Cội nguồn họ Phạm

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Truyền thuyết Thần tích, cấu trúc và Lễ Hội Đền Đồng Bằng

Truyền thuyết Thần tích, cấu trúc và Lễ Hội Đền Đồng Bằng
神昔 - 健築 - 禮會
Đinh Đăng Túy

Chúng ta cùng nhau mở lại trang sử của dân tộc Việt nam vào thời Hùng Vương 18 , cách chúng ta hơn 2000 năm ... Để khám phá về 1 người anh hùng lu danh là Vĩnh Công Đại vương - Bát Hải Động đình 永公大王八海洞亭 , được tôn thờ tại Đền Đồng Bằng 同平靈祠 : Vào thời Hùng Vương 雄王 18 , Đất nước Văn Lang - Lạc Việt 文榔濼越 giữa buổi thịnh trị , Vua sáng tôi hiền , dân miền duyên hải còn rất thưa thớt , làm nghề chài lưới và nông tang …Ngày ấy , Sông Vĩnh cổ ( tức sông Đồng Bằng , thuộc xã An Lễ bây giờ ) còn rất rộng , tương truyền lại còn có cả các loài thuỷ quái , thuồng luồng , giao long sinh sống ... Dân đất Hoa Đào trang华桃莊 ( vùng An Lễ bây giờ ) cư trú dọc bên sông , nghề chính là trồng dâu nuôi tằm , dệt vải và khai khẩn bãi bồi , canh tác nông nghiệp , kết hợp chài lưới đánh bắt tôm cá trên sông … Khi Hùng Duệ Vương 雄睿王 đã lên tuổi Kỳ lão ( tức tuổi 60 - ngày ấy , 60 tuổi chắc là đại th**ượng thọ ) mà vẫn chưa có con trai nối dõi . Vua rất phiền lòng …Sinh hạ nhiều , nhưng chỉ còn lại 2 Công chúa : Công chúa lớn là Tiên Dung , trời se duyên cùng Chử Đồng Tử , rồi cùng tu tiên biệt tích không về ... Công chúa em là Mỵ Nương , lấy Tản viên Sơn Thánh … Vua đã vài lần gợi ý trao Vương miện cho Sơn Thánh 山聖, nhưng Sơn Thánh quyết không nhận , gặp những kỳ đất nước hữu sự , ngài về Triều giúp Vua Cha , yên sự lại về Tản viên tu đạo , chứ không màng quan tước ... Chính vì thế , có nhiều thế lực nhòm ngó Ngai Vàng còn chưa có người kế vị . Các nước láng giềng ở Bắc phương , cùng lân bang Vạn Tượng , Ai Lao …cùng nung nấu ý đồ thôn tính Văn Lang - Lạc Việt . Lạc Long Quân樂龍君 từ ngày trao quyền cho con là Hùng Vương trị vì đất nước , trở về biển Đông , nhưng vẫn thường theo dõi rất sát thế sự Lạc Việt , trước những hiểm hoạ có thể sảy ra , Long Quân lấy làm lo lắng không yên ... Bấy giờ , Long Quân đang sống cùng người ái thiếp , (tương truyền bà chính là Ngọc nữ trong Cung Tây Vương Mẫu , lỡ tay đánh vỡ chén Ngọc lưu ly , nên bị đày xuống Đông hải ) bà sinh cho Long Vương 1 người con trai … Đó là Thái Tử Giao Long 鮫龍tài đức siêu quần , khi Hà bá sông Cái ( tên sông Hồng cổ ) vì không lấy được Mỵ Nương , nên tức tối đại tác thuỷ hoạ cho dân , Long Vương sai Thái Tử giúp Sơn Thánh dẹp yên và bắt Thuỷ tinh về trị tội … Sự lo lắng của Long Quân về nguy cơ Lạc Việt làm cho mẹ con Thái Tử cũng trăn trở không yên , nhưng sợ can thiệp trực tiếp sẽ phạm cơ Trời , nên cứ than thở bất an , sầu muộn ... Rồi Thái Tử cũng trình lên Vua Cha được 1 kế sách trọn vẹn , đó là cho phép chàng và hai em thác sinh thành kiếp người trần , là con dân nước Lạc Việt ...chỉ có thế , chàng mới giúp các bậc huynh trưởng giữ lấy giang sơn mà không phạm luật Trời ... ( theo truyền thuyết này , đúng là quan hệ giữa Hùng Vương và Thái tử Giao Long là anh em cùng cha khác mẹ , đó cũng là 1 lý do để sau này , Đền Bát Hải Động Đình lại được dân gian gọi là Đền Đức Vua ) ... Vì tình thế cấp bách , Lạc Long Quân đành y theo kế của con ... Cả Long vương và Ngọc thiếp cùng phối hợp thực hiện kế sách này ... để Thái Tử được thác sinh chính thức thành con dân Lạc Việt ... ... Và thế là ...trên bờ sông Vĩnh , thuộc Đào Hoa Trang , Trấn Sơn Nam , Quận Giao Chỉ ...xuất hiện 1 cô gái vị thành niên , không cha không mẹ , mò cua bắt ốc bên sông , ai hỏi thì xưng là người phương Bắc phiêu bạt tới đất này( tương truyền , đó chính là hoá thân của bà Thiếp Ngọc nữ của Long Quân , tạo cơ sở cho Thái tử đầu thai thành dân đất Việt ) ... Ngày ấy , có 2 vợ chồng ( ông Phạm Túc , bà Trần thị - Sử cổ ghi rõ) là người Trang An Cố ( thuộc Thuỵ Anh - Thái Bình ngày nay ) đã lớn tuổi , sống phúc hậu mà không có con ... Một lần , họ ngược dòng đánh cá đến Trang Hoa Đào ( đất An Lễ , nơi toạ lạc Đền Đức Vua bây giờ ) và tình cờ gặp cô gái nhỏ bên sông Vĩnh , ông bà đón cô gái về nuôi tại An Cố , đặt tên là Quý Nương ...Mấy năm sau , khi tròn 18 tuổi , Quý Nương rất xinh đẹp , đoan trang ...Nhưng không nhận lời cầu hôn của ai cả ... Ông bà Phạm Túc bị bệnh rồi lần lượt qua đời . Quý Nương lưu lại An Cố để hương khói báo hiếu cho bố mẹ nuôi ... Một lần Quý Nương ra cửa sông tắm , đang trời yên biển lặng , bỗng sóng gió nổi lên dữ dội , rồi thấp thoáng bóng 1 con Hoàng Long hiện lên quấn chặt lấy nàng ...Một lát sau , khi sóng gió qua đi , Quý Nương thấy mình nằm trên bãi sông ... Một thời gian sau , bỗng thấy mình có thai , Quý Nương rời An Cố trở về quê Hoa Đào trang sinh sống ... Bà có thai đúng 13 tháng , vào đúng đêm ngày mồng 10 tháng giêng ( sử cổ ghi rõ) bà sinh ra 1 cái bọc , giữa ánh hào quang phát sáng rực ...Quý Nương sợ hãi , ôm bọc thai thả xuống sông Vĩnh ... Cũng đêm ấy , có 1 người cất vó bên sông ( sách cổ ghi rõ tên là Nguyễn Minh ) ... Ông thấy cái bọc đã được mình cầm vứt ra nhiều lần mà cứ cố tình trôi vào vó , cực chẳng đã ông đành rạch bọc ra ... ánh sáng phát chói loà , ông kinh hãi thấy từ trong bọc chui ra 3 con Hoàng Xà , đầu Rồng mình rắn ...Con lớn nhất ( chính là Thái Tử giao Long ) vượt sông lên bờ , chui vào náu thân trong 1 giếng nước ( đó chính là giếng thiêng trong Cấm cung Đền Đồng Bằng bây giờ , truyền thuyết còn nói rằng : ông kéo vó khi rạch bọc , lưỡi dao đã vô tình làm đứt 1 thuỳ đuôi của con Hoàng Xà lớn , vì thế xưa kia các bản Hội về cúng mô hình Giao long tại Đền Đồng Bằng , bao giờ cũng làm vát 1 thuỳ đuôi là theo tích này ) , còn 2 Hoàng Xà nhỏ , bơi xuôi theo dòng nước chảy dọc sông Vĩnh , 1 con giạt vào Thanh Do Trang ( thuộc Thái Ninh bây giờ ) , con nhỏ nhất bơi đến tận An Cố trang ( Mai Diêm - Thuỵ Anh ) ... Cũng đêm ấy , dân Đào Hoa trang thấy trời nổi sấm rền , rồi từ trên không trung có tiếng nói vang động :" Ta là con của Long Quân , khi có giặc sẽ giúp Vua Hùng diệt giặc "... Hôm sau , dân bản hạt đến bên giếng cạn đắp ụ đất , tạm lấy lá chuối ghi chữ đánh dấu , rồi sau lập thành Miếu thờ , từ đó hương khói cầu "phong đăng hoà cốc " thấy rất linh nghiệm ... ( đôi câu đối chạm hình lá chuối treo trong Cấm cung cũng là từ tích này ). Lại nói : Vua Hùng ngày ấy đã già , lại không con trai nối dõi ...Vua thường buồn bã , hay đau yếu ... làm lo lắng cho trăm quan triều chính ...Có nhiều thế lực trong nội bộ Bách Việt , muốn nhòm ngó Ngai vàng Lạc Việt ... như bộ tộc Âu Việt , do Thục Vương cai quản ( nguyên gốc xưa là người Trung Nguyên di cư xuống phía nam , từ lâu đã thành dân Bách Việt , và cũng chính là phụ thân của Thục Phán ) ... Chuyện kể rằng : Khi Mỵ Nương đến tuổi lấy chồng , nhan sắc tuyệt vời , phong tư đoan chính ...Thục Vương mê lắm , rất muốn cưới về làm thiếp ... Vua Hùng cũng có ý ưng thuận , nhưng các Lạc tướng can rằng : "Thục Vương từ lâu nhòm ngó nước Văn Lang của dân Lạc Việt ta , giờ Vua lại gả Mỵ Nương cho y , khác gì đưa hổ vào tận trong nhà "... Vì thế Vua Hùng không gả con cho , rồi lại đem gả cho Sơn Tinh ... Thục Vương giận lắm , thề dù có phải đến đời con sau này cũng sẽ quyết thôn tính bằng được Lạc Việt ... ... Khoảng vài năm sau ...Thấy thời cơ đã đến , các nước lân bang như Ai lao , Vạn tượng , Chiêm thành ...hợp sức cùng quân phương Bắc , nhân Vua Hùng già yếu đã hẹn phối hợp xâm lấn nhằm thôn tính Lạc Việt . Họ được 1 số bộ lạc trong Bách Việt như Âu Việt , Mân Việt , Nam Việt ... nội ứng , cùng chỉnh sức "tinh binh bách vạn " , tuyển " Phì mã tam thiên " , tức là tập hợp hàng trăm vạn tinh binh , ngựa khoẻ . Quân đường bộ chia làm 5 đạo , hẹn đợi cánh quân đường thuỷ từ phương Bắc xuống , khi nào quân phương Bắc đã phong toả 8 cửa biển Lạc Việt , thì cả thuỷ , lục các đạo đều cùng 1 lúc tiến quân ... Thanh thế của giặc chấn động cả biên thuỳ , thư cấp báo đưa tin giặc dữ truyền về Kinh đô "1 ngày đến 5 lượt" ... Hùng Duệ Vương rất lo lắng trước thế giặc quá mạnh , liền cho người đi mời Sơn Thánh về Kinh hiến kế phá giặc . Sơn Thánh lập tức từ Tản Viên hồi Triều , Hùng vương ngạc nhiên thấy Sơn Thánh ung dung thư thái ... Vương trách : " Một ngày có đến 5 tin hoả tốc cấp báo , thế giặc như lũ bão , chẳng lẽ Khanh không lo sao ?" . Sơn Thánh tâu rằng : " Trải qua 17 đời Vua Hùng , những bậc quân vương đều là Thánh hiền , việc nghĩa nhân đã dày và nhuần thấm , thương dân như con , ân tình ghi vào cốt tuỷ , đó là 1 thế mạnh . Nước Văn Lang - Lạc Việt ta hiện nay đang độ quốc phú , binh cường , bệ hạ uy đức lan xa đến hải ngoại , thấu đến trời đất , vì thế Trời đã " đa giáng anh tài" xuống làm dân đất Việt , để mà hộ quốc cứu dân đó thôi !" . Vua Hùng hỏi , Sơn Thánh thưa :" Đó là Long cung Hoàng Thái Tử đã thác sinh , đang náu ở Hoa Đào Trang , thuộc Sơn Nam Hạ , họ có 3 anh em khí độ vượt nhân , kinh luân đứng đầu kim cổ , văn võ kiêm tài ... Trời lại cho giáng trần thêm mấy anh tài hiện đang làm con dân Lạc Việt ( ý nói về các Quan lớn của Vĩnh công ) , có thể đảm đương việc cự địch xâm lăng đường biển ... Nước Việt ta lại còn có "sơn thuỷ bách Thần" từ ngày lập nước rất linh ứng , hay hiển linh để phù trợ ... Bởi vậy Bệ hạ chẳng phải quá lo ... kẻ địch dấy binh vô đạo , tất sẽ " thủ bại" . Bệ hạ nên cử Thái Tử Long cung trấn giữ và đánh giặc tại các " giang môn , yếu hải " , còn thần nguyện đích thân tiên phong cự địch tại các cánh đường bộ ... Thần đồ rằng chỉ vài hôm là giặc tan ". Duệ Vương nghe nói cả mừng , lập tức lệnh lập Đàn cầu Trời ứng trợ , tuần hương vừa tàn , thì Thanh Y Tiên Ông lai giáng , mách Vua cho người về Hoa Đào trang mà triệu , sẽ có dị nhân đánh tan giặc biển ( trích dịch Văn tự Hán Nôm cổ về Đào Động , hiện lưu giữ tại Viện TT KH-XH Việt Nam ) ... Hùng Vương cả mừng , sai sứ giả về Hoa Đào trang ( tức đất An Lễ bây giờ ) để truyền chỉ dụ triệu kỳ nhân dẹp giặc ... Khi Sứ giả về hỏi , dân thôn kể về việc Giao Long ẩn thân trong giếng cạn trước đây ... Sứ giả đến bên giếng xướng truyền sắc chỉ thì thấy Hoàng Xà hiện ra rồi bỗng hoá thành 1 chàng trai lực lưỡng , tuấn tú hơn người ... Ngài nhận chỉ dụ , nhờ sứ giả báo với Vua Hùng là sẽ triệu 2 em , tuyển 10 tướng , chiêu mộ binh sĩ trong 10 ngày , rồi xuất quân đánh giặc trên cả 8 cửa biển nước Nam , hứa sau 3 ngày là giặc tan ... từ đó , ngài có tên là Vĩnh Công ( trọng nhân phát tích trên sông Vĩnh ) ... Tương truyền : Ngay ngày tuyển mộ đầu tiên , Vĩnh công đã chọn được 3 tướng là Quan lớn Thượng ( quan lớn đệ nhất ) , quan đệ Tam và Quan đệ Tứ ...Trai tráng duyên hải kéo đến đầu quân rất đông , nhưng đến trưa ngày thứ 10 theo hẹn , vẫn thiếu 1 tướng ... Vĩnh công lập đàn cầu , trời điều Tam Thái Tử xuống đầu quân , ngài giáng xuống Bảo Hà ( Lào Cai) , tương truyền thấy 1 tiếng sét dữ dội tại đó , rồi một luồng hào quang bay về nơi Vĩnh công tuyển tướng , tụ thành 1 chàng trai tuấn tú xin ứng tuyển , đó chính là Quan Điều Thất . Sau khi chọn được quan Điều Thất , đủ số 10 tướng , Vĩnh công còn chọn được 1 mưu sĩ tài ba , quê ở Nuồi ( Tứ Kỳ - Hải Dương ) làm quân sư ( vì thế sau này có lệ giao Trải với Nuồi ) Xếp dưới 10 vị Đại tướng và 1 vị quân sư , Vĩnh Công còn lựa được 28 vị Nội tướng tài ba ( có là Ngài xếp theo đúng số Nhị thập bát Tú của trời ) ... Để thể hiện tình nghĩa ruột thịt cùng xả thân vì xã tắc , không câu nệ danh vọng , Vĩnh công tuỳ tuổi mà phân thứ bậc các tướng ... Trên 2 mũi tấn công chủ yếu bằng đường thuỷ của giặc phương Bắc là cửa sông Cái ( sông Hồng ) và cửa sông Bạch Đằng ... Vĩnh công cùng Quan lớn Thượng chặn giặc ở cửa sông Cái , Quan lớn đệ Tam cùng Quân sư Nuồi và quan đệ Ngũ chặn giặc tại cửa sông Bạch Đằng , Quan Điều Thất phụ trách ứng chiến và phối hợp tác chiến cùng các cánh quân chặn giặc đường bộ của Sơn Thánh , các vị Quan lớn khác đều được phân công đánh giặc trên 6 cửa biển khác của Nước Nam ... Đúng hẹn 3 ngày , Vĩnh công cùng tướng sĩ đánh tan giặc dữ trên cả 8 cửa biển . Thấy cánh quân đường thuỷ hùng mạnh của phương Bắc bị đại bại , nhiều cánh quân xâm lược đường bộ do các bộ lạc của Bách Việt , được sự giúp sức của các nước Ai Lao , Vạn Tượng ...đang cố quyết chiến cùng quân Lạc Việt do Sơn thánh chỉ huy , nghe tin đều hoảng sợ , vội vã rút nhanh về nước ... Đất nước trở lại thanh bình , Hùng Duệ Vương triệu Vĩnh công về Triều , phong là " Vĩnh Công Nhạc phủ thượng đẳng thần " , lại có ý muốn lưu ở Kinh đô giúp việc Triều chính ... Vĩnh công xin được về quê để trông nom thân mẫu , khai khẩn vùng duyên hải , chiêu dân lập ấp , dạy dân nghề nông tang ( tang : trồng dâu nuôi tằm , dệt vải ) , đồng thời giúp Vua Hùng giữ yên 8 cửa biển Lạc Việt . Mười tướng theo Vĩnh công về Hoa Đào Trang . Quan Điều Thất về Trời ngay sau khi thắng giặc , Vĩnh công thương xót cho lập ban thờ ngay tại dinh Công đồng , là nơi Vĩnh công cùng chư tướng tề tựu bàn việc ( đó chính là Đền thờ quan Điều Thất ngày nay , thường gọi là Đền Công Đồng ) . Quan lớn đệ Tam được phân công giữ yên vùng duyên hải từ sông Cái lên hết biên giới biển phía bắc Lạc Việt ( từ tích quan lớn đệ Tam thắng giặc trên cửa sông Bạch Đằng , rồi lại tỵ nhậm cai quản vùng này ... Nên các đời sau , khi đánh giặc trên sông Bạch Đằng , các quân vương đều về cầu và tạ tại đền đức Vua và Đền quan đệ Tam , vì cho rằng được âm phù mà chiến thắng )... Quan lớn đệ Thập được tỵ nhậm tại Cửu Chân , Quan đệ Tứ được phân công khai khẩn vùng bãi bắc Sơn Nam ... Có 5 vị Nội tướng được Vĩnh Công giao sở nhiệm khai khẩn chăm dân lập Ấp tại Hoa Đào trang ( sau chính là 5 vị Thành Hoàng nổi tiếng linh ứng , đã có công âm phù Trưng Vương đánh thắng quân Tô Định tại Sơn Nam hạ ) ... Vĩnh công lấy 10 hốt vàng được Vua Hùng ban thưởng để chia cho dân bản hạt làm vốn canh tác . Miền duyên hải Lạc Việt từ đó dân cư ngày càng đông đúc , phồn thịnh ... Vua Hùng trao Vĩnh công quản lý miền duyên hải Lạc Việt , lấy tên là Tây Đô. Tương truyền : định kỳ hàng năm , nhân ngày đại thắng quân phương Bắc trên 8 cửa biển , Vĩnh công triệu chư tướng về tề tựu tại Hoa Đào trang ( đất An Lễ bây giờ , theo ghi chép của các cụ thì ngày ấy gọi là Hoa Đào trang , 1 trong các trang ở vùng bãi sông Vĩnh , trấn Sơn Nam hạ , bộ Thang Truyền , quận Giao Chỉ , thuộc Châu Giao chỉ trong Bách Việt , phía tây nam nước Hoa Hạ của nhà Hán ) . Trong những kỳ hội tụ này , Vĩnh công mở tiệc khao thưởng , cùng chư tướng đàm đạo về tình hình , vạch kế sách khai khẩn , chăm dân và giữ yên miền duyên hải theo uỷ thác của Vua Hùng . Tương truyền : trong những ngày vui này , Vĩnh công thường tổ chức thi bơi thuyền , giữa đội thuyền bản hạt và thuyền của các tướng , thuyền của quân sư Nuồi , để ôn lại chiến thắng , tập dượt phòng thủ và luyện quân sẵn sàng ứng phó mọi biến cố ... Đường đua thuyền là 1 đoạn sông Vĩnh " thượng Đồng Đống , hạ Cống Đôi " , lệ thi bơi trải có từ đó và còn tồn tại mãi đến sau này . Trong những ngày kỷ niệm chiến thắng , ngài còn tổ chức thi Vật , thi võ ... cùng với các trò chơi dân gian khác ( xới vật kề cạnh 1 cây cầu , nên cầu này có tên là cầu Vật , tên cầu Vật vẫn dùng cho đến bây giờ ) ... Vĩnh công còn cho tập hợp các làn điệu dân ca trong vùng , dạy cách hát ứng vận đối đáp để thi hát trong các đêm Hội , gọi là hát Đúm ( 1 kiểu hát giao duyên sân Đình )... Công đức của Vĩnh công rất lớn , vua Hùng rất nể trọng ... Dân Hoa Đào trang cũng như cả vùng duyên hải coi ngài ân tình như cha mẹ ... Một số năm trôi qua ... Một hôm Vĩnh công mời hương lão đến dinh thất của mình ( tương truyền là chính đất Đền Đức Vua bây giờ ) mà nói rằng :" Ta cùng các vị là dân lân hương ấp , ăn ở với nhau như tình ruột thịt , nay ta sắp phải vâng mệnh về chầu vua cha Lạc Long quân . Nếu có nhớ đến ta , thì nhà ta đây là miếu sở , ngày ta đi sẽ là ngày giỗ ..." . Tất cả hương lão có mặt bùi ngùi , nức nở ... Rồi bỗng thấy trời đất tối sầm , sấm chớp gió mưa đột khởi dữ dội ... Một thoáng , trời quang mây tạnh , mọi người chỉ còn thấy xiêm áo của Vĩnh công ...đó là ngày 25 tháng 8 âm lịch năm Bính Dần . Dân bản hạt lập tức dâng biểu về Kinh , Vua Hùng thương xót , ban phong mỹ hiệu : "Trấn Tây An tam kỳ linh ứng Đại Vương" , cấp tiền tang lễ , cho tu sửa dinh thất của Vĩnh công thành miếu điện thờ tự , cho lập "điền tự" để hương hoả cho Vĩnh công mãi mãi ... Vua Hùng trao cho các tướng của Vĩnh công tiếp tục sự nghiệp tại miền duyên hải Lạc Việt . Từ đó , nhân ngày giỗ Vĩnh công , các tướng lại tề tựu tại Hoa Đào trang , dâng hương cho Vĩnh công và tổ chức các hình thức kỷ niệm ngày đại thắng như trước đây ... Lâu dần thành lệ Hội tháng 8 âm lịch mà truyền đến ngày nay . Tương truyền , các tướng của Vĩnh công đều là những anh hùng cái thế , sinh tử vì Lạc Việt và bảo vệ Vua Hùng cho tới ngày Hùng Duệ Vương tuẫn tiết , nước Văn Lang - Lạc Việt sang trang sử mới , gọi là nước Âu Lạc ... Các tướng của Vĩnh công sau đó , người hoá thần , người tử trận trong chiến đấu bảo vệ đất nước Văn Lang , họ đều được lập đền thờ , được các triều đại sau sắc phong tôn vinh , kính trọng . ( xem ở sách truyền thuyết các vị quan lớn của Đức vua Bát Hải , hoặc cuốn Đất Đào Động địa linh nhân kiệt - cùng tác giả ). Tại đất Đào Động có Đền thờ Quan lớn Thượng , quan lớn đệ Nhị , quan lớn đệ Tam , quan lớn Điều Thất , quan lớn đệ Bát , tĩnh quan lớn Thượng , tĩnh quan đệ Tứ , đều được tái tạo dựng trên nền cổ tự . Quan đệ Ngũ thờ tại Đình Giới phúc , tĩnh quan đệ Lục ( miếu giáp Nhị ) đã bị thực dân Pháp phá huỷ . Quan đệ Tam còn được thờ ở Đền Lảnh giang ( Hưng Yên ) , quan đệ Tứ đền thờ chính ở Vĩnh Bảo - Hải Phòng . Quan đệ Ngũ có đền thờ ở bến đò Chanh - Hải Dương , quan Điều Thất có Đền ở Bảo Hà - Lào Cai . Quan đệ Cửu xưa có Đền ở Thanh Hoá , Quan đệ Thập có đền ở Nghệ An ... Đền thờ Vĩnh công Đại Vương Bát Hải Động Đình từ xa xưa đã nổi tiếng linh ứng . Các triều đại sau này như Đinh , Lê , Lý , Trần , Lê , Nguyễn ... đều tái sắc phong cho ngài . Vĩnh công được coi là Thượng Đẳng Thần của đất Lạc Việt . Hội tháng 8 âm lịch tại Đền , hội tụ muôn phương dân Việt về chiêm bái lễ cầu . Xin trích giải một số Sắc phong của các đời Vua đất Việt phong cho Vĩnh Công -tức Đức Vua Bát Hải : 1 - Hoàng Triều Vĩnh Hựu nhị niên , trọng Đông nguyệt , sơ nhật . (Niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 2 , đời vua Lê ý Tông Ngày 01/ 11 âm / 1726 ) Sắc : Gia phong : Trấn Tây an Tam kỳ linh ứng Đại Vương .Thượng đẳng Quốc tế ( Được tổ chức tế lễ theo Nghi thức dành cho những bậc Thần linh được tôn trọng bậc nhất quốc gia ) Phóng chỉ ban hồi dữ cấp tiền tứ bách quán ( Truyền Chỉ dụ về tận nơi , cùng số tiền được Triều đình ban cấp là 100 quan ) . Hứa Đào Động trang ngưỡng Thần hiệu , cập hồi trùng tu miếu điện , dĩ phụng chi lưu truyền hương hoả , dữ quốc tế vĩnh thời huân công hỹ . ( Hẹn cho Đào Động trang tổ chức lễ đón Thần hiệu , tiến hành trùng tu miếu điện thờ phụng và lưu truyền hương hoả , để cả nước về tế lễ huân công của Thần đến mãi mãi ) . Hàn lâm Viện Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bỉnh - Phụng soạn Bát phẩm Lại bộ - thần : Nguyễn Hiền - Phụng sao . 2 - Chương Thánh tôn hiệu đệ nhị niên , trọng xuân , cát nhật . (Năm Chương Thánh Gia Khánh thứ hai , đời Vua Lý Thánh Tông , ngày tốt , tiết xuân tháng 2 âm lịch , năm 1060 ) Sơn Nam Hạ trấn , Phụ Phượng quận , Đào Động trang Cổ điện phụng sự : Tam Kỳ linh ứng Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình . Thị thượng tôn cổ Thần hộ Quốc tý dân , thập phương ngưỡng vọng ( Là vị Thần từ đời cổ được tôn trọng bậc nhất , đã có công Hộ quốc , che chở cho dân , mà mọi miền đất Việt đều ngưỡng vọng ) Vạn cổ chí kim thế truyền linh ứng , đa Triều tái phong mỹ tự ( Từ cổ đến nay , được đời truyền tụng là linh ứng , nhiều Triều đại đã có Sắc gia phong với những lời ca ngợi đẹp đẽ ) Tứ kim gia phong ( Nay ban chiếu gia phong là ) Thượng đẳng Tôn Thần Hộ quốc tí dân , vạn đại linh ứng ( Vị Thần được tôn trọng bậc nhất , đã có công hộ Quốc , che chở cho dân , vạn năm linh ứng ) Chuẩn phụng sự chính lệ ( cho phép phụng sự , tế lễ theo chính lệ ) Trợ Thần tồn linh bảo ngã lê dân chí vĩnh . Khâm thử ! ( Để Thần tiếp tục linh ứng bảo vệ cho dân ta mãi mãi . Y lệnh !) 3 - Thiên Đức tôn hiệu đệ ngũ niên , trung thu , vọng nhật ( Năm Thiên Đức thứ hai , đời Vua Lý Nam đế , Ngày 15 tháng 8 âm năm 548 ) Lạc Việt quốc, Hùng Triều đệ thập bát diệp , sắc phong thuỷ Thần phát tích Hoa Đào trang , sơn Nam Hạ trấn . (Thời vua Hùng đời thứ 18 , nước Lạc Việt , đã sắc phong cho vị Thuỷ Thần phát tích tại Hoa Đào trang , Trấn Sơn Nam Hạ ) Sắc phong ( Vua Hùng sắc phong là ) Đệ nhất lương thần Vĩnh Công hộ quốc tí dân ( Vị Thần có đức lớn bậc nhất là Vĩnh Công , đã có công hộ quốc , che chở cho dân ta ) Hoá Thần Bính Dần niên , bát nguyệt , nhị thập ngũ nhật , sở tại Hoa Đào trang , Sơn Nam Hạ trấn , bộ Thang Truyền . Niệm đại công sinh thời hùng lược quảng đức phù Quốc an dân . Gia phong : Trấn Tây an Tam kỳ linh ứng đại vương , thượng đẳng quốc tế . Phóng chỉ ban hồi dữ . Hứa Hoa Đào trang ngưỡng Thần hiệu , trùng tu miếu điện , dĩ cẩn phụng sự chi lưu truyền hương hoả vạn thế , đắc Thần sở tiếp linh ứng phù hộ dân Việt bất hoại . Khâm dĩ ! (Vị thuỷ Thần hoá Thần ngày 25 tháng tám năm Bính Dần , tịch tại Hoa Đào trang , Sơn Nam Hạ trấn , bộ Thang Truyền . Nhớ đến đại công khi sinh thời của Vĩnh Công hùng lược quảng đức , hộ quốc an dân , Vua Hùng gia phong : Trấn Tây an Tam kỳ linh ứng Đại Vương , cho tổ chức tế lễ theo quốc lễ . Vua Hùng phóng chỉ ban , hẹn cho Hoa Đào trang tổ chức đón rước Thần hiệu , trùng tu miếu điện , phụng sự Thần nghiêm cẩn và lưu truyền hương hoả vạn đời , để Vĩnh công mãi linh ứng phù hộ cho dân ) Thư lại Lễ bộ Lý triều Chương thánh Gia Khánh nhị niên phụng soạn ( 15tháng 8 năm 548) . Tú tài Giáo học Đinh Đăng Quát cẩn sao . Cấm cung Bát Hải động Đình linh từ , chính nguyệt , sơ thập nhật , Quý Dậu niên ( chép lại ngày mồng 10 tháng giêng năm 1933) . 4 - Khải Định cửu niên , thất nguyệt , nhị thập ngũ nhật .( ngày 25/7/1924 ) Sắc ! Thái Bình tỉnh , Phụ Dực huyện , Vọng lỗ tổng , Đào Động xã . Phụng sự Trấn tây an nam , tam kỳ linh ứng tôn thần . Nẫm trứ linh ứng , tứ kim phi thừa . Cảnh mệnh miễn niệm thần hưu , trứ phong vi dực bảo Trung hưng linh phù chi thần , chuẩn kỳ phụng sự , thứ cơ thần kỳ , tương hữu bảo ngã lê dân . Khâm tai ! ... Câu thành ngữ dân gian : Tháng 8 giỗ Cha , tháng 3 giỗ Mẹ chính là để chỉ Hội tháng 8 ở Đền Đồng Bằng và Hội tháng 3 ở Đền Mẫu Phủ Dày . Đền đồng Bằng là nơi "đi trình về tạ" của các bản Hội tín ngưỡng trong toàn quốc từ xa xưa . Vì sao Đền Đồng Bằng thờ Vĩnh công Đại Vương lại có tên là Đền Đức Vua , hay còn gọi là Đền Đức Vua Bát Hải ? Tên này có từ bao giờ ? Theo các cụ thì : dựa vào truyền thuyết Vĩnh công chính là Thái Tử Giao Long ( như đã thuật ở phần trên , ngài là con vợ thứ của Lạc Long Quân ) . Vì thế khi Hùng Vương 18 cáo chung , Vua An Dương Vương Thục Phán lên ngôi , tuy cũng là dân Bách Việt nhưng thuộc dòng ngoại tộc , trong khi Vĩnh công đã hoá thần nhưng cực kỳ linh hiển phù trợ cho dân đất Việt , vì thế mà dân tôn sùng gọi ngài là Đức Vua . Lại có thuyết rằng : Sau khi đánh thắng giặc phương Bắc trên 8 cửa biển , Vua Hùng giao cho Vĩnh công cai quản vùng duyên hải Lạc Việt - Văn Lang , đặt tên là Tây Đô , vì thế dân gian gọi ngài là Đức Vua là từ ý này ... Đã có 1 thời gian , chúng tôi trăn trở rằng : vùng duyên hải ở phía đông Văn Lang - Lạc Việt , sao lại gọi là Tây Đô ? Mãi sau mới hiểu ra là : so với địa thế Bách Việt ( dưới nước Hoa Hạ cổ ) , thì Lạc Việt ở hướng Tây . Chứng cứ còn lại là vùng đất của Bách Việt ở sát ngay trên nước ta bây giờ , gọi là tỉnh Quảng Tây ( TQ) , cho nên ngày ấy vùng duyên hải Lạc Việt có tên Tây Đô vì thế .


Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Ngọc phả Trần Triều Tiết Chế Quốc Lão Hiển Tướng Đại Vương


Đền Bắc Lãm, thuộc thôn Bắc Lãm, xã Phú Lương, thành phố Hà Đông. Xưa, vào thời thuộc Minh gọi là huyện Ứng Bình, phủ Giao Châu, sang thời Lê đổi thành phủ Ứng Thiên. Vào triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long thứ 13 (1814) gọi là phủ Ứng Hòa. Trước đây, thôn Bắc Lãm, xã Phú Lương thuộc huyện Thanh Oai, theo sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: Tên Thanh Oai thấy nhắc đầu tiên từ thời nhà Lý, tức năm Trị Bình Thiên Ứng thứ 3 (1207), triều Lý Cao Tông gọi là Thanh Oai hương, sau đổi là huyện Thanh Oai. Vào cuối thế kỷ XIX, thôn Bắc Lãm thuộc thành phố Hà Nội, đến năm 1991, tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, thôn Bắc Lãm thuộc Hà Tây. Và đến ngày 1 tháng 8 năm 2008, thuộc thành phố Hà Nội. Hiện tại, ngôi đền toạ lạc rìa làng, trên một thế đất đẹp, từ làng vào đền phải đi qua một đoạn đường nhỏ, rộng chừng 02 mét và dài khoảng 500 mét, do vậy ngôi đền khá xa khu dân cư nên tạo được một không gian tĩnh lặng, thâm nghiêm ít có ngôi đình, ngôi chùa nào có được. Ngôi đền có kết cấu kiến trúc chữ Nhị gồm Đại bái, hậu cung và một số công trình bổ trợ khác. Khi chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu ngôi đền để trình UBND tỉnh Hà Tây (cũ) xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá được các vị cao niên truyền kể, ngôi đền thờ Đức thánh Trần, Tướng quân Phạm Ngũ Lão và Công chúa Anh Nguyên. Kết cấu kiến trúc ngôi đền còn khiêm tốn, các mảng chạm khắc trên các bộ vì mang dấu ấn đậm nét thời Nguyễn nhưng số lượng di vật khá phong phú với nhiều chất liệu khác nhau như bát hương, hương án, tượng Đức thánh Trần, Danh tướng Phạm Ngũ Lão, Công chúa Chiêu Anh..., nhóm di vật giấy có 05 đạo sắc phong gồm 01 sắc Cảnh Hưng thứ 40 (1779); 02 sắc Cảnh Thịnh thứ 7 (1799); 01 sắc Thiệu Trị thứ 4 (1844) và 01 sắc Tự Đức thứ 22 (1860). Đáng chú ý hơn cả chính là bản Ngọc phả Trần triều Quốc lão hiển tướng đại vương. Bản Ngọc phả này gần như còn nguyên vẹn, được cổ nhân viết trên giấy dó thể chữ chân, khổ 15 x 20, gồm 15 tờ.


Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Thần tích đền Dục Anh - Hòa Mục, Trung Hòa, Cầu Giấy


Theo thần tích được ghi trong tư liệu lịch sử của đình làng Hòa Mục, bà Phạm Thị Uyển là con gái đầu trong một gia đình ở quận Nam Xương. Cha là ông Phạm Huyên, hiệu là Minh Dực, mẹ là Phùng Thị Thảo hiệu Diệu Hoa. Gia đình Phạm Công ăn ở phúc đức mà muộn đường con cái nên ông bà ngày đêm đến chùa cầu cúng. Một ngày kia ông bà được báo mộng có người nối dõi. Từ đấy, bà mang thai và đồng sinh một gái, hai trai. 

Phạm Thị Uyển là chị cả, dưới còn Phạm Miện và Phạm Huy. Hai người em bà sau này đều là các danh tướng trong cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng.

Năm Phạm Thị Uyển 18 tuổi lấy Mai Thúc Loan. Khi Mai Thúc Loan khởi nghĩa thắng lợi lên ngôi hoàng đế, Phạm Thị Uyển trở thành hoàng hậu. Quân Đường thua trận nhưng không chịu bỏ mộng xâm lăng. Bởi vậy, nhà Đường sai Dương Tư Húc mang 10 vạn quân sang đánh. Thế giặc mạnh làm cho đội quân gồm những nông dân khởi nghĩa phải lui dần rồi bị tan vỡ.
Trong trận quyết chiến ở phủ thành Tống Bình, hoàng hậu Phạm Thị Uyển cũng dẫn đầu một cánh quân thủy giao chiến ác liệt với quân địch trên dòng Tô Lịch. Bấy giờ sông Tô còn là một nhánh của sông Hồng và là mặt án ngữ phía tây của thành Đại La. Thế giặc mạnh, quân ta bị đuối dần. Thế cùng lực kiệt nhưng quyết không để rơi vào tay giặc, hoàng hậu Phạm Thị Uyển đã nhảy xuống sông Tô Lịch tự vẫn.

Xác bà trôi dạt đến địa phận trang Nhân Mục (nay là làng Hòa Mục) thì được nhân dân lén vớt lên chôn cất, rồi lập đền thờ. Đó chính là đền Dục Anh ngày nay nằm trên đường Nguyễn Ngọc Vũ, quay mặt ra sông Tô Lịch ở đoạn gần cầu Trung Hòa.
Đền Dục Anh bên sông Tô Lịch là nơi thờ nữ tướng - hoàng hậu Phạm Thị Uyển. 

7 thế kỷ sau, vào thời nghĩa quân Lam Sơn tiến lên tổng công kích quân Minh, một lần Lê Lợi nghỉ đêm ở miếu Dục Anh được thần báo mộng sẽ âm phù cho quân khởi nghĩa diệt giặc. Vậy là mối thù hơn 7 thế kỷ trước của bà đã có dịp trả khi bà phù giúp Bình Định Vương Lê Lợi đánh tan giặc phương Bắc. Cũng nhờ đó, sau này khi lên ngôi vua, Lê Lợi đã sắc phong cho bà là Khiêm Sung đại vương. 
Ngày nay, Khiêm Sung đại vương được thờ ở đền Dục Anh, nơi xác bà trôi về sau khi tuẫn tiết và đình làng Hòa Mục. Hơn ngàn năm qua, nhân dân vẫn kính cẩn thờ tự người nữ anh hùng. Trước khi triều Lê phong cho bà là Khiêm Sung đại vương thì từ thế kỷ 8, dân địa phương đã lén lập miếu thờ bà ngay tại nơi xác bà trôi về. Trong tâm chí người dân, vị hoàng hậu dũng cảm đã là một vị thành hoàng che chở cho dân làng từ lâu.

Tiếp bước Bà Trưng, Bà Triệu, hoàng hậu Phạm Thị Uyển lại làm cho lịch sử phải nhìn nhận lại vai trò của người phụ nữ. Bà là một điển hình tiêu biểu cho bản sắc Việt Nam nói chung, bản sắc người phụ nữ nói riêng. Nếu như sinh thời nhà văn Nguyễn Đình Thi từng nói: “dân tộc ta có tướng giỏi cầm quân và người phụ nữ là đáng để nói với thiên hạ” thì ở trong một hình tượng hoàng hậu Phạm Thị Uyển dường như có sự tích hợp cả hai cái đó. Là hoàng hậu “mẫu nghi thiên hạ” nhưng bà cũng là một dũng tướng dám anh dũng hi sinh ngay giữa trận tiền để bảo vệ độc lập tự do của tổ quốc.

Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Bát nạn công chúa


BÁT NẠN CÔNG CHÚA
Xã Phượng Lâu, huyện Phù Ninh thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay, xưa kia là một trang ấp dưới thời đại vua Hùng. Ông bà Chất Vũ và Hoàng Thị Mẫu là người hiền lành nhân đức, chuyên làm nghề thuớc. Ông bà sanh được một người con gái tên là Thục Nương. Lớn lên, Thục Nương nổi tiếng tài đức, sắc mạo kiêm toàn. Ông bà đã nhận gả nàng cho một thiếu niên anh tuấn tên Phạm Danh Hương, quận trưởng quận Nam Châu.
Tiếng tài sắc của Thục Nương đến tai viên thái thú nhà Hán là Tô Định. Hắn lập tức cho mời ông Vũ Chất đến dinh để cầu thân. Ông bà Vũ từ chối, nói thực là con gái mình đã có chồng. Tô Định không tin, sai mời cả Phạm Danh Hương đến dự tiệc để xem việc thực hay giả. Đó chính là âm mưu ác độc của hắn. Ngay giữa buổi tiệc, hắn kiếm cớ giết cả hai người, Vũ Chất và Phạm Danh Hương. Sau đó hắn cho quân lính đến ngay trang Phượng Lâu để bắt nàng Thục Nương.
Những người thân tín của Vũ Chất ở trong dinh thái thú, đã kịp thời báo tin dữ về. Thục Nương rất căm giận. Nàng vội vàng thu xếp cho mẹ và mọi người trong gia đình mau mau lánh nạn, Còn nàng thì ở lại chờ đợi. Bọn tướng tá của Tô Định vừa tìm đến cổng trang thì Thục Nương múa đôi thanh kiếm, xông vào, giết chết ngay tên cầm đầu cùng một số binh lính. Chúng hoảng hốt tháo chạy. Ngay lúc đó, Thục Nương đã nhanh chân lánh mình. Nàng đi mãi, đến một ngôi chùa nhỏ ở ấp Tiên La bên bờ sông Thiên Đức thì dừng chân nghỉ.
Đêm ấy, dân làng Tiên La đều nằm mộng thấy vị thành hoàng bản báo cho biết là tại chùa Tiên La có thần nữ đến nghỉ chân. Sáng mai, dân chúng kéo nhau vào chùa, thì thấy ở điện tam bảo có một người con gái, hai tay cầm kiếm, đang ngồi núp trong một góc. Thục Nương thấy có đông người kéo vào, tưởng là bọn giặc do Tô Định sai lùng bắt mình, liền múa kiếm toan chống trả. Dân làng vội vàng quì xuống, kể lại giấc mộng. Họ hỏi kỹ dầu đuôi câu chuyện, và họ cũng căm ghét tên Tô Định, ai nấy đều xin làm thủ hạ của nàng. Thục Nương thấy lòng dân trung nghĩa, nghĩ rằng nơi dây rất thuận lợi cho việc gây dựng cơ đồ, nên vui lòng ở lại.
Từ đó, nàng Thục Nương ở chùa Tiên La. Nàng cạo đầu giả làm sư tiểu, coi giữ nhà chùa. Nhưng ngày đêm thì lo chiêu dụ quân tướng, tích trử lương thực, tập tành võ nghệ. Dần dần cả ấp trở thành một căn cứ của hàng nghìn dân trang, thế lực mạnh mẽ, có thể đương đầu với giặc. Thục Nương kéo cờ khởi nghĩa, tự xưng là Bát Nạn Đại Tướng Quân.
Lúc này, hai bà Trưng đã khởi nghĩa ở Phong Châu, truyền lệnh đi khắp nơi, mời các anh hào về tụ nghĩa. Sứ giả đến Tiên la. Nữ tướng lúc đầu còn dùng dằng cân chắc vì chưa biết tài đức và thực lực của bà Trưng như thế nào. Song đến đêm, Nàng nằm mộng, thấy một nữ thần vâng lệng trời xuống giao cho Bát Nạn tướng quân một lá cờ xanh và đọc cho nghe bốn câu:
Nữ binh nữ tướng
Thiên dĩ định danh
Vật khả độc lập
Sự nãi bất thành
Nghĩa là:
Tướng gái quân gái
Trời đã nêu danh
Chớ đứng một mình
Việc không thành được.
Bát Nạn tướng quân tỉnh dậy, nhớ lời thần mộng, liền ra tiếp sứ thần và xin qui tụ dưới cờ Trưng chúa.
Bà Trưng trưng dụng Bát Nạn tướng quân, phong làm tiền bộ, đánh đâu dược đấy. Khi đuổi được giặc Hán, Trưng chúa lên ngôi vua, phong cho Bát nạn làm Trinh Thục công chúa, cho hưởng lộc tại ấp Tiên La, và cho về Phượng Lâu thăm họ hàng làng nước. Cả hai nơi từ đó được ơn đức của Thục Nương.
Giặc Hán lại kéo quân sang xâm lược. Quân ta đón đánh nhìều trận, nhưng không lợi thế. Bà Trưng phải rút vế Cẩm Khê. Bát Nạn tướng phải chống đỡ để bảo vệ nữ chúa, cuối cùng cũng phải rút về Tiên La. Tại đó, dân chúng bảo vệ bà rất kín đáo, giặc không sao tìm được tung tích. Mãi đến một đêm, bà đang cùng với một số người thân tín đứng đưới ánh trăng bà tính chuyện nước thì giặc Hán ở đâu kéo ập vào. Bát Nạn tướng quân liền rút kiếm ra chống đỡ, tiêu được một số giặc. Giặc càng kéo vào đông thêm. Bát Nạn tướng quân phá vòng vây, chạy đến một gốc cây tùng thì hóa. Hôm đó đúng vào ngày 18 tháng ba. Sao này nhân dân lập đền thờ bà ngay dưới cây tùng và lấy ngày ấy làm lễ. Các vùng Phượng Lâu, Đức Bác ở Vĩnh Phú và Tiên La ở Thái Bình đều có đền thờ.

Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Đền Lảnh Giang

Đền Lảnh Giang (nhân dân thường gọi là Đền Lảnh) nằm trong địa phận thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Theo Thần Phả, Đền này thờ Tam vị danh thần họ Phạm đời Hùng Vương thứ 18, Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử.


Căn cứ vào thần tích “Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích” (sự tích ra đời một vị thuỷ thần triều vua Hùng(() Thần tích này do Bát phẩm thư lại Nguyễn Hiền, tuân theo bản cũ triều trước, chép lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736). Thần tích đang được lưu giữ tại Đền Lảnh.) cùng các sắc phong, câu đối, cũng như truyền thuyết địa phương thì lịch sử ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Vương được thờ ở Đền Lảnh Giang như sau:

Ngày xưa, ở trang An Cố, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Ninh, trấn Sơn Nam có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, chỉ hiềm một nỗi ông bà tuổi đã cao mà vẫn chưa sinh được một mụn con nối dõi.

Một đêm trăng thanh gió mát, vợ ông (bà Trần Thị Ngoạn) đang dạo chơi bỗng gặp một người con gái nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, không có anh em thân thích, đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô về làm con và đặt tên là Quý. Ông bà coi nàng Quý như con ruột của mình. Vài năm sau, trong lúc gia đình đang vui vầy, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm một nơi đất tốt để an táng cho ông.

Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn lấy nàng, khiến nàng kinh hoàng ngất lịm. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình nằm bên bờ sông và thuồng luồng đã bỏ đi. Từ hôm đó nàng thấy trong lòng chuyển động và mang thai. Không chịu được những lời gièm pha khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở Trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc). Rồi đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm Tân Tỵ, nàng Quý chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điểm chẳng lành, nàng liền đem chiếc bọc đó quẳng xuống sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao” Khấn xong ông Minh rạch ra, bỗng thấy ba con rắn từ trong bọc trườn xuống sông. Con thứ nhất theo hướng về cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám – nơi nàng Quý đang sinh sống. Nhân dân các trang ấp trông thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.

Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi cơn giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều thấy dưới sông có tiếng người ngâm vịnh:

Sinh là tướng, hóa là thần

Tiếng thơm còn ở trong dân muôi đời

Khi nào giặc dã khắp nơi

Bọn ta mới trở thành người thế gian(1)

(1)Tương truyền ba vị tướng thời Hùng là con của Bát Hải Long Vương và Nàng Quý. Nàng Quý là con nuôi của vợ chồng ông Phạm Túc. Do vậy về sau nhân dân ghép họ Phạm cho các ông.).

Bấy giờ Thục Phán – thuộc dòng dõi tôn thất vua Hùng, thấy Duệ Vương tuổi đã cao mà không có con trai, nên có ý định cướp ngôi. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc, chia quân làm 5 đường thuỷ bộ cùng một lúc đánh vào kinh đô. Duệ Vương cho gọi tướng sĩ lập đàn cầu đảo giữa trời đất. Đêm ấy nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thuỷ thần sinh ở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉnh dậy Duệ Vương liền cho sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang Đào Động (nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng mình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Phạm Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó, ông Phạm Vĩnh gọi hai em đến bái yết thân mẫu, rồi cùng nhau đi yết kiến Duệ Vương. Vua Hùng liền phong cho ông là Trấn Tây, giữ các vùng Sơn Nam, ái Châu, Hoan Châu. Hai em và các tướng hợp lại, dưới sự chỉ huy của ông, 5 đạo quân Thục đều bị tiêu diệt.

Nghe tin thắng trận, Duệ Vương liền truyền lệnh giết trâu, mổ bò khao thưởng quân sĩ. Vì có công lớn nên nhà vua lại phong cho ông là “Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần” nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua Hùng đồng ý, ông Phạm Vĩnh cùng hai em về quê hương bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng.

Thấy ở bên sông có khu đất tốt, ông Phạm Vĩnh cho lập đồn dinh cư trú, ban cho dân 10 hốt vàng để mua ruộng đất, khuyến khích nông trang, khuyên mọi người làm việc thiện lương. Nhờ công đức của ông mà nhân dân khắp vùng được sống yên vui.

Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình.

Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là “Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ưng Thái Thượng Đẳng Thần”, đồng thời đặt lệ quốc lễ, ban sắc chỉ cùng 400 quan tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu để phụng thờ. Các triều đại sau đó cũng có sắc phong cho ông (hiện trong đền còn giữ 12 sắc phong. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7, ngày 18 tháng 10 có chép: “Sắc cho xã An Lạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam phụng thờ Trấn An Tây Nam Tam Kỳ Linh ứng triều Hùng thiêng liêng rõ rệt, trước đây chưa có dự phong. Gặp nay trẫm vâng chịu mệnh lớn, nghĩ đến công thần biểu dương phong cho vị thần, phò giúp nền nếp quốc gia, cho phép y theo lệ cũ kính thờ”.

Hàng năm tại Đền Lảnh Giang, nhân dân địa phương tổ chức 2 kỳ lễ hội chính vào các ngày từ 18 đến 25 tháng 6 và tháng 8 âm lịch. Theo tục lệ địa phương thì kỳ lễ hội tháng 6 là để dành cho các khách thập phương, còn kỳ lễ hội tháng 8 chủ yếu dành cho các khách quanh vùng. Những ngày này thường gặp nước sông Hồng dâng cao nhưng lòng dân vẫn hướng về ngày lễ hội. Có nhiều năm nước ngập nhưng các thiện nam tín nữ cùng nhân dân bản địa vẫn bơi thuyền ra đền dâng lễ và thực hiện đầy đủ các nghi thức để tỏ lòng tôn kính tam vị danh thần họ Phạm, Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

Cụ Bùi Bằng Đoàn(() Cụ Bùi Bằng Đoàn (1886 – 1953) là người xã Liên Bạt, huyện Sơn Lăng tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây). Cụ đỗ Cử nhân năm Thành Thái thứ 18 (1906), làm Thượng thư Bộ Hình. Sau Cách mạng tháng tám 1945, cụ được làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bài thơ này cụ viết vào tháng 2/1907.) khi viết về công lao đánh giặc của ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Vương thờ tại Đền Lảnh Giang trong tập sách “Giang Sơn cổ tích đề vịnh”, có bài thơ như sau:

“Hùng gia quý thế tam huynh đệ 

Phạm tộc giang hương phả tượng truyền

Phá tặc an dân nhân dĩ viễn

Anh thanh thiên cổ nguyệt cao huyền”.

Dịch là:

Anh em ba vị cuối triều Hùng

Họ Phạm quê nhà xóm bãi sông

Đánh giặc cứu dân người đã khuất

Còn nêu sự nghiệp sáng trăng trong.

Trong báo cáo ngày 16/5/1996, cơ quan Bảo tàng lịch sử tỉnh Nam Hà (cũ) có nhận xét: Đền Lảnh Giang là di tích thờ ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Duệ Vương có công lao đánh giặc Thục, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc. Khi đất nước thanh bình, các ông là những người quan tâm, chăm lo đến sản xuất, làm cho đời sống nhân dân ngày một ấm no hạnh phúc... Đền Lảnh Giang là công trình kiến trúc quy mô, uy linh, bề thế, mang đậm nét nghệ thuật kiến trúc và xây dựng cổ truyền của dân tộc. Tại đây còn giữ được nhiều cổ vật thờ cúng có giá trị cao về nghệ thuật.

Từ những giá trị về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cổ truyền dân tộc của Đền Lảnh Giang, ngày 5/11/1996, Bộ Văn hóa Thông tin đã cấp bằng công nhận đền Lảnh Giang là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

Lịch Sử Đền Chúa Lộc (Lộc Hoa Công Chúa) Mẫu thân của Quan Hoàng Mười

Đi qua ngã ba Đồng Lộc là đến đền Truông Bát là nơi thờ Vương Nương Thánh Mẫu đệ nhị Thượng ngàn hay còn gọi là Lộc Hoa Công Chúa (Bà Chúa Lộc). Tên thật là Phạm Thị Thỏa, quê ở huyện Đỗ Gia nay thuộc phần đất của huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Bà có chồng tên là Nguyễn Duy Lạc quê ở thôn Xuân Am Mỏ Hạc, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Bà sinh hạ được một người con trai đặt tên là Nguyễn Duy Khôi (Dân gian thường gọi ông Nguyễn Duy Khôi là Ông Hoàng Thập hay Ông Hoàng Mười).

Bà Phạm Thị Thỏa (Bà Chúa Lộc) sống vào thế kỉ XV, một giai đoạn lịch sử biến động của dân tộc Việt Nam năm 1400 - Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Nhà minh liền muợn cớ "Phù Trần diệt Hồ" kéo quân sang xâm lược nước ta. Nhà Hồ nhanh chóng sụp đổ, nhà Minh đặt nền đô hộ lên đất nước ta. Ở Lam Sơn - Thanh Hóa, Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa. Trước tình hình đó, bà Phạm Thị Thỏa đến vùng đất nay thuộc xã Ngọc Sơn chiêu mộ binh lính, khai khẩn đất hoang, tích lũy lương thực, rèn luyện binh khí chờ đợi thời cơ khởi nghĩa đánh quân Minh. Đến những năm 1425 - 1426 nghe theo kế của Nguyễn Chích, Lê Lợi tiến quân về hướng Nam lấy Nghệ Tĩnh nơi đất rộng người đông làm chỗ "lập cước chi địa" tạo đà tiến đánh thành Đông Quan giải phóng đất nước. Ở Nghệ Tĩnh, nghĩa quân Lam Sơn cùng con trai của bà Phạm Thị Thỏa được nhân dân đùm bọc, che chở, đóng góp sức người sức của cho nghĩa quân trong đó có cả bà Phạm Thị Thỏa. Bà cầm quân tiến đánh giặc Minh ở miền Cửa Sót (nay thuộc xã Thạch Kim - Thạch Hà - Hà Tĩnh). Trong lúc mải mê đánh giặc, bà hay hung tin con trai (Nguyễn Duy Khôi tức ông Hoàng Mười) tử trận do bị tướng giặc Minh Thái Phúc chém đứt đầu. Bà Phạm Thị Thỏa hoang mang bối rối và đau xót cho người con trai duy nhất của bà đã mất (tại Lạch Quèn, nay thuộc huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An).

Thế giặc mạnh, bà Phạm Thị Thỏa cùng viên tướng của nhà Lê tên là Sử Hy Nhan chống cự không nổi đã lui quân về chiến hào tại vùng đất thuộc xã Ngọc Sơn có một cây cổ thụ rất lớn. Bà cùng nghĩa quân ẩn náu nơi đó để chờ viên tướng trẻ trong lúc thua trận thất lạc. Nhưng chờ mãi bà cũng không thấy Sử Hy Nhan đến nơi đã hẹn. Bỗng một hôm mưa to gió lớn, sấm chớp ầm ầm có một ông Hổ lớn ba chân xuất hiện cõng bà chạy thẳng lên hướng núi Đồng Bụt (nay thuộc Truông Bát Khe Giao) có hai hòn đá lớn ông Hổ đặt bà xuống đấy mà không ăn thịt bà. Ngược lại ông Hổ còn bắt người và thú rừng mang về cho bà ăn thịt, nhưng bà Phạm Thị Thỏa không ăn thịt sống và thịt người mà bà chỉ hái hoa quả ăn qua ngày. Bà trút hơi thở cuối cùng ở Rú Đọi.

Đến khi Thái tử Nguyên Long con trai của Vương phi thứ ba của Lê Lơi lên ngôi vua, niên hiệu Lê Thái Tông. Thương xót bà Phạm Thị Thỏa đã cùng đoàn tùy tùng và quân lính tìm đến vùng đất nơi bà tập hợp nghĩa quân có cây cổ thụ lớn (gọi là Miếu Đợi ngày nay). Chờ đợi bà Phạm Thị Thỏa mãi không thấy, nhà Vua tiến vào rừng sâu dưới chân núi Đọi, nơi hai phiến đã nằm đó thì đã tìm thấy thi thể của bà nằm đó và đã được mối làm mộ. Vua thấy vậy bèn thương xót cho một người con gái - một nữ tướng văn võ song toàn đã phò Lê giúp nước. Vua Lê Thánh Tông đã lập miếu thờ bà và phong cho bà là Vương Nương Thánh Mẫu Lộc Hoa Công Chúa Thượng đẳng tối linh tThơKể rằng khi vua Minh Mạng kinh lý qua đây bằng voi ngựa, quân thần khi đi đến Khe Giao đột nhiên trời tối sầm, mây đen vần vũ, voi ngựa không chịu đi thêm nữa. Vua nhìn lên phía trước mặt, cây cối um tùm rủ xuống ngôi miếu rêu phong, linh khí bay lên từ đấy. Nhà Vua và quân thần cảm thấy trong người ớn lạnh, vội buộc voi ngựa, vào miếu dâng hương tiến lễ vái lạy. Một lúc sau, mây tan, gió lặng, núi rừng trở lại phong quang, nhà Vua và quân thần mới đi lại được. Thấy sự kỳ lạ của ngôi miếu nới:"Thâm sơn cùng cốc" về đến triều vua phong cho thần miếu là Vương Nương Thánh Mẫu - Cao Sơn Thần Nữ - Chế Thắng Mã Vàng lê Mại Đại Vương - Thượng Thương - Thượng Đẳng tối linh thần. Rồi lại lập đền thờ nguy nga ngay trên nền Miếu thiêng và chỉ dụ các thần dân đến tế lễ. 

Cứ hàng năm, đền Chúa Lộc lại mở tiệc vào ngày húy kỵ của Chúa là mùng 7 tháng 4 âm lịch.

Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Đình Ngọc Động huyện Duy Tiên, Hà Nam thờ Trấn Quốc Đại vương thời Hùng Vương VI

ĐÌNH NGỌC ĐỘNG



1.    Tên di tích: Đình Ngọc Động
2.    Loại công trình:  Kiến trúc lịch sử văn hoá
3.    Loại di tích: Di tích cấp quốc gia
4.    Quyết định: Được công nhận di tích theo quyết định số: 310/QĐ/BT ngày 13 tháng 2 năm 1996.
5.    Địa chỉ di tích: Thôn Ngọc Động – xã Hoàng Đông – huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam.
6.    Tóm lược thông tin về di tích 
        Đình Ngọc Động xã Hoàng Đông huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam nguyên thờ Trấn Quốc Đại Vương thời Hùng Vương. Ngài văn võ toàn tài, có công phá giặc hộ quốc bảo dân được thờ làm phúc thần muôn đời ngưỡng mộ.
       Vốn xưa vào thời Hùng Vương thứ 6 là Huy Vương. Tại Nghệ An có ông Phạm Hiên và vợ là Hoàng Thị Việt gia cảnh xung túc chăm làm việc thiện xong hiếm muộn đường con cái, vợ chồng ông không nản càng ra tâm làm phúc để cầu nguyện sớm có người nối dõi. Trời chẳng phụ lòng người, không lâu sau bà Hoàng Thị có mang. Trải qua 12 tháng đến ngày mồng 10 tháng 8 năm Đinh Sửu sinh hạ một trai khôi ngô tuấn tú, ông bà quý lắm đặt tên là Phạm Phúc. Phạm Phúc lớn lên học một biết mười, tài năng hơn người, trí tuệ siêu phàm, văn võ toàn tài, thông minh xuất chúng, mọi người đều cho là thần đồng giáng thế. Năm Phạm Phúc 18 tuổi thì cha mẹ đều qua đời. Phạm Phúc vô cùng thương xót tìm đất an táng cư tang nghiêm cẩn.
      Bấy giờ Phạm Phúc có người cậu ruột tên là Hoàng Độ, là Lạc Hầu cai quản quận Huyện Vũ đóng ở kinh, bèn tìm đến lương tựa. Khi ấy Cao Miên đem 20 vạn quân vào xâm phạm bờ cõi, Hùng Huy Vương cất Hoàng Độ làm nguyên soái, đốc 10 vạn quân đi đánh giặc Cao Miên. Hoàng Độ tiến cử cháu ruột là Phạm Phúc làm tiên phong cùng đi đánh giặc. Hai ông tiến quân vào đạo Sơn Nam, đánh lớn 1 trận, Phạm Phúc tả xung hữu đột giữa chốn ba quân như vào chỗ không có người, quân địch thua to tháo chạy về nước. Hai ông dâng biểu tâu công thắng  trận . Hùng Huy Vương xuống chiếu vời về triều, phong Hoàng Độ làm Sơn Nam bộ chúa. Phạm Phúc làm trưởng quản ở Duy Tân. Ông thấy đất Động Linh núi sông uốn khúc, rồng châu hổ ấp, hoàng xà uốn khúc, chiêng trống tượng hình, bưng dựng một hành dinh để nghỉ ngơi và nắm giữ quân quyền. Tại đây ông nghĩ việc khuyến khích nông trang, mở nghề thủ công buôn bán. Ông lại tâu xin Vua miễn các sai dịch cho dân, cấp thêm vàng mua ao ruộng làm công dụng hương hoả cho làng. Qua vài tháng, Hoàng Công lâm bệnh qua đời, ông dâng biểu tấu về triều đình Hùng Huy Vương phong Hoàng Độ là Bảo Quốc Đại Vương, triệu ông Phạm Phúc về trấn thủ đạo Sơn Nam.
       Mới qua vài năm, ở phương bắc có giặc Ân do Tương Thạch Linh cất quân sang  xâm lược nước ta, thanh thế rất lớn.  Hùng Huy Vương sai  sứ thần  triệu Phạm Phúc về triều. Ông vâng lệnh chọn 25 người ở trang Động Linh làm tâm phúc rồi tiến quân đánh giặc, hơn 20 trận không  phân thắng bại. Hùng Huy Vương bèn lập đàn tế các trời đất, được Long Quân hiện hình, chỉ cách tìm người tài giữ nước. Hùng Huy Vương sai sứ giả đi tìm, đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh thì tìm được Thiên Vương. Thiên Vương hét lên một tiếng cao lớn dị thường cưỡi ngựa sắt phi như bay tới Châu Sơn đánh lớn một trận, chém chết tướng Thạch Linh. Đang đánh giặc búa sắt bị gãy, Thiên Vương đành nhổ tre để đánh giặc tiếp, giặc thua chạy tan tác. Khi ngựa sắt về tới núi Ninh Sóc thì Thiên Vương bỏ áo giáp cưỡi ngựa bay lên trời. Tàn quân của giặc còn lại bị ông Phạm Phúc đuổi giết ra tận bờ biển mới thu quân về. Khi về đến Đắng Châu thì ông Phạm Phúc cũng hoá luôn, bấy giờ là ngày mồng 10 tháng 11. Hùng Huy Vương tôn phong Thiên Vương là Phù Đổng Thiên Vương, cho lập đền thờ phụng. Lại phong cho ông Phạm Phúc là Trấn Quốc Đại Vương, cho nhân dân bốn khu trang Động Linh lập miếu trên nơi hành dinh năm xưa thờ tự
      Đến thời Lý, vua Lê Thái Tổ đi đánh chiếm Thành, thuyền qua Đắng Châu, gặp phải mưa to gió lớn không đi được. Đêm ấy, Trấn Quốc Đại Vương hiển linh xin đi theo đánh giặc. Sáng hôm sau trời quang mây tạnh, thuyền vua thẳng đến đất Chiêm Thành, đánh được một trận lớn thu được toàn thắng. Thái Tổ nghĩ đến ơn thần bèn lập chùa bên Hồ Tây bốn mùa cúng tế.
      Trải qua các triều đều có sắc phong ghi vào tự điển 4 mùa tế lễ.
       Nay kính cẩn tuân theo Ngọc Phả, chọn ngày tốt thợ khéo đế vào bia đá, nêu rõ công lao của Ngài lưu truyền mãi về sau.
Phụ chép :
       Đình Ngọc Động phối thờ trưng triều Sơn Tinh Công Chúa tôn thần, bà vốn là danh tướng có công phù giúp Hai Bà Trưng đánh đuổi Tô Địch và Trấn triều diện suý phu nhân Thuỷ Tinh công chúa là vợ quan Nội hầu Phạm Ngũ Lão, Người đã lập nhiều kỳ tích trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Ở thời Trần, hai bà đều có công bảo quốc hộ dân, cứu khốn phò nguy, được nhân dân trong vùng tôn thờ, hương hoả bất tuyệt.

Nguồn: ditichlichsuquocgia.violet.vn/