số 226/VH/QĐ ngày 5/2/1994 đền, chùa thôn Hưng Thịnh thờ hai vị tiến sỹ Phạm Nguyên Bảo và Phạm Đạo Phú triều Lê Thánh Tông năm 1487.

            Trong phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” theo chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT. Tường THCS Hoàng Nam được giao chăm sóc đền chùa Hưng Thịnh. Trường đã tổ chức cho học sinh học tập những nét lớn về thân thế sự nghiệp của tiến sĩ Phạm Nguyên Bảo và Phạm Đạo Phú. Tổ chức cho tham quan khu di tích để các em trực tiếp nhìn cảnh quan, cách bố trí nơi thờ cúng và sự đóng góp công sức của các thế hệ ông cha xây dựng ngôi đền chùa trang nghiêm thành kính để các em tri ân về cội  nguồn mà hai tiến sĩ đã có công phù lê dẹp ngoại xâm đem lại nền thái bình cho đất nước và xây dựng quê hương trù phú. Tổ chức dâng hương cùng địa phương nhân ngày mở hội. Phân công cho từng khối lớp làm cỏ trong vườn đền chùa, tưới nước chăm sóc cây hoa cây cảnh, quét dọn vệ sinh trong khu nội tự đền chùa.






 
Lương Thế Dũng - Phòng GD&ĐT
             (Bài viết và ảnh do trường THCS Hoàng Nam cung cấp)

Trích lược Hành Thiện Xã Chí


Xét thế Khoa – lục, thì làng ta phát Khoa từ khoảng niên hiệu Thông – nguyên Triều Lê (Triều Vua Cung Hoàng đế) (1522) cho đến Khoa Ất Mão niên hiệu Duy Tân thứ 9 (1915), nghĩa là không còn để lối thi hương, hội nữa.
Số trúng Tiến sĩ, Phó bảng, Cử nhân và Tú tài, tổng cộng được 338, tựu trung có khoa trúng được 2 Tiến sĩ, lien khoa (khóa trước và khóa nối sau) trúng được 2 giải nguyên (tức là đỗ đầu cử nhân hay là thủ khoa) cũng có năm đỗ được cả giải nguyên (đỗ đầu), Á nguyên (thứ nhì) và thứ ba Cử nhân cùng một khoa. Có năm cha con, anh em, chú cháu, cùng trúng 1 khóa, ngạn ngữ có câu: “Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện” nghĩa là nơi khoa giáp làng Hành Thiện đứng đầu Tỉnh Nam, không kém gì làng Cổ Am tỉnh Đông (Hải Dương) vậy.
Khai khoa cho làng ta là cụ Nguyễn Thiện Sĩ, về họ Nguyễn rồi các cụ trong các họ nối nhau khai khoa cho các họ như các cụ Đặng Minh Dương, Đặng Khắc Nhượng, Phạm Ngọc Thân, Tống Tâm Quang, Đỗ Khắc Thiêu, Lã Đinh Phùng, Đào Đắc Dư, Vũ Nguyên Trình, Đặng Quang Dư, Trần Vũ Giám, Đinh Nguyên Thiệu.

HỌ PHẠM: 
Phó Bảng
1
Á nguyên
1
Cử nhân
6
Tú tài
33
Tú tài phụ tịch
1

Cụ Phạm Ngọc Thân, Tam trường … 1619 – 1628, triều Lê Vĩnh Tôn.
- Phạm Đoan Du, - nt 1663-1671, triều Lê Cảnh Thọ.
- Phạm Duy Dương, - nt 1684, triều Lê Chính Hòa
- Phạm Liên, - nt –
- Phạm Doanh Nho, - nt 1691-1699
- Phạm Khánh, - nt 1691
- Phạm Đăng Toàn, 22t, Tú tài Khóa Nhâm Ngọ, 1702.
- Phạm Nguyễn Kỳ, 19t, Cử nhân Khóa Mậu Tý, 1708, Tổng trưởng.
- Phạm Khắc Du, 22t, Tú tài Khóa Tân Mão, 1714.
- Phạm Đoan Nha, 19t, Tú tài khóa 1735.
- Phạm Nguyên Liêu, 24t, Tú tài khóa Canh Ngọ 1750.
- Phạm Bình Triết, 28t, Tú tài khóa Bính Tý, 1756, Cảnh hưng.
- Phạm Quốc Cơ, 21t, Tú tài Khóa Nhâm Ngọ 1762, Cảnh hưng.
- Phạm Ngọc Trác, 15t, Tú tài Khóa Đinh Dậu 1777, Tổng trưởng.
- Phạm Xuân Lý 24t, Tú tài – nt –
- Phạm Quốc Hòe, 17t, Tú tài Khóa Canh Tý, 1780
- Phạm Nguyên Hang, 14t, Tú tài Khóa Quý Mão, 1783.
- Phạm Thời Nghi, 22t, Hạ khóa sinh 1801 Triều Tây Sơn.
- Phạm Ngọc Bích, 27t, - nt -.
- Phạm Ngọc Mạo, 22t, Cử nhân Khóa Giáp Ngọ 1834, Triều Minh Mạng.
- Phạm Ngọc Lương, 34t, Cử nhân Khoa Quý Mão, 1842, T.Thiệu trị.
- Phạm Quang Duyệt, 23t, 2 Khóa tú tài, 1847-1867, T.Tự Đức.
- Phạm Viết Ky, 20t, Tú tài Khóa Đinh Mùi, 1847, và 1867.
- Phạm Viết Vy, 39t, Tú tài Khóa Mậu Thân 1848, triều Tự Đức.
- Phạm Ngọc Chất, 23t, Tú tài 1870 (Cử nhân (Á nguyên) Tri phủ (khóa Giáp Tuất 1874 Tĩnh Gia).
- Phạm Đăng Liêu, 34t, Tam Trường Khóa Quý Dậu 1753 (Cảnh hưng).
- Cụ Phạm Ngọc Nhiễm, 18t, Cử nhân Khóa Giáp Tuất 1874, Kiểm tịch.
- Phạm Ngọc Chuyên, 39t, Tú tài Khóa Bính Tuất 1886.
- Phạm Đàn, 28t, Tú tài Khóa Mậu Tý, 1888.
- Phạm Duy Ân, 30t, 2 Khóa Tú tài 1891,1906.
- Phạm Đình Sắc, 24t, sau đổi tên là Phạm Ngọc Đoan, Cử nhân 1894, Phó Bảng 1901 Giáo thụ
- Phạm Ngọc Bình, 37t, Cử nhân Khóa Giáp Ngọ, 1894.
- Phạm Ngọc Lý, 23t Cử nhân Khóa Giáp Ngọ, 1894.
- Phạm Ngọc Đan, 27t, Tú tài KHóa Giáp Ngọ, 1894.
- Phạm Mạnh Doãn, 20t, Tú tài Khóa Canh Tý, 1900, triều Thành Thái.
- Phạm Ngọc Khôi, 20t, 2 khóa Tú tài 1903, 1906.
- Phạm Sỹ Đô, 34t, Tú tài 1909, Cung phụng.
- Phạm Ngọc Thụy, Tú tài 1900, Quán ở Nghệ An nhập tịch Hành Thiện.
Theo langhanhthien.com

Tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng

Tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng là tín ngưỡng dân gian của người Việt rất phổ biến ở Nam Định 


Đình làng Hoành Lộ xã Hoành Sơn
Trừ  những làng, những giáp  theo đạo Thiên Chúa, theo thống kê đầu tiên vào  năm 1937, tại  807 làng xã trên địa bàn Nam Định thờ 2140 vị thần với đủ các loại danh hiệu, tên gọi (tính bình quân mỗi làng xã thờ 2,65 vị thần, cao hơn một chút so với con số bình quân của cả vùng châu thổ: 2,57).
Có các vị thần thánh là các hiện tượng tự nhiên được nhân hoá, thánh hoá như sấm, chớp, mưa gió, những vị thần có "lý lịch" là những yếu tố thiên nhiên như thần cây, thần đá, thần nước, thần núi, thần biển, thần động vật. Những vị thần này dân gian còn gọi là Thiên thần (Thống kê ban đầu từ Bảng tra thần tích thần sắc theo địa danh làng xãcủa Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội 1996, nghĩa là chỉ mới dựa trên 226 thần tích của 113 làng xã của Nam Định thì đã có  85 vị thần thuộc loại này. Số lượng thực tế hẳn còn cao hơn nhiều).
Thần liên quan đến nước (sông hồ, biển) như Nam Hải đại vương, Đông Hải đại vương, Tây Hải đại vương, Câu Mang, Linh Lang...
Các vị thần được dân gian gọi là Nhân thần, chiếm số lượng lớn trong tập hợp các thần được thờ. Về mặt lịch đại, nếu phân theo thần tích thì có:
- Thời kỳ Hùng Vương, An Dương Vương: Cao Sơn, Quý Minh, Thục An Dương Vương.
- Thời kỳ chống Bắc thuộc: Công chúa Thục Côn, Mai Hồng, Đỗ Thị Dung, Phan Thị Trâm, Tiền Lý Nam đế, Triệu Việt Vương, Đinh Lôi, Hoàng Tề..
 - Thời kỳ Ngô - Đinh, Tiền Lê: Kiều Công Hãn, Trần Lãm, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tấn, Tạ Hùng Ly, Lã Đường
- Thời Lý - Trần: Đoàn Thượng, các vua Trần, Trần Thủ Độ, Phụng Dương công chúa, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Nguyễn Hiền, Bùi Khiết, Bùi Tuyết, Trương Long....
- Thời  chống Minh: Đăng Dung, Lương Minh Nguyệt  (Kiến Quốc phu nhân)...
- Thời Lê sơ: Nguyễn Phục, Lương Thế Vinh...
- Thời Lê - Trịnh: Điền Quận công.
- Thời Nguyễn: Phạm Văn Nghị, Vũ Hữu Lợi...
Nếu xếp theo giới  thì các nữ thần chiếm một khối lượng không nhỏ: từ Liễu Hạnh, Liễu Hoa, Thượng Ngàn đến Hoàng Thái Phi, Hồng Nương, Hồng Hoa Công chúa, Huyền Trân, Huệ Lan công chúa, Hạ Thanh công chúa, Phụng Dương công chúa, Trương Thị Phương, Tống Hậu..
Còn nếu quy chiếu theo thánh tích, công huân của các vị thần, thì trong tập hợp trên có:
 - Những vị thần có công huân với đất nước, có công với các triều đình phong kiến (đánh giặc, dẹp loạn, phò tá triều chính, hoặc "âm phù" nhà vua ..) cho như Đinh Bộ Lĩnh, Trần Minh Công, Hưng Đạo Vương, Trần Quang Khải, Lương Nguyệt, Đăng Dung...
 - Những vị là tiền hiền khai khẩn, mở đất, lập làng: Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập (Hải Anh, Hải Hậu), Ngô Miễn (An Cư- Xuân Trường), Phạm Văn Nghị, Nguyễn Điển, Phạm Thanh (Hải Lạng - Nghĩa Hưng)...
 - Những vị là những nhà khoa bảng tài danh (Trạng nguyên, Tiến sĩ) mở đầu cho truyền thống khoa bảng của làng, của họ, danh tiếng cho làng: Phạm Bảo, Phạm Đạo Phú (Dương Phạm - Nghĩa Hưng)...
- Có thần là các vị tổ nghề, như Tô Trung Tự nghề trồng Hoa (Vị Khê-Nam Trực), Lê Công Hành (Hàng Thêu- thành phố Nam Định), Lục Vị tổ sư (Vân Chàng- Nam Trực )...
"Cơ cấu" trên của tập hợp thần, thánh ở làng xã Nam Định cũng là những nét chung thường gặp ở làng xã Việt vùng châu thổ Bắc Bộ. Tuy nhiên, ở Nam Định có những nét riêng, nổi bật sau đây:
Nơi thờ ít nhất là một vị thần, nơi thờ nhiều nhất là 17 vị thần.
Ở Nam Định hình thành 3 dải có sự khác biệt khá rõ: Dải chiêm trũng phía Bắc (gồm bắc Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên) nơi có số lượng làng thờ trên 1 thần chiếm tỷ lệ cao.
Vùng Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, bắc Nghĩa Hưng số lượng làng thờ trên 1 thần giảm dần, còn vùng ven biển như Giao Thuỷ, Hải Hậu, nam Nghĩa Hưng, số làng thờ 1 thần lại chiếm tỷ lệ cao hơn hai dải trên.
Là quê hương phát tích của nhà Trần, là một vùng kinh tế - văn hoá phát triển mạnh ở thế kỷ XIII- XIV, những vị thần có nguồn gốc lịch sử của thời kỳ này như: Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật, công chúa Huyền Trân, công chúa Thuỵ Bảo, Phạm Ngũ Lão, Ngô Miễn, Lê Hiến Tứ, Lê Hiến Giản... ở thời kỳ này chiếm tỷ lệ cao hơn các vùng khác.
Là khu vực châu thổ phát triển ra biển mạnh mẽ, nơi quá trình khai hoang lấn biển, lập làng diễn ra thường xuyên, liên tục, có thành tựu lớn và rõ rệt nhất ở Bắc Bộ, vì thế, theo thống kê chưa đầy đủ Nam Định đã có tới 70 địa điểm thờ các vị tổ khai khẩn mở ấp, lập làng, trị thuỷ, đặc biệt tập trung là vùng ven biển Xuân Trường, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Chỉ trong khu vực các làng xã của các huyện này đã có 56 nơi thờ.
Cũng do quá trình phát triển của làng xã, phát triển từ vùng trung tâm châu thổ từ phía Bắc ra cửa sông, ven biển ở phía Nam, nên ở Nam Định còn có một hiện tượng nổi bật là những cư dân đi khai khẩn, thường "mang" theo Thần, Thành hoàng của làng gốc đến quê hương mới.
Theo: Địa chí Nam Định