Cội nguồn họ Phạm

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Các vị thần họ Phạm trong tài liệu Viện Hán Nôm

Phạm A Lự, Phạm Lự Nương
5671/ 633. HƯNG YÊN TỈNH ÂN THI HUYỆN CÁC XÃ THẦN TÍCH 興 安 省 恩 施 縣 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 324 tr., 29.5 x 21, chữ Hán.AE.A3/1Thần tích 3 thôn, 6 xã thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
1. Thôn Đường
 唐 , tổng Đặng Xá 鄧 舍: 36 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Lý: Chiêu Công Đại Vương 昭 公 大 王; Ngọc Nương Cung Tần Xuân Hoa Công Chúa 玉 娘 宮 嬪 春 花 公 主.2. Xã Đặng Xá 鄧 舍: 28 tr., do Nguyễn Hiền kiểm chứng năm 1737, gồm sự tích 2 vị thần triều Hùng: Minh Vương Hộ Quốc Tôn Thần 明 王 護 國 尊 神; Cao Sơn Quý Minh Tôn Thần 高 山 貴 明 尊 神 và sự tích 4 bức tượng: Pháp Vân 法 雲 , Pháp Vũ 法 武 , Pháp Lôi 法 雷 , Pháp Điện 法 電.3. Xã Kinh Bối 涇 貝: 24 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 4 vị thần triều hùng: Ả Lệ Già Lê Cửa Ngòi Công Chúa 婀 例 茄 黎 。 。 公 主; Linh Thông Hiển Ứng Đại Vương 靈 通 顯 應 大 王; Thủy Thần Đống Lạp Linh Uy Đại Vương水 神 棟 臘 靈 威 大 王; Đại Thần Đống Mô Uy Dũng Đại Vương 薹 神 棟 模 威 勇 大 王.
4. Xã Trâm Nhĩ
 簪 珥: 50 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Đức Vua Bà Công Chúa 德 。 婆 公 主 triều Đinh; Minh Lang Uy Linh Đại Vương 明 郎 威 靈 大 王 triều Hùng; Cử Thần Ông Búa Dũng Mãnh Đại Thần Vương 莒 神 翁 鈽 勇 猛 大 王 triều Lý.
5. Thôn Phú
 富 , xã Thổ Hoàng 土 黃: 8 tr., gồm sự tích 2 vị thần đời Lý: Vũ Hương 武 香 (Linh Đài Đại Phu 靈 薹 大 夫 ); Vũ Huệ 武 慧 (Văn Huệ Công Chúa 文 惠 公 主 ).
6. Thôn 
Quanh 觥 , xã Thổ Hoàng 土 黃: 28 tr., soạn năm 1572, gồm sự tích 3 vị thần triều Hùng: Thần Thông Quang Minh Đại Vương 神 通 光 明 大 王; Cương Nghị Thuần Vũ Đại Vương 剛 毅 純 武 大 王; Hùng Cường Trung Tín Đại Vương雄 強 忠 信 大 王.
7. Xã Đặng Xuyên
 鄧 川: 66 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 5 vị thần triều Hùng: Cao Sơn Hiển Ứng Đại Vương 高 山 顯 應 大 王; Quý Minh Uy Linh Đại Vương 貴 明 威 靈 大 王; Trung Hiếu Đại Vương 忠 孝 大 王; Trung Thành Đại Vương 忠 城 大 王; Trung Lương Đại Vương 忠 良 大 王.
8. Xã Đinh Xá
 丁 舍: 28 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 5 vị thần triều Hùng: Thống Lĩnh Nhạc Phủ... Hiển Công Đại Vương 統 領 岳 府... 大 王; Phụ Chính Nguyên Soái... Hựu Công Đại Vương 輔 政 元 帥... 佑 公 大 王; Tiết Chế Nhạc Phủ... Quý Công Đại Vương 節 制 岳 府... 貴 公 大 王; Ty Bố Nhạc Phủ... Minh Công Đại Vương 司 布 岳 府... 明 公 大 王; Đề Chưởng Nhạc Phủ... Uy Công Đại Vương 提 掌 岳 府... 威 公 大 王.
9. Xã Nam Trì
 南 池: 64 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 7 vị thần: Lữ Gia 呂 嘉 (Bảo Công 保 公 ); Nguyễn Lang 阮 狼 (Lang Công 狼 公 ); Lâu Nương Công Chúa 樓 娘 公 主; Cao Biền 高 駢 (Cao Vương 高 王 ); Phạm A Lự 范 婀 爐 , Phạm Lự Nương 范 慮 娘; Nguyễn Lang 阮 郎.

Phạm An
5688/ 650. HƯNG YÊN TỈNH VĂN LÂM HUYỆN THÁI LẠC XÃ THẦN TÍCH 興 安 省 文 林 縣 太 樂 社 神 蹟- 1 bản viết, 14 tr., 29.5 x 21, chữ Hán.AE.A3/18Thần tích xã Thái Lạc thuộc tổng Thái Lạc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, gồm sự tích Phạm An 范 安 (An Dưỡng Phúc Sinh... Thượng Đẳng Phúc Thần Đại Vương 安 養 福 生... 上 等 福 神 大 王) triều Lê, do Nguyễn Bính soạn năm 1572; Pháp Vũ Phật Tôn Thần 法 雨 佛 尊 神, chép năm 1897.

Phạm Bạch Hổ
5900/ 862. SƠN TÂY TỈNH PHÚC THỌ HUYỆN PHỤNG THƯỢNG TỔNG CÁC XÃ THANH MẠC THU VĨ NGỌC TẢO THẦN TÍCH 山 西 省 福 壽 縣 奉 上 總 各 社 青 幕 秋 韋 玉 藻 神 蹟- 1 bản viết, 56 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán, có Nôm.AE.A10/6Thần tích 3 xã thuộc tổng Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây.
1. Xã Thanh Mạc
 青 漠: 22 tr., về sự tích Phạm Bạch Hổ 范 白 虎 (Đức Khai Thiên Hộ Quốc... Đại Vương 德 開 天 護 國... 大 王).
* Có bài Vấn Bằng Châu phong cảnh lục soạn bằng chữ Hán và chữ Nôm, nói về phong cảnh Đằng Châu.
2. Xã Thu Vĩ
 萩 葦: 19 tr., gồm sự tích Linh Lang Đại Vương 靈 郎 大 王 triều Lý, soạn năm 1855; Linh Lang Vương 靈 郎 王triều Trần; Hạ Giới Đại Vương Tôn Thần 下 界 大 王 尊 神 và Mãnh Tướng Đại Vương Tôn Thần 猛 將 大 王 尊 神.
3. Xã Ngọc Tảo
 玉 藻: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, sao lại vào năm 1850, về sự tích Khiếu Đại Pháp Vi Ngọc Quang Đại Vương 叫 大 法 微 玉 光 大 王.

5956/ 918. THÁI BÌNH TỈNH THÁI NINH PHỦ THANH QUAN HUYỆN ĐỒNG HẢI TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 太 平 省 太 寧 府 青 關 縣 同 海 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 60 tr., 31 x 22, chữ Hán.AE.A5/38Thần tích 4 xã, thuộc tổng Đồng Hải, huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình.
1. Xã Lương Đống
 樑 棟: 3 tr., gồm sự tích Cao Sơn Đại Vương 高 山 大 王: họ Cao 高, húy là Hiển 顯 , người Bắc Quốc; sự tích Thông Minh Nhân Thánh... Phúc Thần 聰 明 仁 聖... 福 神: họ Đông 東 , húy là Lương 良 , đại Tướng Quân thời Tiền Lê; sự tích Cương Minh... Phúc Thần 剛 明...福 神: họ Đào 桃 (?), húy là Hộ 戶 , Đại tướng quân thời Tiền Lê; sự tích Minh Triết... Phúc Thần 明 哲... 福 神: họ Cao 高 , húy Phát 發; và sự tích Thái Giám Tôn Thần 太 監 尊 神: họ Chân 真 , húy Kim 金 , Quan Thái giám triều Lê.
2. Xã Văn Ông
 文 翁: 40 tr., gồm sự tích Thông Linh Hiển Ứng Đại Vương 通 靈 顯 應 大 王: họ Phạm 范 , húy Hổ 虎 , tự Phòng Át 防 遏 , một trong 12 sứ quân thời Ngô Vương; và sự tích Sùng Công 崇 公 (Quý Minh Đại Vương 貴 明 大 王) thời Hùng Duệ Vương.
3. Xã Tế Quan
 細 關: 3 tr., về sự tích Lục Lang Đại Vương 陸 郎 大 王, con thứ của Trần Nghệ Tông, triều Trần.
4. Xã An Trực
 安 直: 14 tr., gồm sự tích Thục An Dương Vương 蜀 安 陽 王 (Nam Hải Đại Vương 南 海 大 王); và sự tích Cao Sơn Đại Vương 高 山 大 王: họ Cao 高 , tên Hiển 顯 , người Bảo Sơn, quận Quảng Nam, nước Đại Tống, có nhiều công lao, khi mất, vua Tống ban thần hiệu, bắt các nước chư hầu xây miếu thờ. Có bài văn bia và bài minh, đề năm Hồng Thuận 2 (1510), do Lê Tung soạn.

Phạm Bàn
5747/ 709. NAM ĐỊNH TỈNH HẢI HẬU HUYỆN KIÊN TRUNG TỔNG THẦN TÍCH 南 定 省 海 後 縣堅 忠 總 神 蹟- 1 bản viết, 142 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A15/4Thần tích 5 xã thuộc tổng Kiên Trung, huyện Hải Hậu, phủ Xuân Trường 春 長 , tỉnh Nam Định.
1. Xã Kiên Trung
 堅 忠: 18 tr., gồm sự tích Thục Phán 蜀 泮 (Nam Hải Đại Vương 南 海 大 王); Hàm Hoằng Quang Đại Vương... Thượng Đẳng Thần 含 弘 光 大 王... 上 等 神.2. Xã Lạc Nam 樂 南: 24 tr., gồm sự tích: Nam Hải Đại Vương 南 海 大 王; Quý Minh Đại Vương 貴 明 大 王 triều Hùng; Hưng Đạo Đại Vương 興 道 大 王 triều Trần; Lê Châu 黎 珠 (Thượng Trụ Quốc Lê Cảnh Quận Công 上 柱 國 黎 景 郡 公 ) triều Tiền Lê; Trần Xuân Trạch 陳 春 澤 triều Nguyễn; Phạm Bàn 范 盤 triều Nguyễn; Lê Thế Vinh 黎 世 榮 (Minh Nghĩa Đô Úy Chư Quân Quản Cơ 明 義 都 尉 諸 軍 管 奇 ).
3. Xã Hà Lạn
 霞 爛: 52 tr., gồm sự tích: Tứ Vị Thánh Nương 四 位 聖 娘 (là Hoàng Hậu, Công Chúa... nhà Tống); Liễu Hạnh Công Chúa 柳 杏 公 主; Triệu Việt Vương 趙 越 王.4. Xã Hà Nam 霞 南: 16 tr., gồm sự tích: Hoàng Hậu họ Dương nhà Tống 宋 后; Thục Phán 蜀 泮 (văn bản viết là ) (Nam Hải Phạn Đại Vương 南 海 梵 大 王).
5. Xã Trà Trung
 茶 中: 30 tr., gồm sự tích: Triệu Quang Phục 趙 光 復 (Triệu Việt Vương 趙 越 王); Hoàng Tử Minh Lang 皇 子 明 郎 (Minh Lang Uy Linh Đại Vương 明 郎 威 靈 大 王) triều Hùng; Linh Lang Vương 靈 郎 王 triều Lý.

Phạm chánh sứ Đại vương
5325/ 287. NINH BÌNH TỈNH GIA VIỄN HUYỆN THANH QUYẾT TỔNG CÁC XÃ THẦN SẮC 寧 平 省 嘉 遠 縣 青 厥 總 各 社 神 敕- 1 bản viết, 26 tr., 32 x 22.5, chữ Hán.AD. A4/13Thần sắc 4 xã thuộc tổng Thanh Quyết, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
1. Xã Cung Quế 
宮 桂: 6 tr., phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo).* Phong cho Phạm Chánh Sứ Đại Vương 范 政 使 大 王; Bùi Lão Quân Đại Vương 裴 老 君...大 王; Đông Hải... Đại Vương 東 海...大 王.2. Xã Sơn Quyết 山 蕨: 4 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (1 đạo).* Phong cho Thành Hoàng là Phổ ứng... Đại Vương 普 應...大 王.3. Xã Thượng Hòa 上 和: 10 tr., phong cấp vào các năm Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo).* Phong cho Bố Cái... Đại Vương 布 蓋...大 王.4. Xã Trà Lai 茶 萊: 4 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (1 đạo).* Phong cho Thượng Quốc Tướng An Cảnh... Đại Vương 上 國 將 安 境...大 王.

Phạm Công Huy (TS Phạm Huy)
5791/ 753. NGHỆ AN TỈNH NGHI LỘC HUYỆN ĐẶNG XÁ TỔNG CÁC XÃ THÔN THẦN TÍCH 乂 安 省 興 元 府 鄧 舍 總 各 社村 神 蹟- 1 bản viết, 13 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.B1/2Thần tích 2 thôn, 1 xã thuộc tổng Đặng Xá, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
1. Thôn Chính Vĩ
 政 偉 , xã Lộc Hải 祿 海: 3 tr., về sự tích Vương Bột 王 勃 , tự Tử An 子 安.2. Xã Lộc Hải 祿 海: 3 tr., về sự tích Phạm Công (Nguyên Soái Thái Bảo Thành Quốc Công Tứ Dương Hầu 元 帥 太 保 成 國 公 泗 陽 侯 ).
3. Thôn Cổ Bái
 古 沛: 5 tr., về sự tích Phạm Công Huy 范 公 徽.* Có bài thơ Nôm và bài tựa.

Phạm Công Tử
5727/ 689. KIẾN AN TỈNH KIẾN THỤY PHỦ NGHI DƯƠNG HUYỆN TRÀ PHƯƠNG TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 建 安 省 建 瑞 府 宜 陽 縣 茶 芳 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 40 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A12/12Thần tích 3 xã, thuộc tổng Trà Phương, huyện Nghi Dương, tỉnh Kiến An.
1. Xã Phương Đôi
 芳 堆: 18 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Lục Lang Trung Mẫn Đại Vương 陸 郎 忠 敏 大 王triều Trần.
2. Xã Cẩm Hoàn
 錦 還: 7 tr., soạn năm Thuận Thiên 3 (1430); về sự tích Phạm Công Tử 范 公 子 (Phạm Công Tử Linh Ứng Đại Vương 范 公 子 靈 應 大 王).
3. Xã Xuân La
 春 儸: 13 t.r, do Lê Tung soạn năm Hồng Thuận 2 (1510); về sự tích Cao Hiển 高 顯 , tự Vân Trường 雲 長 (Cao Sơn Quốc Chủ Đại Vương 高 山 國 主 大 王); Quý Minh Đại Vương 貴 明 大 王.
* Có 1 bài văn bia.

Phạm Cự Lượng
5987/ 949. THÁI NGUYÊN TỈNH PHỔ YÊN PHỦ HOÀNG ĐÀM TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 太 元 省 普 安 府 黃 潭 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 25 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán, có Nôm.AE.A18/1Thần tích 2 xã thuộc tổng Hoàng Đàm, phủ Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
1. Xã Hoàng Đàm
 黃 潭: 4 tr., gồm sự tích Phạm Cự Lượng 范 巨 倆 (Hồng Thánh Khuông Quốc Trung Vũ Tá Trị Đại Vương洪 聖 匡 國 忠 武 佐 治 大 王) thời Lý Thái Tông; và sự tích Trương Hống 張 吼 , Trương Hát 張 喝 (Đại Đương Giang Hộ Quốc Khước Địch... Đại Vương 大 當 江 護 國 卻 敵... 大 王) triều Triệu Việt Vương.
2. Xã Xuân Hạc
 椿 鶴: 19 tr., gồm sự tích Trương Hống 張 吼 (Khước Địch... Đại Vương 卻 敵... 大 王) Trương Hát 張 喝 (Uy Địch... Đại Vương 威 敵... 大 王).
* Có bài thơ lục bát bằng chữ Nôm.

Phạm Cư Sĩ, Phạm Thiện, Phạm Quang
5676/ 638. HƯNG YÊN TỈNH KHOÁI CHÂU PHỦ KIM ĐỘNG HUYỆN CÁC XÃ THẦN TÍCH 興 安 省 快 卅 府 金 洞 縣 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 388 tr., 29.5 x 21, chữ Hán.AE.A3/6Thần tích 1 thông 18 xã thuộc huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
1. Thôn Hương Dương
 香 楊: 10 tr., về sự tích Bính Tông Hoàng Đế 昺 宗 皇 帝 nhà Tống cùng Hoàng hậu, cung phi bị quân Nguyên bức bách nhảy xuống biển tự tử, xác trôi sang Việt Nam được dân dựng miếu thờ.
2. Xã Đào Xá
 陶 舍: 26 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Vũ Nguyên 武 元 (Khai Quốc Đại Vương 開 國 大 王) thời nhà Triệu.
3. Xã An Xá
 安 舍: 36 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Hùng: Anh Thanh Linh Ứng Đại Vương 英 清 靈 應 大 王 , Dực Vận Thục Chúa Đại Vương 翊 運 蜀 主 大 王.
4. Xã Trúc Cầu
 竹 梂: 6 tr., gồm sự tích: Tạ Đức 謝 德 (Ninh Vũ Đại Vương 寧 武 大 王); Hiển Ứng Đại Vương 顯 應 大 王; Hộ Quốc Đại Vương 護 國 大 王 triều Lý, sao năm 1509; sự tích 3 nhà sư tu ở chùa của xã đắc đạo thành Phật: Trần Bao 陳 包 , Trần Vĩnh 陳 永 , Trần Vinh 陳 榮 triều Minh, chép năm 1695.
5. Xã Dưỡng Phúc
 養 覆: 10 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Minh Tuệ Đại Vương 明 慧 大 王 thời nhà Triệu.
6. Xã Cốc Khê
 穀 溪: 50 tr., gồm sự tích: Đông Thành Đại Vương 東 城 大 王 triều Đinh, do Nguyễn Bính soạn năm 1572; Đoàn Thượng 段 尚 (Đông Hải Đại Vương 東 海 大 王) triều Lý; Phạm Cư Sĩ 范 居 士 triều Lý do Nguyễn Bính soạn năm 1572.
* Có bài Đoàn Thượng luận
 段 尚 論 , bàn về Đoàn Thượng.
7. Xã Phục Lễ
 復 禮: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572 (văn bản viết lầm là năm 1735), gồm sự tích Lưu Lang Đại Vương 劉 郎 大 王 triều Đinh; Thiên Vương Hoàng Hậu 天 王 皇 后 (Tiên Dung Công Chúa 仙 容 公 主 ) triều Hùng.
8. Xã Phú Cốc
 富 穀: 18 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, sự tích Nguyễn Trung 阮 忠 (Trung Quốc Hiển Ứng Đại Vương 忠 國 顯 應 大 王) triều Trưng Vương.
9. Xã Phán Thủy
 泮 水: 22 tr., do Nguyễn Bính (văn bản viết nhầm là Nguyễn Hiền) soạn năm 1572, gồm sự tích các thần: Chu Văn Minh 朱 文 明 (Độc Cước Đại Vương 獨 腳 大 王); Nguyệt Lãng Đại Vương 月 朗 大 王 triều Trần; Trung Quốc Đại Vương 忠 國 大 王.
10. Xã Tiên Quán
 僊 館: 28 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Trung Thành Phổ Tế Đại Vương 忠 城 普 濟 大 王.
11. Xã Mai Viên
 枚 園: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, (văn bản viết nhầm Nguyễn Bính thành Nguyễn Hiền và Nguyễn Hiền thành Nguyễn Bính), gồm sự tích 2 vị thần triều Trưng Vương: Dương Nước 楊 。 (Bến Nước Đại Vương 。。 大 王); Dương Đình 楊 亭 (Đương Đình Đại Vương 楊 亭 大 王) và 1 Công Chúa Chiêm Thành: Đệ Nhị Vị Công Chúa Áo Đỏ Đại Vương 第 二 位 公 主。 。 大 王 triều Lý.
12. Xã Đào Xá
 陶 舍: 20 tr., do Lê Văn Bích 黎 文 壁 soạn năm 1470, gồm sự tích 3 vị thần triều Đinh: Đôn Thiện Sùng Tín Đại Vương 敦 善 崇 大 王, Đông Chinh Thiên Môn Đại Vương 東 征 天 門 大 王, Tây Chinh Địa Phủ Đại Vương 西 征 地 府 大 王.
13. Xã Thanh Sầm
 青 岑: 12 tr., chép năm 1680, gồm sự tích 2 vị thần triều Hùng: Phạm Thiện 范 善 (Hướng Thiện NinhQuốc Đại Vương 向 善 寧 國 大 王), Phạm Quang 范 光 (Đạo Quang Vĩnh An Đại Vương 道 光 永 安 大 王).
14. Xã Tạ Xá
 謝 舍: 30 tr., chép năm 1680, gồm sự tích 2 vị thần: Lý Đức 李 德 (Dực Đức Hiển Ứng Đại Vương 翼 德 顯 應 大 王); Lý Tịnh 里 靖 (Liêm Tịnh Uy Linh Đại Vương 廉 靖 威 靈 大 王).
15. Xã Dưỡng Phúc
 養 覆: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Đệ Nhị Cung Phi Nguyễn Thị Thục Tư Đoan Từ... Công Chúa 第 二 宮 妃 阮 氏 淑 端 慈... 公 主 triều Trần.
16. Xã Cốc Ngang
 穀 昴: 32 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Hùng: Cấp Tăng Thổ Phúc Cư Sĩ Đại Vương 級 增 土 福 居 仕 大 王; Vương Phi Hậu Nương Phù Dung Công Chúa 王 妃 后 娘 芙 蓉 公 主.17. Xã Kim Đằng 金 藤: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Đinh: Đinh Điền Tế Thế... Đại Vương 丁 佃 濟 世... 大 王 (còn gọi là Trung Chiêu Kiệt Tiết... Đại Vương 忠 昭 竭 節... 大 王); Môi Nương Huệ Hòa... Phu Nhân 媒 娘 惠 和...夫 人.18. Xã Đằng Man 藤 蔓: 8 tr., do Hoàng Cao Khải soạn năm 1893, ghi việc được Thánh Mẫu 聖 母 báo mộng âm phù giúp cho thoát hiểm.
19. Xã Xích Đằng
 赤 藤: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Lạc Long Quân 貉 龍 君.* Có bài: Long quân điện phụng giám thủ bi chí 龍 君 殿 奉 監 守 碑 誌 soạn vào năm Cảnh Hưng.

5543/ 505. HÀ ĐÔNG TỈNH PHÚ XUYÊN HUYỆN CÁC XÃ THẦN TÍCH 河 東 省 富 川 縣 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 242 tr., 28 x 16, chữ Hán.AE.A2/42Thần tích 1 trang, 3 thôn, 7 xã thuộc tổng Mỹ Lâm 美 林 , huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông.
1. Thôn Cổ Chế
 古 制: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Trung Thành Phổ Tế Đại Vương 忠 誠 普 濟 大 王thời Hùng Vương.
2. Thôn Đoài
 兌 , xã Đại Đồng 大同: 10 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572 (sách viết lầm là năm 1795), gồm sự tích Nhân Cường Dũng Mãnh... Đại Vương 仁 強 勇 猛... 大 王 và Thái Thượng Thượng Sĩ Đại Vương 泰 上 尚 仕... 大 王.
3. Xã ứng Hòa 
應 和: 20 tr., gồm sự tích: Trung Thành Đại Vương 忠 誠 大 王 thời Hùng Vương và Đoàn Thượng 段 尚(Đông Hải Đại Vương 東 海 大 王) thời Lý - Trần.
4. Xã Mỹ Lâm 
美 林: 30 tr., gồm sự tích: Đoàn Thượng 段 尚 (Đông Hải Đại Vương東 海 大 王) thời Lý - Trần và Nguyệt Nga Công Chúa Phu Nhân 月 娥 公 主夫 人 , do Nguyễn Bính soạn năm 1572.
5. Xã Cổ Châu 
古洲: 18 tr., gồm sự tích: Đoàn Thượng 段 尚 và Phạm Cư Sĩ 范 居 士 thời Lý - Trần.
6. Xã Thao Chính
 洮 正: 16 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, sự tích Nguyệt Nga Công Chúa Phu Nhân 月 娥 公 主夫 人.7. Thôn Nam 南 , xã Đại Đồng 大同: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Ả Nanh Nga My Công Chúa Đại Vương 婀 。娥 媚 公 主 大 王.8. Xã Phú Mỹ 富 美: 34 tr., về sự tích Trung Thành Phổ Tế... Đại Vương 忠 誠 普 濟... 大 王 triều Hùng.
9. Xã Nam Quất
 南 橘: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Chu Thịnh Đại Vương 朱 盛 大 王 triều Hùng.
10. Trang Phong Triều
 豐 朝: 24 tr., về sự tích Trung Thành Phổ Tế... Đại Vương 忠 誠 普 濟....大 王 triều Hùng.
11. Xã Nam Phú
 南 富: 44 tr., do Nguyễn Hiền chép năm 1736, về sự tích Tản Viên Sơn Thánh 傘 圓 山 聖.* Có bài tựa.

5799/ 761. NINH BÌNH TỈNH GIA KHÁNH HUYỆN CÁC XÃ THẦN TÍCH 寧 平 省 嘉 慶 縣 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 120 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A4/5Thần tích 5 thôn, 3 xã thuộc tổng Thiện Trạo 善 棹 , huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình.
1. Thôn Thượng
 上 , xã Thiện Trạo 善 棹: 12 tr., về sự tích Quý Minh Đại Vương 貴 明 大 王 triều Hùng.
2. Thôn Hạ
 下 xã Thiện Trạo 善 棹: 6 tr., gồm sự tích Nguyễn Phục 阮 復 (Lực Lộ Tôn Thần 力 路 尊 神); Lê Hỏa 黎 火 (Phổ Hóa Tôn Thần 普 化 尊 神) triều Trưng Vương.
3. Xã Yên Khoái
 安 快: 24 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Đức Vương Cả Lang Nga Công Tôn Linh Đại Vương德 王 奇 廊 峨 公 尊 靈 大 王 triều Hùng.
4. Thôn Thượng
 上 , xã Yên Phúc 安 福: 30 tr., gồm sự tích 2 vị thần triều Đinh, do Nguyễn Bính soạn năm 1572: Cao Lịch 高 靂 (Lịch Lộ Đại Vương Trung Đẳng Thần 靂 露 大 王 中 等 神 ) 2. Cao Khiển 高 譴 (Hành Khiển Đại Vương Trung Đẳng Thần行 譴 大 王 中 等 神 ); và 2 vị thần đời Lý: Đoàn Thượng 段 尚 (Đông Hải Đại Vương 東 海 大 王); Phạm Cư Sĩ 范 居 士.5. Thôn Trung 中 , xã Yên Phúc: 18 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Đinh: Cao Các Phổ Tế Đại Vương 高 閣 普 濟 大 王; Cao Sơn Nghĩa Dũng Đại Vương 高 山 義 勇 大 王.
6. Thôn Hạ
 下 , xã Yên Phúc: 18 tr., về sự tích 2 vị thần triều Đinh: Cao Lịch 高 靂 (Lịch Lộ Đại Vương Trung Đẳng Thần 靂 露 大 王 中 等 神 ); Cao Khiển 高 譴 (Hành Khiển Đại Vương Trung Đẳng Thần 行 譴 大 王 中 等 神 ).
7. Xã Phương Đình
 芳 亭: 4 tr., về sự tích Nguyễn Phổ 阮 普 (Lực Lộ Linh Ứng Thượng Đẳng Thần 力 路 靈 應 上 等 神 ) triều Lê.
8. Xã Phúc Lộc
 福 祿: 4 tr., sự tích thủy thần 水 神.

5179/ 141. HÀ NAM TỈNH DUY TIÊN HUYỆN TIÊN XÁ TỔNG CÁC XÃ THẦN SẮC 河 南 省 維 先 縣先 舍 總 各 社 神 敕- 1 bản viết, 97 tr., 32 x 22.5, chữ Hán.AD. A13/9Thần sắc 3 thôn và 5 xã thuộc tổng Tiên Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
1. Xã Kim Lũ 
金 縷: 9 tr., phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (2 đạo), Chiêu Thống (2 đạo).* Phong cho Cao Quan.. Đại Vương 高 冠...大 王; Chàng Đại Thiên Minh... Đại Vương 撞 大 天 明...大 王; Lỗ Địa Đài Vương... Đại Vương 魯 地 檯 王...大 王; Phương Dung... Công Chúa 芳 容 公 主.2. Xã Lục Nộn 錄 嫩: 29 tr., phong cấp vào các năm Dương Hòa (1 đạo), Chính Hòa (3 đạo), Cảnh Hưng (5 đạo), Chiêu Thống (4 đạo).* Phong cho Đông Bảng.. Đại Vương 東 榜...大 王; Lã Đông An... Đại Vương 呂 東 安...大 王; Hiển Cung Hồng Nương... Công Chúa 顯 宮 紅 娘...公 主; Chân Tiên Công Chúa 真 仙 公 主; Thủy Tiên... Công Chúa 水 晶...公 主.3. Xã Yên Bảo 安 保: 27 tr., phong cấp vào các năm Dương Đức (1 đạo), Chính Hòa (1 đạo), Vĩnh Thịnh (1 đạo), Vĩnh Khánh (2 đạo), Cảnh Hưng (4 đạo), Chiêu Thống (1 đạo).* Phong cho Phương Phi.. Hoàng Thái Hậu 芳 菲...皇 后; Phương Dung Công Chúa 芳 容 公 主.4. Thôn Trung 忠 , xã Tiên Xá 先 舍: 14 tr., phong cấp vào năm Cảnh Thịnh (1 đạo).* Phong cho Phạm Tiên Sinh... Sùng Nhân Cư Sĩ... Đại Vương 范 先 生...崇 仁 居 士...大 王.5. Thôn Xa Lao 車 牢 , xã Tiên Xá: 3 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (2 đạo).* Phong cho Trấn Quốc... Đại Vương 鎮 國...大 王; Đông Bảng... Đại Vương 東 榜...大 王.6. Xã Yên Ngoại 安 外: 2 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (1 đạo).* Phong cho Hồng Nương... Công Chúa 紅 娘...公 主.7. Xã Yên Nội 安 內: 4 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (2 đạo).* Phong cho Đông Bảng... Đại Vương 東 榜...大 王; Hồng Nương... Công Chúa 紅 娘...公 主.8. Thôn Ngô Thượng 吳 上 , xã Ngô Xá 吳 舍: 11 tr., phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (3 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo), Bảo Hưng (1 đạo).* Phong cho Không Vị... Đại Vương 空 位...大 王; Không Hoàng... Đại Vương 空 隍... 大 王.

Phạm Đá, Phạm Dũng
5672/ 634. HƯNG YÊN TỈNH ÂN THI HUYỆN CÁC XÃ THẦN TÍCH 興 安 省 恩 施 縣 各 社 神 蹟
- 1 bản viết, 192 tr., 29.5 x 21, chữ Hán.AE.A3/2Thần tích 5 thôn, 4 xã thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
1. Xã Thổ Hoàng
 土 黃: 4 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Bùi Hộ 裴 護 (Thành Hoàng Đại Vương 城 隍 大 王) triều nhà Triệu.
2. Xã Bình Trì
 平 池: 12 tr., do Nguyễn Hiền sao năm 1736 về sự tích Lý Công Uẩn 李 公 薀 triều Lý.
3. Thôn Thọ Hội
 壽 會 , xã Yên Canh 安 耕: 24 tr., soạn năm 1605, về sự tích Lý Thái Tổ 李太 祖.4. Xã Đặng Đinh 鄧 丁: 22 tr., do Nguyễn Hiền kiểm chứng năm 1735, gồm sự tích 2 vị thần thời Tiền Lý: Trần Lạc 陳 樂(Thiện Hóa Cư Sĩ Quảng Lạc Tối Linh Đại Vương 善 化 居 士 廣 樂 最 靈 大 王); Trần Lang 陳 郎 (Uy Hòa Nghị Lang... Đại Vương 威 和 毅 郎... 大 王).
5. Thôn Trung
中, xã Thổ Hoàng 土 黃: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, và sự tích Cao Hiển 高 顯 (Cao Sơn Quốc Chủ... Thượng Đẳng Phúc Thần 高 山 國 主... 上 等 福 神 ).
6. Xã Cổ Lễ
 古 禮: 22 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 3 vị thần triều Hùng: Nguyễn Tuấn 阮 俊 (Uy Dũng Linh Cảm Đại Vương 威 勇 靈 感 大 王); Nguyễn Chiêu 阮 昭 (Chiêu Ứng Đại Vương 昭 應 大 王); Nguyễn Minh 阮 明 (Minh Lang Đại Vương 明 郎 大 王).
7. Thôn Cẩm La
 錦 羅 , xã La Chàng 羅 幢: 60 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 7 vị thần triều Hùng: Tạo Vương 造 王 , Đế Thích Thiên Vương 帝 釋 大 王; Nhật Quang Thiên Tử 日 光 天 子; Nguyệt Quang Thiên Tử 月 光 天 子;Diêm La Bộ Soái 閻 羅 部 帥; Phạm Đá 范 。 (Hiển Thánh Linh Thông Đại Vương 顯 聖 靈 通 大 王); Phạm Dũng 范 勇 (Thiên Quan Bảo Điện Đại Vương 天 官 保 殿 大 王).
8. Thôn Tạ
 謝 , xã La Chàng 羅 幢: 22 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Quản Không Huệ Lực Tế Thế Đại Vương 管 空 惠 力 濟 世 大 王.
9. Thôn Đông Bạn
 東 畔 , xã Yên Canh 安 耕: 10 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 9 vị thần thời Lý, Trần: Ứng Thiên Quảng Tế... Quý Đông Đại Vương 應 天 廣 濟... 季 東 大 王; Khai Quốc Định Bang... Đông Hải Đại Vương 開 國 定 邦... 東 海 大 王; Uy Liệt Hiển Trung... Đại Vương.威 烈 顯 忠.. 大 王; Lữ Công 呂 公 , Hốt Công 忽 公; Trích Công 摘 公;Xuyên Công 川 公; Đàm Công 潭 公; Lân Công 麟 公.

Phạm Đại Liêu
5717/ 679. KIẾN AN TỈNH AN DƯƠNG HUYỆN CÁC TỔNG QUỲNH HOÀNG, SONG MAI, NGỌ DƯƠNG, VỤ NÔNG THẦN TÍCH 建 安 省 安 陽 縣 各 總 瓊 黃 雙 梅 午 陽 務 農 神 蹟- 1 bản viết, 119 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A12/4Thần tích 9 xã, thuộc tổng Quỳnh Hoàng 瓊 璜 , tổng Song Mai 雙 梅 , tổng Vụ Nông 務 農 và tổng Ngọ Dương 午 陽.1. Xã Cam Lộ 甘 露 , tổng Quỳnh Hoàng: 21 tr., sao lại năm Vĩnh Hựu 2 (1736); gồm sự tích Nguyễn Trung Thành 阮 忠 誠(Trung Thành Đại Vương 忠 誠 大 王); Khôn Thành Điện Dương Hoàng Bà Đại Vương 坤 城 殿 楊 皇 婆 大 王; Thục Tư Công Chúa 淑 思 公 主 và Vua Mạ Công Chúa 。 。 公 主.2. Xã Quỳnh Hoàng 瓊 璜 , tổng Quỳnh Hoàng: 16 tr., do Nguyễn Hiền sao lại năm Vĩnh Hựu 6 (1740), gồm sự tích Uy Công 威 公 (Danh Tổng Đại Vương 名 總 公 主 ); Cống Lãng Đại Vương 貢 朗 公 主 triều Trần.
3. Xã Quỳnh Cư
 瓊 琚 , tổng Quỳnh Hoàng: 13 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572; gồm sự tích Lệnh Bá 令 伯 (Lệnh Bá Minh Đạt... Đại Vương 令 伯 明 達... 大 王 và Chính Trọng 正 仲 (Chính Trọng Quang Chiếu... Đại Vương 正 仲 光 照... 大 王).
4. Xã Vật Cách Thượng
 物 格 上 tổng Quỳnh Hoàng: 17 tr., do Nguyễn Hiền sao lại năm Vĩnh Hựu 2 (1736); về sự tích Trung Thành Đại Vương 忠 誠 大 王 triều Lý.
5. Xã Hà Liễn
 河 輦 , tổng Song Mai: 11 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Hồng Công 洪 公 (Quảng Tế Cư Sĩ Hoằng Hóa Thượng Đẳng Thần 廣 濟 居 仕 弘 化 上 等 神 ) triều Lý.
6. Xã Vụ Nông
 務 農 tổng Vụ Nông: 21 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Nhu Hòa Bạch Mã Thượng Đẳng Phúc Thần Đại Vương 柔 和 白 馬 上 等 福 神 大 王; Phổ Hộ Tuấn Liệt Chiêu Huân Đại Vương 普 護 駿 烈 昭 勳 大 王; Thiên Quan Linh Ứng Đại Vương 天 官 靈 應 大 王; Diêm La Phổ Đạt Đại Vương 閻 羅 溥 達 大 王; Quảng Lợi Tán Hóa Đại Vương廣 利 贊 化 大 王 triều Lý và sự tích Ngọc Thanh Uy Linh Trấn Quốc Đại Vương 玉 清 威 靈 鎮 國 大 王.
* Có một đôi câu đối và một bài văn tế.
7. Xã Dụ Nghĩa
 喻 義 tổng Vụ Nông: 10 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Tế Công 濟 公 (Đương Cảnh Thành Hoàng Thiện Tế Đại Vương 當 境 城 隍 善 濟 大 王) và Bạch Hoa Tôn Linh Công Chúa Tôn Thần 白 花 尊 靈 公 主 尊 神 triều Lý.
8. Xã Ngọ Dương
 午 陽 , tổng Ngọ Dương: 6 tr., về sự tích Hoàng Độ Cư Sĩ Đại Vương 皇 度 居 仕 大 王 (Hộ Quốc Hựu Dân Tích Phúc Trợ Thuận Đại Vương 護 國 佑 民錫 福 助 順 大 王).
9. Xã Đình Ngọ
 亭 午 , tổng Ngọ Dương: 2 tr., về sự tích Phạm Đại Liêu Cư Sĩ Tôn Thần 范 大 僚 居 士 尊 神.

Phạm Đại vương
5122/ 84. HÀ ĐÔNG TỈNH HOÀI ĐỨC PHỦ TỪ LIÊM HUYỆN TÂY TỰU TỔNG CÁC XÃ THẦN SẮC 河 東 省 懷 德 府 慈 廉 縣 西 就 總 各 社 神 敕- 1 bản viết, 94 tr., 32 x 22.5, chữ Hán.AD. A2/ 46.Thần sắc 5 xã thuộc tổng Tây Tựu, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
1. Xã Hạnh Đàn 
杏 壇: 46 tr., phong cấp vào các năm Đức Long (2 đạo), Dương Hòa (3 đạo), Phúc Thái (3 đạo), Khánh Đức (1 đạo), Thịnh Đức (1 đạo), Cảnh Trị (1 đạo), Dương Đức (1 đạo), Chính Hòa (1 đạo), Vĩnh Thịnh (1 đạo), Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (4 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo).* Phong cho Quản Giới Linh Thông Thượng Sĩ 管 界 靈 通 上 仕.2. Xã Tây Tựu 西 就: 12 tr., phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (3 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo).* Phong cho Tam Giang... Đại Vương 三 江...大 王.3. Xã Đan Hội 丹 會: 12 tr., phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (1 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo), Bảo Hưng (1 đạo).* Phong Quản Giới Linh Thông Thượng Sĩ 管 界 靈 通 上 仕.4. Xã Phúc Lý 福 履: 8 tr., phong cấp vào các năm Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo).* Phong cho Tam Giang Đại Vương 三 江 大 王; Đào Đại Vương 陶 大 王; Phạm Đại Vương 范 大 王; Tịnh Hạnh... Tả Cung Phi靖 行...左 宮 妃; Thuần Mỹ... Hữu Hoàng Hậu 純 美...右 皇 后.5. Xã Hạ Hội 下 會: 16 tr., phong cấp vào các năm Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (5 đạo), Chiêu Thống (1 đạo).* Phong cho Quản Giới Linh Thông Thượng Sĩ 管界 靈 通 上 仕.

Phạm Đăng Triều
5444/ 406. THÁI BÌNH TỈNH TRỰC ĐỊNH HUYỆN THỤY LŨNG TỔNG THẦN SẮC 太 平 省 直 定 縣 瑞 隴 總 神 敕- 1 bản viết, 28 tr., 32 x 22, chữ Hán.AD. A5/27Thần sắc 6 xã thuộc tổng Thụy Lũng, huyện Trực Định, tỉnh Thái Bình.
1. Xã Tử Tế 
仔 細: 5 tr., phong cấp vào các năm Vĩnh Hựu (1 đạo), Cảnh Hưng (1 đạo).* Phong cho Đồng Tri Phủ Phạm Đăng Triều 同 知 府 范 登 朝; Tri Huyện Bùi Bá Du 知 縣 裴 伯 瑜 (tất cả 10 người)...; Thiên Quan Cửa Chùa... Đại Vương 天 官 。 廚... 大 王.2. Xã Quân Hành 均 衡: 5 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (1 đạo).* Phong cho Linh Lang... Đại Vương 靈 郎... 大 王; Thiên Quan... Đại Vương 天 官... 大 王.3. Xã Bích Kê 碧 雞: 3 tr., phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (1 đạo).* Phong cho Thành Hoàng Đằng Liêu, Phó Mã Tướng Quân, Thiên Quan Cửa Đình Cao Minh Tứ Vị Đại Vương 城 皇 藤 僚 , 副 馬 將 軍 , 天 官 。 亭 , 高 明 四 位 大 王.4. Xã Bích Lũng 碧 隴 , xã Bích Kê: 3 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (1 đạo), (Hai xã chung nhau 1 đạo).* Phong cho Nam Hải Triệu Vũ úy Đà (Triệu Đà) 南 海 趙 武 尉 陀.5. Xã Bằng Trạch 憑 澤: 3 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (1 đạo).* Phong cho Nam Hải... Thái Chưởng Công Chúa 南 海... 太 掌 公 主.6. Xã An Trạch 安 宅: 7 tr., phong cấp vào năm Cảnh Hưng (3 đạo).* Phong cho Đương Cảnh Thành Hoàng... Đại Vương 當 境 城 隍... 大 王.

Phạm Định
5477/ 439. BẮC NINH TỈNH LANG TÀI HUYỆN AN TRÚ TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 北 寧 省 良 才 縣 安 住 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 25 tr., 31 x 21, chữ Hán.AE.A7/13Thần tích 2 xã thuộc tổng An Trú, huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh.
1. Xã Thanh Hà
 青 河: 15 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Xích Công 赤 公 (Minh Hựu Linh Thông Đại Vương明 佑 靈 通 大 王 ) và Hoàng Công 黃 公 (Thạc Thần Hộ Quốc Đại Vương 碩 神 護 國 大 王 ), là 2 trong số 7 vị công thần (Xích Công 赤 公 , Hoàng Công 黃 公 , Hồng Công 洪 公 , Phương Công 芳 公 , Mẫn Công 敏 公 , Quế Nương 桂 娘 , Dung Nương 蓉 娘 ) thời Lê Đại Hành.
2. Xã Lôi Châu
 雷 洲: 10 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Phạm Định 范 定 , Hoàng La 黃 羅 và Đào Lỗ 陶 嚕thời Lý Nam Đế.

Phạm Đông Nga
5525/ 487. HÀ ĐÔNG TỈNH ĐAN PHƯỢNG HUYỆN DƯƠNG LIỄU TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 河 東 省 丹 鳳 縣 楊 柳 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 58 tr., 28 x 16, chữ Hán, có Nôm.AE.A2/9Thần tích 2 xã thuộc tổng Dương Liễu, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông.
1. Xã Yên Sở
 安 所: 42 tr., về sự tích Lý Phục Man 李 服 蠻 (Gia Thông Đại Vương 嘉 通 大 王 ).
* Có 3 bài tựa viết năm Gia Long 3 (1804) và bài Tiền Lý Nam Đế sự tích quốc âm
 前 李 南 帝 事 跡 國 音 (Nôm, thể lục bát).
2. Xã Mậu Hòa
 茂 和: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Phạm Đông Nga 范 東 俄 (Thái Bảo Tổng Đốc Tuấn Trục Đông Nga... Đại Vương 太 保 總 督 俊 軸 東 俄... 大 王) triều Đinh.

Phạm Hiển
5984/ 946. THÁI BÌNH TỈNH TRỰC ĐỊNH HUYỆN THỤY LŨNG TỔNG THẦN TÍCH 太 平 省 直 定 縣瑞 隴 神 蹟- 1 bản viết, 96 tr., 31 x 21, chữ Hán.AE.A5/7Thần tích 5 xã, thuộc tổng Thụy Lũng, huyện Trực Định, tỉnh Thái Bình.
1. Xã Bích Kê 
碧 鸂: 28 tr., gồm sự tích Triệu Vũ Hoàng Đế (Triệu Đà) và Hoàng Hậu Trình Thị Lan Nương, cùng mối tình Trọng Thủy - Mỵ Nương; sự tích Hiển Đạt Tôn Thần 顯 達 尊神 , họ Phạm 范 , húy Hiển 顯 , người bản xã, có công giúp Lê Lợi đánh giặc Minh.2. Xã An Chỉ 安 址: 22 tr., về sự tích Thiên Quan Cửa Chùa Tế Đại Vương 天 官 。 廚 大 王; Thiên Quan Cửa Chùa Áng Đại Vương 天 官 。 廚 盎 大 王 Thạch Thần Linh Ứng Đại Vương 石 神 靈 應 大 王; Linh Lang Chủ Sớ Đại Vương 靈 郎 主 疏 大 王; Thanh Kiền Đại Vương 青 虔 大 王; Lã Trục Đại Vương 呂 逐 大 王; và Cao Thiên Hoàng Bà Đại Vương 高 天 皇 婆 大 王 thời Hùng Duệ Vương.
3. Xã Quân Hành
 均 衡: 16 tr., do Nguyễn Hiền chép lại, về sự tích Lang Công 郎 公 (Thiên Quan Linh Lang Chủ Sớ Đại Vương 天 官 靈 郎 大 王) và Tùng Công 松 公 (Thiên Quan Cửa Chùa Áng Tùng Đại Vương 天 官 。 廚 盎 松 大 王) thời 12 sứ quân.
4. Xã Tử Tế
 仔 細: 16 tr., do Nguyễn Hiền chép lại về sự tích 2 vị thần song sinh là Trù Công 疇 公 (Đương Cảnh Thành Hoàng Đại Vương 當 境 城 隍 大 王), và Thuận Nương 順 娘 (Tuyên Hòa Trinh Thuận... Công Chúa 宣 和 貞 順... 公 主 ) thời Trưng Nữ Vương.
5. Xã An Trạch
 安 宅: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Thanh Kiền 青 虔 (Thanh Kiền Đại Vương 青 虔 大 王); Thuộc Công 屬 公 (Bạch Thuộc Đại Vương 白 屬 大 王); Tống Công 宋 公 (Tống Thánh Đại Vương 宋 聖 大 王) thời Lê Lợi.

Phạm Tùng, Phạm Túc, Phạm Hòa

5896/ 858. SƠN TÂY TỈNH PHÚC THỌ HUYỆN CAM THỊNH TỔNG YÊN THỊNH XÃ THẦN TÍCH 山 西 省 福 壽 縣 甘 盛 總 安 盛 社神 蹟- 1 bản viết, 26 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A10/2Thần tích xã Yên Thịnh thuộc tổng Cam Thịnh, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, Trần Lan 陳 蘭 , Trần Bảo 陳 寶 , Thạch Khanh 石 卿 , Thổ Lệnh 土 令 triều Lý Nam Đế; và sự tích Phạm Tùng 范 松 (Thông Minh Chính Trực Đại Vương 聰 明 正 直 大 王); Phạm Túc 范 肅 (Hiển Linh Phù Huệ Đại Vương 顯 靈 夫 惠 大 王); và Phạm Hòa 范 和 (Tá Bộ Diệu Cảm Đại Vương 佐 部 耀 感 大 王) triều Thục, sao lại vào năm 1914.

+ Phạm Trung
5897/ 859. SƠN TÂY TỈNH PHÚC THỌ HUYỆN CỰU ĐÌNH TỔNG CÁC XÃ CẨM ĐÌNH YÊN ĐÌNH THẦN TÍCH 山 西 省 福 壽 縣 舊 亭 總 各 社 錦 亭 安 亭 神 蹟- 1 bản viết, 17 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A10/3Thần tích 2 xã thuộc tổng Cựu Đình, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây.
1. Xã Cẩm Đình
 錦 亭: 10 tr., soạn năm 1829, về sự tích Thổ Lệnh 土 令 (Trung Dực Vũ Liệt... Đại Vương 忠 烈 武 烈... 大 王).
2. Xã Yên Đình
 安 亭: 6 tr., gồm sự tích Phạm Trung 范 忠 (Phổ Huệ Đại Vương 普 惠 大 王); Phạm Túc 范 肅 (Hiển Ứng Đại Vương 顯 應 大 王) và Phạm Hòa 范 和 (Phù Vận Đại Vương 浮 運 大 王); và sự tích Thổ Lệnh 土 令 , Thạch Khanh 石 卿 , triều Lý Nam Đế.

Phạm Hạp (triều Đinh)
5771/ 733. NAM ĐỊNH TỈNH VỤ BẢN HUYỆN ĐỒNG ĐỘI TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 南 定 省 務 本 縣 同 隊 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 222 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A15/28Thần tích 2 thôn, 2 xã thuộc tổng Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
1. Xã Châu Bạc
 珠 泊: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Vũ Nghị 武 毅 (Đương Cảnh Thành Hoàng Vũ Nghị Đại Vương 當 境 城 隍 武 毅 大 王).
2. Thôn Thượng
 上 , xã Trang Nghiêm 莊 嚴: 78 tr., gồm sự tích 2 vị thần triều Lý: Lê Dũng 黎 勇 (Dũng Mãnh Uy Linh Hiển Ứng Đại Vương 勇 猛 威 靈 顯 應 大 王), Lê Sĩ 黎 仕 (Thái Thượng Thượng Sĩ Đại Vương 綵 上 尚 仕 大 王) do Nguyễn Bính soạn năm 1735 (?); 3 vị Đại Vương triều Trưng Vương do Nguyễn Bính soạn năm 1572: Đô Thống Đại Vương 都 統 大 王; Chiêu Hiển Đại Vương 昭 顯 大 王; Tam Lang Đại Vương 三 郎 大 王; 3 vị thần triều Hùng do Nguyễn Bính soạn năm 1572: Đông Hải Đại Vương 東 海 大 王; Trung Thành Phổ Tế Đại Vương 忠 誠 普 濟 大 王; Hoàng Tử Câu Mang Đại Vương 皇 子 勾 茫 大 王; và sự tích Cao Lỗ 皋 魯 (Đại Than Đô Lỗ Thạch Thần Đại Vương 大灘 都 魯 石 神 大 王) thời An Dương Vương.
3. Thôn Hạ
 下 , xã Trang Nghiêm: 56 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Trần: Trần Minh Phúc 陳 明 福 (Minh Phúc Đại Vương 明 福 大 王); Trần Hải 陳 海 (Minh Hải Đại Vương 明 海 大 王); 2 vị thần triều Đinh: Đinh Nga 丁 峨(Nga Sơn Hiển Linh Đại Vương 峨 山 顯 應 大 王); Phạm Hạp 范 盍 (Linh Ứng Đại Vương 靈 應 大 王).
4. Xã Vân Cát
 雲 葛: 66 tr., về sự tích Liễu Hạnh Công Chúa 柳 杏 公 主.
* Có bài văn chầu thần soạn bằng văn Nôm.

Phạm Kha (triều Lý)
5774/ 736. NAM ĐỊNH TỈNH VỤ BẢN HUYỆN PHÚ LÃO TỔNG CÁC XÃ THÔN THẦN TÍCH 南 定 省 務 本 縣 富 老 總 各 社村 神 蹟- 1 bản viết, 146 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A15/31Thần tích 5 thôn, 1 xã thuộc tổng Phú Lão, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
1. Thôn Thọ Trường
 壽 長: 40 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Bạch Mã Linh Lang Đại Vương 白 馬 靈 郎 大 王 triều Hùng; và sự tích 2 vị thần triều Thục: Cao Đê Đại Vương 。 。 大 王, Đãi Chân Đại Vương 待 。 大 王.
2. Thôn Kênh Đào
 涇 陶: 24., gồm sự tích 2 vị thần triều Đinh: Lê Khai 黎 開 (Khai Thiên Đại Vương 開 天 大 王); Quế Hoa Công Chúa 桂 花 公 主.3. Xã Đống Lương 棟 樑: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Nguyễn Trấn 阮 鎮 (Đô Thống Trấn Quốc Đại Vương 都 統 鎮 國 大 王).
4. Thôn Phong Cốc
 豐 穀: 16 tr., gồm sự tích: Phạm Kha 范 哿 (Anh Kha Ngoại Lang... Đại Vương 英 哿 外 郎... 大 王) triều Đinh, do Nguyễn Bính soạn năm 1572; Lương Báo 梁 報 (Uy Linh Hiển Ứng Thần 威 靈 顯 應 神 ) triều Lý.
5. Thôn Hạ Xá
 下 舍: 30 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Lã Nam Đế 呂 南 帝 và 2 vị thần triều Trần: Đô Thống Ứng Quốc... Đại Vương 都 統 應 國... 大 王, Thượng Vị Cao Quý... Đại Vương 尚 位 高 貴... 大 王.
6. Thôn Liên Xương
 蓮 昌: 22 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 3 vị thần núi Tản Viên triều Hùng: Nguyễn Tùng 阮 松 (Tản Viên Sơn Thánh 傘 圓 山 聖 ); Nguyễn Hiển 阮 顯 (Cao Sơn Đại Vương 高 山大 王); Nguyễn Sùng 阮 崇 (Quý Minh Đại Vương 貴 明 大 王).

Phạm Khang, Phạm Nguyên (triều Tiền Lý)

5754/ 716. NAM ĐỊNH TỈNH MỸ LỘC HUYỆN CAO ĐÀI TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 南 定 省 美 祿 縣 高 臺 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 32 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A15/10Thần tích 1 thôn, 2 xã thuộc tổng Cao Đài, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
1. Xã An Cổ
 安 古: 14 tr., gồm thần tích 2 anh em họ Phạm đời Lý: Phạm Nguyên 范 元 (Cao Thiên Đại Vương 高 天 大 王), Phạm Khang 范 康 (Câu Mang Đại Vương 勾 芒 大 王).
2. Thôn Diên
 延 , xã Lương Xá 良 舍: 4 tr., về sự tích Quý Minh Đông Hải Đại Vương 貴 明 東 海 大 王 triều Hùng.
3. Xã Vạn Đồn
 萬 屯: 12 tr., gồm sự tích 2 vị Đại Vương triều Lý: Nguyễn Trung 阮 忠 (Nội Tấu Đại Vương 內 奏 大 王), Nguyễn Thành 阮 誠 (Ngoại Tấu Đại Vương 外 奏 大 王).

5749/ 711. NAM ĐỊNH TỈNH HẢI HẬU NINH NHẤT TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 南 定 省 海 後 縣 寧 一 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 118 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A15/6Thần tích 1 trại, 3 ấp, 2 xóm thuộc tổng Ninh Nhất, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
1. Ấp An Lễ
 安 禮: 26 tr., gồm sự tích Hoàng tử Minh Lang 皇 子 明 郎 (Minh Lang Uy Linh Đại Vương Thượng Đẳng Tôn Thần 明 郎 威 靈 大 王 上 等 尊 神 ) triều Hùng; Hoàng Tử Linh Lang 皇 子 靈 郎 (Linh Lang Đại Vương 靈 郎 大 王) triều Lý.
2. Ấp An Nghiệp
 安 業: 18 tr., do Nguyễn Hiền viết năm 1740, gồm sự tích 4 vị Đại Vương nhà họ Cao triều Hùng: Cao Mang Đại Vương 高 茫 大 王; Minh Giang Đại Vương 明 江 大 王; Minh Khê Đại Vương 明 溪 大 王; Minh Cục Đại Vương 明 局 大 王.
3. Xóm An Nhân
 安 仁: 28 tr., do Nguyễn Hiền viết năm 1740, gồm sự tích 4 vị Đại Vương nhà họ Cao và 4 vị thủy thần, 1 vị sơn thần triều Hùng: Cao Mang Đại Vương 高 茫 大 王; Minh Giang Đại Vương 明 江 大 王, Minh Khê Đại Vương 明 溪 大 王, Minh Cục Đại Vương 明 局 大 王; Thủy Hải Ô Long Đại Vương 水 海 烏 龍 大 王; Chiêu Huy Linh Ứng Đại Vương 昭 徽 靈 應 大 王.
4. Ấp An Phong
 安 豐: 20 tr., gồm sự tích Nguyễn Tuấn 阮 俊 (Quý Minh Đông Hải Đại Vương 貴 明 東 海 大 王) triều Hùng; Nguyễn Trung 阮 忠 (Nội Tấu Đại Vương 內 奏 大 王) triều Lý; Nguyễn Thành 阮 誠 (Ngoại Tấu Đại Vương 外 奏 大 王) triều Lý; Lê Ngọc Tảo 黎 玉 藻 (Lương Quốc Quốc Trưởng Công Chúa Lê Thị Ngọc Tảo Phúc Thần 梁 國 國 長 公 主 黎 氏 玉 藻 福 神 ).
5. Xóm An Trạch
 安 宅: 20 tr., gồm sự tích Triệu Quang Phục 趙 光 復 (Triệu Việt Vương Hoàng Đế 趙 越 王 皇 帝), và sự tích 2 anh em họ Phạm, do Nguyễn Bính soạn năm 1572: Phạm Nguyên 范 元 (Cao Thiên Đại Vương 高 天 大 王); Phạm Khang 范 康 (Câu Mang Đại Vương 勾 芒 大 王); Dầm Đề Đại Vương 霪 。 大 王.
6. Trại An Lạc
 安 樂: 4 tr., về sự tích Lê Lai Đại Vương 黎 萊 大 王 triều Lê.


Phạm Lân (triều Lê)

5832/ 794. NINH BÌNH TỈNH YÊN MÔ HUYỆN QUẢNG PHÚC TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 寧 平 省 安 謨 縣 廣 福 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 110 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A4/37Thần tích 1 giáp, 2 thôn, 2 xã thuộc tổng Quảng Phúc, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
1. Thôn Yên Thái
 安 泰 , xã Quảng Phúc 廣 福: 14 tr., gồm sự tích 3 vị thần triều Hùng: Anh Vũ Uy Linh Ngọ Vương 英 武 威 靈 午 王; Hiển Ứng Hộ Dân Ngọ Vương 顯 應 護 民 午 王; Phu Cảm Phổ Hóa Ngọ Vương 孚 感 普 化 午 王 , và Phạm Lân 范 麟triều Lê, Lê Khắc Nghệ Hài 黎 克 詣 諧 triều Lê.
2. Giáp Vân Mộng
 雲 夢 , xã Quảng Phúc: 2 tr., về sự tích Nguyễn Phục 阮 復 triều Lê.
3. Thôn Phúc Lại
 福 賴 , xã Quảng Phúc: 16 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Thượng Đẳng Tối Linh Đệ Nhất Triệu Đại Hiển Hựu Hoàng Đế 上 等 最 靈 第 一 趙 代 顯 佑 皇 帝.
4. Xã Khương Dụ
 羌 裕: 72 tr., về sự tích Triệu Quang Phục 趙 光 復 (Triệu Vương Hoàng Đế 趙 王 皇 帝); Liễu Hạnh Công Chúa 柳 杏 公 主; Duy Tiên Công Chúa 維 仙 公 主; Quế Hoa Công Chúa 桂 花 公 主; Thượng Ngạn Lê Mại Đại Vương 上 岸 黎 邁 大 王; Đinh Dung Công Chúa 釘 容 公 主; Xuân Tông Công Chúa 春 宗 公 主; Trưởng Minh Ngọ Đại Vương 長 明 午 大 王; Thứ Minh Ngọ Công Chúa 次 明 午 公 主; Quý Minh Ngọ Đại Vương 貴 明 午大 王; Huệ Nương Công Chúa 惠 娘 公 主; Tĩnh Nương Công Chúa 靜 娘 公 主; Tân Nương Công Chúa 嬪 娘 公 主.5. Xã Cổ Đà 古 陀: 4 tr., gồm sự tích Lôi Công Tôn Thần 檑 公 尊 神 (Lâm Lịch Linh Ứng... Đại Vương 林 靂 靈 應... 大 王); Nguyễn Phục 阮 復 (Phổ Thiên Đông Hải Thanh Đế Tôn Thần 普 天 東 海 青 帝 尊 神); Mỹ Liễu Công Chúa 美 柳 公 主 (Hiển Thần Hựu Bảo Dân... Đại Vương 顯 神 佑 保 民... 大 王).

Phạm Lang Công (Thời Hùng vương)
5494/ 456. BẮC NINH TỈNH TỪ SƠN PHỦ ĐÔNG NGÀN HUYỆN HỘI PHỤ TỔNG CÁC XÃ THÔN THẦN TÍCH 北 寧 省 慈 山 府 東 岸 縣 會 阜 總 各 社刌 神 蹟- 1 bản viết, 72 tr., 31 x 21, chữ Hán.AE.A7/3Thần tích 4 thôn thuộc 2 xã, tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh.
1. Thôn Thị
 市 , xã Danh Lâm 名 林: 16 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Kỳ Công 奇 公 (Đào Tướng Quân... Đại Vương 陶 將 軍... 大 王) và Phương Nương 芳 娘 (Phương Dung Công Chúa 芳 蓉 公 主 ) thời Trưng Nữ Vương.
2. Thôn Long Tửu
 龍 酒 , xã Đông Ngạn 東 岸: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Khang Công 康 公 (Bảo Khang Đại Vương 保 康 大 王 ); Trần Khiết Công 陳 潔 公 (Minh Khiết Đại Vương 明 潔 大 王 ) và Phạm Lang Công 范 郎 公(Quốc Lang Đại Vương 國 郎 大 王 ) thời Hùng Huy Vương.
3. Giáp Thượng
 上 , thôn Bắc Cầu 北 梂 , xã Đông Ngạn 東 岸: 18 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Minh Công明 公 (Minh Tự Đại Vương 明 字 大 王 ) thời Hùng Duệ Vương, được Nga Hoàng Công Chúa 娥 皇 公 主 âm phù đánh giặc Thục.
4. Giáp Hạ
 下 , thôn Bắc Cầu 北 梂 , xã Đông Ngạn 東 岸: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Bảo Công 保 公(Đương Cảnh Thành Hoàng Bảo Trung... Đại Vương 當 境 城 隍 保 忠... 大 王), Mỹ Công 美 公 (Đương Cảnh Thành Hoàng Minh Khiết... Đại Vương 當 境 城 隍 明 潔... 大 王) và Phương Nương 芳 娘 (Ý Hạnh Phu Nhân Tôn Công Chúa 懿 行 夫 人 孫 公 主 ) thời Lý Nam Đế từng âm phù Lê Đại Hành đánh quân Tống.


Phạm Thọ Khảo (triều Lê), Phạm Minh
5639/ 601. HẢI DƯƠNG TỈNH TỨ KỲ HUYỆN CÁC TỔNG XÃ THÔN THẦN TÍCH 海 陽 省 四 岐 縣 各 總 社 村 神 蹟
- 1 bản viết, 176 tr., 31 x 21, chữ Hán. AE.A6/25Thần tích 3 thôn, 10 xã thuộc 4 tổng, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
* Tổng Mặc Xá
 墨 舍:1. Thôn Thượng 上 , xã Vạn Tải 萬 載: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Xuân Công 椿 公 (Bản Phủ Thành Hoàng... Đại Vương 本 府 城 隍... 大 王) thời Lê Tương Dực.
2. Thôn Trúc Văn
 竹 文 , xã Vạn Tải 萬 載: 16 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Cao Sơn 高 山 (Bản Cảnh Thành Hoàng... Đại Vương 本 境 城 隍... 大 王) và Quí Minh 貴 明 (Đương Cảnh Thành Hoàng... Đại Vương 當 境 城 隍... 大 王) thời Hùng Duệ Vương.
* Tổng Ngọc Lâm
 玉 林:1. Xã Nghi Khê 沂 溪: 10 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Phúc Công 福 公 (Hộ Phúc Uy Đức Linh Ứng Đại Vương 護 福 威 德 靈 應 大 王) thời Lê Đại Hành.
2. Xã Ngọc Lâm
 玉 林: 16 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Cao Sơn 高 山 (Cao Sơn Linh Không Đại Vương高 山 靈 空 大 王) thời Hùng Duệ Vương.
3. Thôn Đồng Bình
 同 平 , xã La Xá 羅 舍: 26 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Bản Cảnh Thành Hoàng Chàng Nữu Nhị Đại Vương 本 境 城 隍 撞 杻 。 大 王, âm phù Lê Đại Hành đánh giặc; sự tích Linh Am 靈 庵 (Linh Am Hiển Ứng Đại Vương 靈 庵 顯 應 大 王), âm phù Lý Nhân Tông đánh Chiêm Thành; và sự tích Phạm Thọ Khảo 范 壽 考 , đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi, niên hiệu Sùng Khang 6 (1571).
4. Xã La Xá
 羅 舍: 22 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Thành Hoàng Đôn Ngưng Chi Thần 城 隍 敦 凝 之 神, phù giúp Trưng Nữ Vương đánh Tô Định; và sự tích Phạm Minh 范 明.5. Xã Quảng Bí廣 秘: 10 tr., do Lê Tung soạn năm 1470, về sự tích Nguyễn Huân 阮 勛 (Nguyễn Huân Hiển Ứng Anh Linh Đại Vương 阮 勛 顯 應 英 靈 大 王) và Nguyễn Kính 阮 敬 (Nguyễn Kính Hiển Hựu Anh Linh Đại Vương 阮 敬 顯 佑 英 靈 大 王) thời Lê Thánh Tông.
* Tổng Phan Xá
 潘 舍 1. Xã Thiết Tái 鐵 塞: 8 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Quang Công 光 公 (Hoàng Thái Tử... Đại Vương 皇 太 子... 大 王), 1 trong 8 Hoàng tử của Lý Thánh Tông.
2. Xã Bình Lãng
 平 朗 , và xã Thái Lãng 泰 朗: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Cung Công 恭 公 (Hướng Thiện Cư Sĩ Đại Vương 向 善 居 士 大 王), Hoằng Công 弘 公 (Thiên Bồng... Đại Vương 天 蓬... 大 王), và Quảng Công 廣 公(Cương Nghị... Đại Vương 剛 毅... 大 王) thời Lý Nam Đế.
3. Thôn Đông Xá
東 車 , xã Lũy Dương 纍 陽: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Triệu Nương 趙 娘 (Chi Dung Trinh Thục Hoàng Thái Hậu Công Chúa 芝 蓉 貞 淑 皇 太 后 公 主 ), âm phù Trần Nhân Tông đánh quân Nguyên.
* Tổng Mỹ Xá
 美 舍:1. Xã Liêu Xá 寥 舍: 8 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Quảng Công 廣 公 (Thân Hưu Tích Khánh... Đại Vương 親 休 積 慶 公 主 ) thời Trần Thái Tông, được Khổng Lộ Thiền Sư 孔 路 禪 師 trụ trì chùa bản xã ban pháp thuật, đánh giặc Ai Lao (?)
2. Xã Ngọc Lặc
 玉 勒: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Xích Công 赤 公 (Đức Uy... Đại Vương 德 威... 大 王) và Mỹ Công 美 公 (Diệu Vũ... Đại Vương 妙 武... 大 王) thời Lê Thái Tổ.
3. Xã Lạc Dục
 樂 育: 10 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Vũ Thị Đức 武 氏 德 (Dục Đức Thánh Nương Công Chúa 毓 德 聖 娘 公 主 ) phò giúp Lê Thái Tổ đánh quân Minh.



Phạm Nghi (triều Lê)
5673/ 635. HƯNG YÊN TỈNH KHOÁI CHÂU PHỦ ĐÔNG AN HUYỆN CÁC XÃ THẦN TÍCH 興 安 省 快 卅 府 東 安 縣 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 356 tr., 29.5 x 21, chữ Hán.AE.3/4Thần tích 1 thôn, 18 xã thuộc huyện Đông An, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
1. Xã Mễ Sở
 米 所: 10 tr., về sự tích Lý Phục Man 李 服 蠻 triều Lý.
2. Xã Phù Sa
 浮 沙: 14 tr., về sự tích Đức Vua Lý Cửa Cống... Trung Đẳng Thần 德 。 。 。 。 中 等 神.3. Xã Phương Trù 芳 幬: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm 3 vị thần triều Hùng: Chử Công Đồng Tử Chí Thánh... Thượng Đẳng Thần 褚 公 童 子 至 聖... 上 等 神; Tiên Dung Công Chúa Thiên Tiên... Thượng Đẳng Thần 仙 容 公 主 天 仙... 上 等 神; Nội Trạch Tây Cung Tiên Nữ... Thượng Đẳng Thần 內 澤 西 宮 仙 女... 上 等 神.4. Xã Ninh Tập 寧 習: 22 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 7 anh em họ Đinh triều Hùng: Linh Lang Lương Vương 。 。 梁 王; Linh Lang Hải Vương 。 。 海 王; Linh Lang Lung Vương 。 。 瀧 王; Linh Lang Lôi Vương 。 。 。 王;Sơn Vương 山 王; Nhạc Vương 岳 王; Lĩnh Vương 嶺 王.6. Xã Sài Thị 柴 市: 26 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Hùng: Thánh Thông Linh Ứng Đại Vương 聖 聰 靈 應 大 王; Hiển Minh Cảm Ứng Đại Vương 顯 明 感 應 大 王.
7. Xã Đồng Lý
 童 里: 32 tr., gồm sự tích 5 vị Đại Vương triều Hùng, do Nguyễn Bính soạn năm 1572: Minh Lang Trợ Quốc... Đại Vương 明 郎 助 國... 大 王; Sát Hải Phù Quốc... Đại Vương 察 海 浮 國... 大 王; Nàng Ả Quế Hoa... Phu Nhân 娘 婀 桂 花... 夫 人; Nàng Hai Quỳnh Hoa... Phu Nhân 娘 。 瓊 花... 夫 人; Nàng Ba Mai Hoa... Phu Nhân 娘 。 梅 花... 夫 人; và Sĩ Nhiếp 士 燮 (Lỗ Quốc Đại Vương 魯 國 大 王).
8. Xã Mai Xá
 梅 舍: 24 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 5 vị thần triều Hùng: Trung Thành Đại Vương 忠 誠 大 王; Cao Mang Đại Vương 高 茫 大 王; Đổng Vĩnh Đại Vương 董 永 大 王; Mộc Phàm Đại Vương 木 凡 大 王; Trấn Lại Đại Vương 鎮 賴 大 王.
9. Xã Hoàng Xá
 黃 舍: 18 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 4 vị thần triều Trần: Liễu Sĩ 柳 仕 (Trấn Quốc Linh Thụy... Đại Vương 鎮 國 靈 瑞... 大 王); Liễu Chính 柳 政 (Thụy Tường Thông Minh... Đại Vương 瑞 祥 聰 明... 大 王); Liễu An 柳 安 (Nguyên Soái Nghiêm Túc... Đại Vương元 帥 嚴 肅... 大 王); Liễu Huệ 柳 惠 (Khánh Hựu Dụ Dân... Đại Vương 慶 佑 裕 民... 大 王).
10. Xã Phó Nham
 傅 岩: 8 tr., về sự tích Thiên Phụ Truyền Thánh Thiên Quan Lỗ Vương Tối Linh Đại Vương 天 輔 傳 聖 天 官 魯 王 大 王.
11. Xã Đào Viên
 桃 園: 42 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Lý: Ngũ Nhạc Đại Vương 五 岳 大 王, Nàng Mây Công Chúa 娘 。 公 主; 1 vị thần triều Hùng: Hồng Tế Thảng Sĩ Linh Lang Đại Vương 紅 濟 淌 。 。 。 大 王; 1 vị thần triều Đinh: Đệ Nhị Cung Phi Nhĩ Nương 第 二 宮 妃 你 娘 (Hoàng Hậu Cung Tề Tống Phu Nhân 皇 后 宮 齊 宋 夫 人 ).
12. Xã Yên Viên
 安 員: 22 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, (văn bản viết nhầm là Nguyễn Hiền), gồm sự tích 2 vị thần triều Trưng Vương: Chính Trực Linh Ứng Đại Vương 正 直 靈 應 大 王; Đức Minh Hiển Hựu Đại Vương 德 明 顯 佑 大 王.
13. Xã Bằng Hồ
 憑 湖: 14 tr., do Nguyễn Hiền kiểm chứng năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Kinh Dương Vương: Bảo An Chính Trực... Trung Đẳng Thần 保 安 正 直... 中 等 神; Thủy Tộc Bình Điềm... Trung Đẳng Thần 水 族 平 恬... 中 等 神;Trừng Trạm Uông Nhuận... Trung Đẳng Thần 澄 湛 汪 潤... 中 等 神; và sự tích Pháp Vũ Đại Thánh 法 雨 大 聖 , sao năm 1781.
14. Xã Lưu Xá
 留 舍: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 4 vị thần triều Trần: Minh Chương Quốc Chức Đại Vương 明 章 國 職 大 王; Hiền Ân Kiệt Nghĩa Đại Vương 賢 恩 傑 義 大 王; Linh Ứng Hiển Kiến Đại Vương 靈 應 顯 見 大 王; Đệ Thất Thanh Uy Anh Nga Công Chúa 第 七 青 威 英 娥 公 主.15. Thôn Lan Đình 蘭 亭 , xã Quan Xuyên 官 川: 30 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 2 vị thần triều Lê: Phạm Nghi 范 儀 (Linh Ứng Đại Vương 靈 應 大 王); Vũ Chiếu 雨 詔 (Quản Chiếu Đại Vương 管 詔 大 王).
16. Xã Trung Châu
 中 州: 6 tr., về sự tích vị thần họ Nguyễn (không rõ tên, con của Nguyễn Nê ) thời 12 sứ quân.
17. Xã Mạn Xuyên
 慢 川: 6 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Nguyễn Minh 阮 明 (Chiêm Thành Cửa Ải Đại Vương 占 城 。 隘 大 王).
18. Xã Cốc Phong
 穀 豐: 6 tr., về sự tích Diệu Hương Công Chúa 妙 香 公 主 triều Lý.
19. Xã Mạn Trù
 慢 幬: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Trung Tông Hoàng Đế 中 宗 皇 帝, con trai thứ 3 của vua Lê Đại Hành.

Phạm Nghiêm (triều Lý)
5704/ 666. HƯNG YÊN TỈNH YÊN MỸ HUYỆN LIÊU XÁ TỔNG LIÊU XÁ XÃ VĂN XÁ, VŨ XÁ NHỊ THÔN THẦN TÍCH 興 安 省 安 美 縣 遼 舍 總 遼 舍 社 文 舍 武 舍 二 村 神 蹟- 1 bản viết, 18 tr., 29.5 x 21, chữ Hán.AE.A3/37Thần tích thôn Văn Xá và thôn Vũ Xá thuộc xã Liêu Xá, tổng Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, sao năm 1859, về sự tích Phạm Nghiêm 范 嚴 (Sùng Khánh Đại Vương 崇 慶 大 王) triều Lý.

Phạm Ngọc Trân
5160/ 122. HÀ ĐÔNG TỈNH TỪ LIÊM HUYỆN PHƯƠNG CANH TỔNG CÁC XÃ THÔN THẦN SẮC 河 東 省 慈 廉 縣 芳 粳 總 各 社 村 神 敕- 1 bản viết, 156 tr., 32 x 22.5, chữ Hán.AD. A2/47Thần sắc 3 thôn và 2 xã thuộc tổng Phương Canh, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông.
1. Thôn Hòe Thị 
槐 市, xã Phương Canh 芳 粳: 64 tr., phong cấp vào các năm Vĩnh Thịnh (3 đạo), Quang Trung (3 đạo), Cảnh Thịnh (3 đạo).* Phong cho Cổ Mục Phán Quan Tây Nhạc Đại Vương 古 目 判 官 西 岳 大 王; Trinh Thuận... Công Chúa 貞 順...公 主; Gia Hạnh... Công Chúa 家 行...公 主.2. Xã Phú Mỹ 富 美: 22 tr., phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (6 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo).* Phong cho Diêm La Đại Vương 閻 羅 大 王; ả Lã Nàng Đê 婀 呂 娘 低; Phương Dung Hoàng Thái Hậu 芳 容 皇 太 后; Sắc cho Nguyễn Quang Minh 阮 光 明 làm chức Tham nghị và chức Thái bộc tự khanh.3. Thôn Ngọc Mạch 玉 陌 , xã Phương Canh: 24 tr., phong cấp vào các năm Dương Đức (1 đạo), Chính Hòa (1 đạo), Thịnh Đức (1 đạo), Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (4 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo).* Phong cho Lã Nam Đế 呂 南 帝; Phương Dung Hoàng Hậu 芳 容 皇 后 và Phạm Ngọc Trân Công Chúa 范玉 珍 公 主. Sắc cho Đô Đốc Thái Bảo Lãng Trung Hầu 朗 忠 候 và Thượng Trụ Quốc Nguyễn Danh Thưởng 阮 名 賞 làm chức Thái phó; cho Lãng Trung Hầu húy là Đôn Mẫn làm chức Thượng trụ quốc thượng trật.4. Thôn Thị Cấm 侍 禁, xã Phương Canh: 30 tr., phong cấp vào các năm Vĩnh Thịnh (2 đạo), Vĩnh Khánh (3 đạo), Cảnh Hưng (4 đạo), Chiêu Thống (2 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (2 đạo).* Phong cho Tây Nhạc Đại Vương 西 岳 大 王; Hoàng Hậu Gia Hạnh... Công chúa 皇 后 家 行 公 主; Tả Phi Trinh Thuận... Công Chúa 左 妃 貞 順 公 主.5. Xã Miêu Nha:苗 芽 14 tr., phong cấp vào các năm Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (3 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo).* Phong cho Thông Linh... Đại Vương 通 靈...大 王.

Phạm Minh (Thời An Dương Vương), Phạm Nhu
5554/ 516. HÀ ĐÔNG TỈNH SƠN LÃNG HUYỆN THÁI BÌNH TỔNG ĐINH XUYÊN XÃ THẦN TÍCH 河 東 省 富 川 縣 太 平 總 丁 川 社 神 蹟- 1 bản viết, 22 tr., 29.5 x 21, chữ Hán.AE.A2/55Thần tích xã Đinh Xuyên thuộc tổng Thái Bình, huyện Sơn Lãng, tỉnh Hà Đông, do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích 3 vị thần: Nguyễn Quang 阮 光 (Hoằng Tế Thông Cảm Đại Vương 弘 濟 通 感 大 王) triều Hùng, Phạm Thông 范 通(Thông Thánh Minh Đạt... Đại Vương 通 聖 明 達... 大 王) triều Thục và Phạm Nhu 范 柔 (Nhu Thánh An Định... Đại Vương 柔 聖 安 定... 大 王). Có sự tích Quế Hoa Công Chúa 桂 花 公 主 triều Hồ, do Nguyễn Hiền viết năm 1737.

Phạm Phúc, Phạm Sùng (có thể còn là Phạm cư sĩ, thời Lý)

5593/ 555. HÀ NAM TỈNH DUY TIÊN HUYỆN TIÊN XÁ TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 河 南 省 維 先 縣先 舍 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 84 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A13/13Thần tích 3 thôn, 2 xã thuộc tổng Tiên Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
1. Xã Ngô Xá
 吳 舍: 19 tr., soạn năm 1572, về sự tích Không Vị Đại Vương 空 位 大 王; Không Hoàng Đại Vương 空 隍 大 王, triều Trần.
2. Xã Đồng Bào
 同 胞: 12 tr., gồm sự tích Linh Lang Vương 靈 郎 王 , triều Lý; và sự tích Linh Lang Vương 靈 郎 王 , triều Trần.
3. Thôn Trung
 中 , xã Tiên Xá 先 舍: 14 tr., về sự tích Sùng Công 崇 公 (Phạm Tiên Sinh Đông Hải Đại Vương 范 先 生 東 海 大 王), triều Lý.
4. Thôn Xa Lao
 車 牢 , xã Tiên Xá 先 舍: 32 tr., về sự tích Phạm Phúc 范 福 (Trấn Quốc Đại Vương 鎮 國 大 王).
5. Thôn Đoài
 兌 , xã Tiên Xá 先 舍: 5 tr., về sự tích Đoàn Thượng 段 尚 (Đoàn Tướng Quân 段 將 軍 ).

Phạm Tử Nghi (Phạm Thành) - (triều Mạc)
Phạm quý nha phụ quốc thượng tể đại tướng quân đại


5720/ 682. KIẾN AN TỈNH AN DƯƠNG HUYỆN KIỀU YÊU TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 建 安 省 安 陽 縣 嬌 夭 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 67 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A12/3Thần tích 1 thôn 3 xã, thuộc tổng Kiều Yêu, huyện An Dương, tỉnh Kiến An.
1. xã Tri Yếu
 知 要: 19 tr., do Nguyễn Hiền sao lại năm Vĩnh Hựu 2 (1736); gồm sự tích Cao Sơn Đại Vương 高 山 大 王, Quý Minh Đại Vương 貴 明 大 王 và Chàng Rồng Đại Vương 。 。 大 王 triều Trưng Vương.
2. Thôn Văn Xá
 文 舍 , xã Kiều Yêu Thượng: 9 tr., về sự tích Phạm Thành 范 誠 (Nam Hải Đông Nguyên Soái 南 海 東 元 帥 ).
3. Xã Kiều Yêu Đông
 嬌 夭 東: 16 tr., do Nguyễn Bính soạn, sao lại năm Vĩnh Hựu 2 (1736); về sự tích Thản Công 坦 公 (Uy Mẫn Công 威 敏 公 , Thổ Địa Linh Ứng Đại Vương 土 地 靈 應 大 王) triều Trần.
4. Xã Kiều Yêu Hạ
 嬌 夭 下: 21 tr., do Nguyễn Bính soạn, sao lại năm Vĩnh Hựu 2 (1736); gồm sự tích Nguyễn Sùng 阮 崇 hiệu Cao Sơn 高 山 (Cao Sơn Đại Vương Thượng Đẳng Thần 高 山 大 王上 等 神 ); Quý Minh Đại Vương 貴 明 大 王; Hoàng Triều 皇 朝 (Hoàng Triều Tôn Thần 皇 朝 尊 神); Hoàng Bá 皇 伯 (Hoàng Bá Tôn Thần 皇 伯 尊 神) triều Trưng Vương.

5721/ 683. KIẾN AN TỈNH AN DƯƠNG HUYỆN VĂN CÚ TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 建 安 省 安 陽 縣 文 句 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 91 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A12/5Thần tích 5 xã, thuộc tổng Văn Cú, huyện An Dương tỉnh Kiến An.
1. Xã Kiến Phong
 建 封: 30 tr., Nguyễn Bính soạn, sao lại vào năm 1736; gồm sự tích Phạm Thành 范 誠 tự Tử Nghi 子 儀(Nam Hải Đại Vương 南 海 大 王); Uy Linh Sơn Thần 威 靈 山 神 (Uy Linh Thông Cảm Đại Vương 威 靈 通 感 大 王); và Bến Diệc Thủy Thần 。 。 水 神 (Bến Diệc Hiển Ứng Đại Thần 。 。 顯 應 大 神 ) triều Trần.-------------------* Có bài văn bia nói về việc hưng công xây dựng đình, do Phạm Quy Khanh 范規 卿 soạn năm Tự Đức 14 (1861); và bài văn nói về việc các tiên công dòng họ Nguyễn chiêu tập dân thôn, chỉnh đốn dân phong do Nguyễn Văn Đảo 阮 文 禱 soạn năm Tự Đức 6 (1853).
4. Xã Văn Tràng (Trường)
 文 場: 19 tr., sao lại vào năm Vĩnh Hựu 2 (1736); gồm sự tích Nuôi Lanh Ngự Tấu Hộ Quốc Diễn Khánh... Khai Bình Đại Vương 。 。 禦 奏 護 國 衍 慶... 開 平 大 王; Vua Bà Quý Minh Thụy Trinh Khiết Phu Nhân 。 婆 貴 明 瑞 貞 潔 夫 人 và Quỳnh Phương Công Chúa 瓊 芳 公 主 triều Lý.


5723/ 685. KIẾN AN TỈNH AN LÃO HUYỆN PHƯƠNG CHỬ TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 建安省安老縣芳渚總各社神蹟- 1 bản viết, 21 tr., 31,5 x 21.5, chữ Hán.AE. a12/7Thần tích 2 xã thuộc tổng Phương Chử, huyện An Lão, tỉnh Kiến An.
1. Xã Đồng Xuân 
同春: 9 tr., về sự tích Phạm Thành (Nam Hải... linh ứng đại vương 南海...靈應大王).
2. Xã Ngọc Chử : 10tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Bùi Thành 
裴誠, tự Mộng Hoa 夢花(Bùi tướng công thần tiên 裴相公神僊)

5736/ 698. KIẾN AN TỈNH TIÊN LÃNG HUYỆN DIÊN LÃO TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 建 安 省 先 郎 縣 延 老 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 45 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A12/15Thần tích 4 xã, thuộc tổng Diên Lão, huyện Tiên Lãng, tỉnh Kiến An.
1. Xã Tự Tiên
 自 先: 9 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Chiêu Nương 昭 娘 (Chiêu Hiến Trang Thục Công Chúa 昭 憲 莊 淑 公 主 ); Chân Công 真 公 (Lý Vực Chân Quan Đại Vương 里 域 真 官 大 王) triều Lý.
2. Xã Khánh Lai
 慶 來: 11 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Hùng Công 雄 公 (Sung Sơn Hùng Uy Khai Trấn... Đại Vương 充 山 雄 威 開 鎮... 大 王) triều Lý.
3. Xã Tiên Lãng
 先 朗: 6 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Phạm Quý Nha Phụ Quốc Thượng Tể Đại Tướng Quân Đại Vương 范 貴 衙 輔 國 上 宰 大 將 軍 大 王, Noa Kỳ 捼 奇 (Noa Kỳ Bản Lộ Đông Hải Đại Tướng Quân Đại Vương 捼 奇 本 路東 海 大 將 軍 大 王); Huy Nương 徽 娘 (Huy Thân Trinh Thục Công Chúa 徽 親 貞 淑 公 主 ); Ả Nương Viên 婀 娘 猿(Thượng Công Chúa Ả Nương Viên Công Chúa 上 公 主婀 娘 猿 公 主 ) triều Lý.
4. Xã Đông Ninh
 東 寧: 17 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Thành Công 誠 公 (Noa Kỳ Bản Lộ Thượng Tướng Quân Đại Vương 捼 奇 本 路 上 將 軍 大 王); Đoan Nương 端 娘 (Đoan Nương Công Chúa 端 娘 大 王) triều Trần; và sự tích Huy Thân Trinh Thục Công Chúa 徽親 貞 淑 公 主 triều Lý.

5762/ 724. NAM ĐỊNH TỈNH TRỰC NINH HUYỆN DUYÊN HƯNG TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 南 定 省 直 寧 縣 延 興 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 62 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A15/19Thần tích 1 trang, 3 xã thuộc tổng Duyên Hưng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
1. Xã Duyên Bình
 沿 平: 14 tr., gồm sự tích Phạm Thành 范 誠 (Tứ Dương Hầu 泗 陽 侯 ) triều Lê; 4 vị Thánh Nương là Hoàng Hậu, Công Chúa nước Tống.
2. Xã Quỹ Đê
 揆 堤: 20 tr., do Nguyễn Hiền viết năm 1736, gồm sự tích 2 vị thần đời Triệu: Nguyễn Phúc 阮 福 (Hiếu Túc Anh Nghị Đại Vương 孝 肅 英 毅 大 王); Nguyễn Lộc 阮 祿 (Vĩ Tích Hồng Hy Đại Vương 偉 績 洪 熙 大 王).
3. Xã Liễu Đê
 柳 堤: 16 tr., do Nguyễn Hiền viết năm 1736, về sự tích Triệu Quang Phục 趙 光 復 (Triệu Việt Vương Hoàng Đế趙 越 王 皇 帝).
4. Trang Duyên Hưng
 延 興: 10 tr., Nguyễn Hiền sao năm 1736, về sự tích Thục Phán 蜀 泮 (Nam Hải Đại Vương 南 海 大 王).

5791/ 753. NGHỆ AN TỈNH NGHI LỘC HUYỆN ĐẶNG XÁ TỔNG CÁC XÃ THÔN THẦN TÍCH 乂 安 省 興 元 府 鄧 舍 總 各 社村 神 蹟- 1 bản viết, 13 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.B1/2Thần tích 2 thôn, 1 xã thuộc tổng Đặng Xá, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
1. Thôn Chính Vĩ
 政 偉 , xã Lộc Hải 祿 海: 3 tr., về sự tích Vương Bột 王 勃 , tự Tử An 子 安.2. Xã Lộc Hải 祿 海: 3 tr., về sự tích Phạm Công (Nguyên Soái Thái Bảo Thành Quốc Công Tứ Dương Hầu 元 帥 太 保 成 國 公 泗 陽 侯 ).
3. Thôn Cổ Bái
 古 沛: 5 tr., về sự tích Phạm Công Huy 范 公 徽.* Có bài thơ Nôm và bài tựa.

5814/ 776. NINH BÌNH TỈNH YÊN KHÁNH HUYỆN BỒNG HẢI TỔNG CÁC XÃ THÔN THẦN TÍCH 寧 平 省 安 慶 縣 蓬 海 總 各 社村 神 蹟- 1 bản viết, 48 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A4/23Thần tích 1 thôn, 1 xã thuộc tổng Bồng Hải, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
1. Xã Kiến Ốc
 建 屋: 10 tr., về sự tích Phạm Thành 范 誠 (Tứ Dương Hầu Nam Dương Đông Đạo Nguyên Soái 泗 陽 侯 南 陽 東 道 元 帥 ) triều Mạc.
2. Thôn Tập Phúc
 集 福 , xã Quyết Trung 厥 中: 36 tr., về sự tích Hưng Đạo Đại Vương 興 道 大 王 triều Trần.


5813/ 775. NINH BÌNH TỈNH YÊN KHÁNH HUYỆN BỒNG HẢI TỔNG CÁC THÔN ÁNG THẦN TÍCH 寧 平 省 安 慶 縣 蓬 海 總 各 村 盎 神 蹟- 1 bản viết, 38 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A4/22Thần tích 2 áng, 1 phường, 1 thôn thuộc tổng Bồng Hải, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
1. Áng Lương Phúc
 良 福 , thôn Nhất 一 , giáp Nguyên 原: 24 tr., về sự tích Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương大 乾 國 家 南 海 四 位 聖 娘 (Hoàng Hậu và Công Chúa nhà Tống).
2. Phường Quan Ải
 關 隘: 6 tr., về sự tích Phan Kính 潘 敬 triều Lê.
3. Áng Hải Đức
 海 德: 14 tr., về sự tích Phạm Thành 範 誠 (Phạm Tử Nghi 范 子 儀 , Tứ Dương Hầu 泗 陽 侯 ) triều Mạc.
4. Thôn Phạm
 范 , giáp Nhất 一: 6 tr., soạn năm 1915, về sự tích Phạm Xuân Vi 范 春 為.

5823/ 785. NINH BÌNH TỈNH YÊN KHÁNH PHỦ KIM SƠN HUYỆN TỰ TÂN TỔNG CÁC ẤP TRẠI THẦN TÍCH 寧 平 省 安 慶 金 山 縣 自 新 總 各 邑 寨 神 蹟- 1 bản viết, 46 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A4/20Thần tích 3 ấp, 2 trại thuộc tổng Tự Tân, huyện Kim Sơn, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
1. Ấp Tự Tân
 自 新: 18 tr., gồm sự tích 3 vị thần triều Trưng Vương: Bạch Ngọc Hùng Lược Đại Vương 白 玉 雄 略 大 王; Lương Tú Phán Quan 良 秀 判 官; Nha Tam Nương Công Chúa 鴉 三 娘 公 主.2. Trại Ninh Mật 寧 謐: 8 tr., về sự tích Hoàng Hậu nước Tống cùng 2 Công Chúa chạy nạn sang nước ta.
3. Ấp Lưu Phương
 留 芳: 8 tr., về sự tích Triệu Quang Phục 趙 光 復.4. Trại Mật Như 密 如: 12 tr., về sự tích Phạm Thành 范 誠 (Phạm Tử Nghi 范 子 儀 ) triều Mạc.
5. Ấp Phu Vinh
 敷 榮: 4 tr., về sự tích Đại La Đại Vương 大 羅 大 王 triều Trần.

5822/ 784. NINH BÌNH TỈNH YÊN KHÁNH PHỦ KIM SƠN HUYỆN HƯƠNG ĐẠO TỔNG CÁC LÝ TRẠI ẤP THẦN TÍCH寧 平 省 安 慶 金 山 縣 鄉 道 總 各 里 寨 邑 神 蹟- 1 bản viết, 58 tr., 32 x 22, chữ Hán.AE.A4/19Thần tích 3 ấp, 2 trại, 1 xóm thuộc tổng Hương Đạo, huyện Kim Sơn, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
1. Xóm Hương Đạo
 鄉 道: 4 tr., thờ mẹ con Công Chúa Nam Tống.
2. Trại Lưu Quang
 流 光: 6 tr., về sự tích Đại La Đại Vương 大 羅 大 王 triều Trần.
3. Ấp Thủ Trung
 守 中: 4 tr., về sự tích Chiêu Hải Đại Vương 昭 海 大 王.
4. Ấp Ứng Luật
 應 律: 10 tr., về sự tích Triệu Việt Vương Hoàng Đế 趙 越 王 皇 帝.
5. Trại Trung Quy
 中 規: 12 tr., về sự tích Phạm Thành 范 誠 (Phạm Tử Nghi 范 子 儀 ).
6. Ấp Lạc Thiện
 樂 善: 24 tr., do Nguyễn Tung soạn năm 1510, về sự tích Cao Hiển 高 顯 (Cao Sơn Quốc Chủ Đại Vương 高 山國 主 大 王).
* Có bài ký khắc trên tấm bia ở miếu phường Kim Hoa
 金 花 , xã Đồng Lâm 同 淋 , nói về thần.

5893/ 855. QUẢNG YÊN TỈNH YÊN HƯNG HUYỆN HÀ NAM TỔNG HẢI YẾN XÃ THẦN TÍCH 廣 安 省 安 興 縣 河 南 總 海 晏 社 神 蹟- 1 bản viết, 12 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A19/2Thần tích xã Hải Yến thuộc tổng Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên, sao lại năm Khải Định 5 (1920), về sự tích Phạm Thành 范 誠 tự Tử Nghi 子 儀.

Phạm Thị Minh
5215/ 177. HƯNG YÊN TỈNH VĂN LÂM HUYỆN CÁC XÃ THẦN SẮC 興 安 省 文 林 縣 各 社 神 敕- 1 bản viết, 244 tr., 32 x 22.5, chữ Hán.AD. A3/11Thần sắc 3 thôn và 2 xã thuộc tổng Như Quỳnh 如 瓊 , huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
1. Thôn Ngọc Quỳnh 
玉 瓊, xã Như Quỳnh 如 瓊: 8 tr., phong cấp vào các năm Cảnh Hưng (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo).* Phong cho Hoàng Cảm... Hoàng Thái Hậu 皇 感...皇 太 后.2. Thôn Lê Xá 黎 舍, xã Như Quỳnh: 20 tr., phong cấp vào các năm Bảo Thái (1 đạo), Cảnh Hưng (6 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo), Bảo Hưng (1 đạo).* Phong cho Thành Hoàng là Hậu Đức... Đại Vương 厚 德...大 王; Phạm Thị Minh 范 氏 明 (là tằng tổ tỉ của Tôn Đức Thái Phi 尊 德 太 妃); Trương Hộ 張 護 (con trai trưởng của Phấn Quận Công Trương Nhiêu 奮 郡 公 張 饒); Trương Bàng 張 滂(cháu đích tôn của Phấn Quận Công Trương Nhiêu); Phấn Quận Công 奮 郡 公.3. Thôn Đường Cố 唐 固, xã Như Quỳnh: 48 tr., phong cấp vào các năm Vĩnh Thọ (1 đạo), Cảnh Trị (1 đạo), Dương Đức (1 đạo), Chính Hòa (1 đạo), Vĩnh Thịnh (1 đạo), Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (3 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo), Bảo Hưng (1 đạo).* Phong cho Thành Hoàng là Tá Trị... Đại Vương 佐 治...大 王và Nương Bà Công Chúa 娘 婆 公 主.4. Xã Ngọ Cầu 午 梂: 82 tr., phong cấp vào các năm Đức Long (1 đạo), Dương Hòa (3 đạo), Phúc Thái (3 đạo), Khánh Đức (1 đạo), Thịnh Đức (3 đạo), Cảnh Trị (1 đạo), Dương Đức (1 đạo), Chính Hòa (1 đạo), Vĩnh Thịnh (1 đạo), Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (3 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo), Bảo Hưng (1 đạo).* Phong cho Trà (?) Lôi (?) Hồng Ân Cư Sĩ 茶 雷 洪 恩 居 仕.5. Xã An Xuyên 安 川: 82 tr., phong cấp vào các năm Đức Long (1 đạo), Dương Hòa (3 đạo), Phúc Thái (3 đạo), Khánh Đức (1 đạo), Thịnh Đức (3 đạo), Cảnh Trị (1 đạo), Dương Đức (1 đạo), Chính Hòa (1 đạo), Vĩnh Thịnh (1 đạo), Vĩnh Khánh (1 đạo), Cảnh Hưng (3 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo), Cảnh Thịnh (1 đạo), Bảo Hưng (1 đạo).* Phong cho Trà (?) Lôi (?) Hồng Ân Cư Sĩ Đại Vương 茶 雷 洪 恩 居 仕...大 王.

Phạm Thị Tiên (triều Đinh), Phạm Ngộ (triều Trần)
5880/ 842. PHÚC YÊN TỈNH ĐÔNG ANH HUYỆN XUÂN NỘN TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 福 安 省 東 英 縣 春 嫩 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 221 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A11/4Thần tích 4 thôn, 5 xã thuộc tổng Xuân Nộn, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên.
1. Xã Nhạn Tái
 雁 塞: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Lý Xá Lỵ 李 舍 利 húy Bí 李 賁 (Xá Lại 舍 賴 , Lý Phật Tử 李 佛 子 , Thánh Phụ Xá Lại Sùng Nghiệp An Dân Đại Vương 聖 父 舍 賴 崇 業 安 民 大 王); Lý Nhã Lang 李 雅 郎(Quốc Vương Thiên Tử Nhã Lang Nam Đế Vương 國 王 天 子 雅 郎 南 帝 王 ), Ả Lã 婀 。 (Thánh Mẫu Ả Lã Phi Nhân Hoàng Hậu 聖 母 婀 。 皇 后); Hỗn Độn 渾 沌 (Hỗn Độn Uy Linh Cảm Ứng Đại Vương 渾 沌 威 靈 感 應 大 王); Đỗ Nhuận 杜 潤 (Tá Phụ Minh Quân Đại Vương 佐 輔 明 君 大 王) triều Lý.
2. Thôn Mạnh Tân
 孟 津 , xã Thư Lâm 書 林: 27 tr., gồm sự tích Ả Thuần Nương Công Chúa 婀 純 娘 公 主 triều Lý, do Nguyễn Bính soạn năm 1572; Phạm Thị Tiên 范 氏 仙 (Tiên Phi Nhân 僊 妃 人) , Lý Quốc Hoàng Thái Hậu 李 國 皇 太 后 ) triều Lý; và Đại Đương Giang Minh Thiên Tá Phụ Đại Vương 大 當 江 明 天 佐 輔 大 王 triều Đinh Tiên Hoàng.
3. Thôn Biểu Khê
 表 溪 , xã Thư Lâm 書 林: 13 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Đương Giang 當 江 (Tiểu Đương Giang Phụ Tá Đại Vương 小 當 江 輔 佐 大 王) triều Đinh Tiên Hoàng.
4. Thôn Cổ Miếu
 古 廟 , xã Thư Lâm 書 林: 30 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Ngọc Thanh Công Chúa 玉 清 公 主 triều Trưng Nữ Vương; Ả Nguyệt Nga Công Chúa 婀 月 娥 公 主 triều Lý Thánh Tông; và Đoàn Thượng 段 尚(Đông Hải Đại Vương 東 海 大 王).
5. Thôn Hương Trầm
 香 沉 , xã Thư Lâm 書 林: 18 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Quý Minh 貴 明 (Quý Minh Hiển Ứng Linh Thông Đại Vương 貴 明 顯 應 靈 通 大 王) triều Hùng Duệ Vương.
6. Xã Đào Thục
 陶 熟: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Đương Giang 當 江 (Đương Giang Tá Phụ Minh Thiên... Đại Vương 當 江 佐 輔 大 王); Hoàng Hậu Mặc Tướng... Phi Nương Phu Nhân 皇 后 默 將... 妃 娘 夫 人 triều Đinh Tiên Hoàng; và Tam Giang 三 江 (Tam Giang Khước Địch Linh Ứng Đại Vương 三 江 卻 敵 靈 應 大 王) triều Triệu Việt Vương.
7. Xã Kim Tiên
 金 僊: 14 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Hoàng Hậu Linh Thông Túy Tinh Phu Nhân 皇 后 靈 通 粹 精... 夫 人 triều Trưng Nữ Vương; Hùng Công 雄 公 (Đô Hộ Hùng Uy Đại Vương 都 護 雄 威 大 王); Uy Công 威 公 (Đô Hộ Uy Hùng Đại Vương 都 護 威 雄 大 王) thời Đường Thái Tông, Vũ Đế.
8. Xã Nguyên Khê
 沅 溪: 30 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Tam Giang Linh Ứng Đại Vương 三 江 靈 應 大 王 (tức Trương Hống, Trương Hát); và Cao Hiển 高 顯 (Cao Sơn Hiển Ứng Đại Vương 高 山 顯 應 大 王) triều Hùng Duệ Vương.
* Có bài văn bia và tựa do Lê Tung soạn năm Hồng Thuận 2 (1510).
9. Xã Xuân Nộn
 春 嫩: 77 tr., gồm sự tích Vũ Định 武 定 và Thiên Trí 天 置 triều Hùng Duệ Vương; Trương Hống 張 吼 (Đại Đương Giang Hộ Quốc Đại Vương 大 當 江 護 國 大 王); Trương Hát 張 喝 (Tiểu Đương Giang Hộ Quốc Đại Vương 小 當 江 護 國 大 王); Đông A Thế Phả Hành Trạng 東 阿 世 譜 行 狀 (Hành trạng Trần Quốc Tuấn, Nguyên từ quốc mẫu, Trần Quang Khải...); sự trạng của Hiển Thánh Đại Vương (Trần Quốc Tuấn đánh quân Nguyên); bài hịch của Hiển Thánh Đại Vương dụ các quân tướng; hành trạng một số bộ tướng của Trần Quốc Tuấn như: Đỗ Khắc Chung 杜 克 終 , Trần Bình Trọng 陳 平 仲 , Trần Khánh Dư 陳 慶 餘 , Phạm Ngộ 范 遇 , Yết Kiêu 歇 驍 , Nguyễn Khoái 阮 蒯 , Đỗ Hành 杜 衡 , Trần Thời Kiến 陳 時 見 , Trương Hán Siêu 張 漢 超 , v.v...

Phạm Thích
5618/ 580. HẢI DƯƠNG TỈNH CẨM GIÀNG HUYỆN KIM QUAN TỔNG CÁC XÃ THẦN TÍCH 海 陽 省錦 江 縣 金 關 總 各 社 神 蹟- 1 bản viết, 35 tr., 31 x 21, chữ Hán.AE.A6/2Thần tích 4 xã, thuộc tổng Kim Quan, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
1. Xã Tràng Kênh
 長 涇: 12 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Định Công 定 公 (Đương Cảnh Thành Hoàng Vũ Định Tối Linh Đại Vương 當 境 城 隍 武 定 最 靈 大 王) thời Lê Đại Hành.
2. Xã Kim Quan
 金 關: 3 tr., sự tích Lại Tướng Công 賴 相 公 , (húy Kim Bảng 金 榜 , thụy Đoan Phương 端 方 , đỗ Hoàng giáp (năm 1518), làm quan đến Giám sát ngự sử, không chịu cộng tác với nhà Mạc, gieo mình xuống sông tử tiết, đến thời Lê Trung Hưng, được phong Phúc thần) và sự tích Đô Thống Quản Binh都 統 管 兵 (họ Hoàng 黃 , người tổng Thái Trạch, tỉnh Nghệ An, theo vua Lê đi đánh Chiêm Thành, sau khi mất được gia phong Tối Linh Đại Vương 最 靈 大 王).
3. Xã Lương Xá
 梁 舍: 2 tr., sao năm Minh Mệnh (1830), về sự tích Dữ Đạo Đại Vương 與 道 大 王 (Phạm Thích 范 適 ).
4. Xã Trữ La
 苧 羅: 18 tr., do Nguyễn Hiền sao năm 1736, về sự tích Đoàn Thượng 段 尚 (Đông Hải Đại Vương 東 海 大 王) thời Lý.


5883/ 845. PHÚC YÊN TỈNH YÊN LÃNG PHỦ YÊN LÃNG HUYỆN CÁC TỔNG CHƯ XÃ THẦN TÍCH 福 安 省 安 朗 府 安 朗 縣 各 總 諸 社 神 蹟- 1 bản viết, 196 tr., 31.5 x 21.5, chữ Hán.AE.A11/15Thần tích 1 xã thuộc tổng Đa Lộc 多 祿 , 4 xã thuộc tổng Hạ Lôi 夏 雷 , 3 xã thuộc tổng Xa Mạc 車 幕 , 3 xã thuộc tổng Thạch Đà 石 柁 , 1 xã thuộc tổng Phú Mỹ 富 美.1. Xã Trang Việt 莊 越 tổng Đa Lộc: 9 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Ả Lự Minh Vương 婀 。 明 王 , Bạch Trạch Quận Công 白 澤 郡 公 triều Hùng Vương.
2. Xã Thường Lệ
 常 棣 , tổng Hạ Lôi: 2 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Vua Cả Đông Hán Đại Vương 。 奇 東 漢 大 王, Vua Hai Đông Hán Đại Vương 。 。 東 漢 大 王, Vua Ba Đông Hán Đại Vương 。 。 東 漢 大 王, Công Chúa Vua Bà Đại Vương 公 主 。 婆 大 王.
3. Xã Nội Động
 內 洞 , tổng Hạ Lôi: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Cao Sơn Ban Thiên Đại Vương 高 山 班 天 大 王, Quý Minh Hiển Linh Đại Vương 貴 明 顯 靈 大 王.
4. Xã Cư An
 居 安 , tổng Hạ Lôi: 2 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, ghi sự tích Phạm Viện 范 援 (Dực Vận Tế Thế Uy Linh Đại Vương 翊 運 濟 世 威 靈 大 王).
5. Xã Văn Lôi
 聞 雷 , tổng Hạ Lôi: 11 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Lũ Lũy 縷 縲 (Lũ Lũy Bán Thiên Hiển Ứng Đại Vương 縷 縲 半 天 顯 應 大 王).
6. Xã An Bài
 安 排 , tổng Xa Mạc: 9 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1573 (?); về sự tích Sĩ Nhiếp 士 燮 (Nam Bang Học Tổ Sĩ Vương Tiên 南 邦 學 祖 士 王 仙 ).
7. Xã Bồng Mạc
 蓬 幕 , tổng Xa Mạc: 7 tr., Lê Tung soạn năm Hồng Đức 1 (1470), về sự tích Lý Phật Mã 李 佛 瑪 (Xá Lỵ Lý Triều Hoàng Đế 舍 利 李 朝 皇 帝); Nhã Lang Hiển Ứng Đại Vương 雅 郎 顯 應 大 王; Ả Lã Nàng Đê Công Chúa 婀 。 娘 。 公 主; Ả Nương Phu Nhân 婀 娘 人; Ả Nang Phu Nhân 婀 囊 夫 人.
8. Xã Đông Cao
 東 皋 , tổng Thạch Đà: 36 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Thổ Lệnh 土 令 (Bạch Hạc Tam Giang Thổ Lệnh Thượng Đẳng Thần 白 鶴 三 江 土 令 上 等 神 ) triều Hùng Vương; Linh Công 靈 公 (Tiền Tướng Quân Linh Hồ Đại Vương 前 將 君 靈 壺 大 王); Minh Công 明 公 (Tả Tướng Quân Chiêu Minh Đại Vương 左 將 軍 昭 明 大 王); Cung Công 宮 公 (Hữu Tướng Quân Cung Mục Đại Vương 右 將 軍 恭 穆 大 王) triều Hùng Duệ Vương; Nhị Vị Thượng Đẳng Phúc Thần 二 位 上 等 福 神 triều Trưng Nữ Vương.
9. Xã Hoàng Xá
 黃 舍 , tổng Thạch Đà: 48 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Ả Lự Công Chúa 婀 。 公 主 , Ả Đê Công Chúa 婀 。 公 主 triều Lý Nam Đế; Mã Viện 馬 援 (Đông Hán Quốc Vương Thiên Tử 東 漢 國 王 天 子 ) triều Đông Hán; Ất Lan Đại Vương 。 。 大 王, Phương Dung Công Chúa 芳 蓉 公 主 triều Lê Thánh Tông.
10. Xã Thạch Đà
 石 柁 , tổng Thạch Đà: 30 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, gồm sự tích Đài Công 薹 公 , Mỹ Nương Công Chúa 。 娘 公 主 , Cầu Nương Công Chúa 梂 娘 公 主 , và sự tích Lã Nương Công Chúa 。 娘 公 主 , Ả Nương Công Chúa 婀 娘 公 主 , Mỵ Nương Công Chúa 媚 娘 公 主 triều Hùng Duệ Vương.
11. Xã Thái Lai
 泰 來 , tổng Phú Mỹ 富 美: 20 tr., do Nguyễn Bính soạn năm 1572, về sự tích Bảo Công 夫(Uy Linh Hiển Ứng Thiên Bảo Hộ Quốc Đại Vương 威 靈 顯 應 天 寶 護 國 大 王).


Nguồn tin: Viện Hán Nôm

Đệ nhị vương cô - Đại Hoàng công chúa


Đệ Nhị Vương Cô (Vương Bà) Đại Hoàng Công Chúa Trần Thị Tĩnh. Cô là con gái thứ của Hưng Đạo Đại Vương. Còn tương truyền rằng Vương Phu Nhân nằm mộng thấy vì sao sa xuống rồi lại thấy rồng ấp bên mình thì mang thai cô vào năm Bính Thìn. Cô tuy là con gái ruột của Đức Đại Vương và Vương Phu Nhân nhưng sau này lại phải đổi ra thành nghĩa nữ lấy hiệu Anh Nguyên (Thủy Tiên) Quận Chúa. Nên danh hiệu của cô là : Đệ Nhị Nữ Đại Hoàng Anh Nguyên Quận Chúa.Sở dĩ vậy là có lí do: Hưng Đạo Vương rất quý mến Phạm Ngũ Lão, muốn gả cô cho Đức Ông họ Phạm, nhưng quy định của tôn thất nhà Trần là phải lấy người trong hoàng tộc, để bảo vệ ngai vàng. Vậy nên Đức Ông phải cho cô ra làm con nuôi, để khỏi phạm vào hoàng luật. Cô mang danh nghĩa tử của Hưng Đạo Vương, kết duyên cùng Phạm Ngũ Lão, trở thành Phạm Điện Súy Phu Nhân. Cũng có khi, cô còn thay quyền Hưng Đạo Vương, chấp chính ba quân, cô cũng không hề ngại gian nan, sát cánh cùng cha nơi chiến trường trong sự nghiệp vệ quốc thời Trần. Sử nhà Nguyên xưa cũng chép rằng: Công Chúa (tức chỉ Vương Cô) dáng thanh như ngọc da trắng như ngà, dáng đi khoan thai giọng nói dịu dàng nhưng khi ra trận thi uy dũng, nam nhi ít người sánh bằng.


Khi hầu về hàng Hội Đồng Trần Triều, giá Đệ Nhị Vương Cô hay được hầu nhất (vì cũng theo một số quan niệm, thì Đệ Nhị Vương Cô thường hay theo về bên Tứ Phủ, vậy nên những người hầu Trần Triều cùng với Tứ Phủ thường hay mở khăn giá Đệ Nhị Vương Cô). Khi ngự đồng cô thường mặc trang phục giống như Vương Cô Nhất nhưng không phải màu đỏ mà là màu vàng, tuy nhiên cũng do ảnh hưởng của Tứ Phủ, một số nơi hầu Vương Cô Đôi lại mặc màu xanh, và hiện giờ thì đa phần người ta thường dùng màu xanh, khi ngự, cô dắt một chiếc kiếm và cờ lệnh sau lưng, còn tay thì cũng cầm một kiếm một cờ lệnh. Trong hàng Trần Triều, cô là giá thứ 3 có làm phép để trừ tinh tróc tà, khi hầu cô người ta thường làm một số phép như: xiên lình (nghĩa là lấy chiếc ngạnh nhọn bằng sắt trắng, xiên từ má này sang má kia, bên trong miệng phải có ngậm quả cau. Tuy nhiên hiện giờ cách xiên lình này không mấy người làm được mà nếu có người nào hầu về cô làm phép xiên lình thì thường chỉ dùng hai chiếc ngạnh, đêm vào hai bên má rồi xoắn lại cho nó chọc sâu vào má chứ không xiên từ bên này sang bên kia như lối cổ), ngoài ra còn có phép tiến lửa tróc tà (nghĩa là người hầu về cô đốt một bó hương rồi cho vào mồm ngậm tắt, vậy nên còn gọi là ăn lửa).

Cô cũng thường được thờ với Đức Đại Vương trong các đền phủ. Nhưng riêng ở Đền Kiếp Bạc và Đền Bảo Lộc, cô lại ngồi cận bên hữu của Đức Vương Phu Nhân. Ngày tiệc của Vương Cô Đôi là ngày 5/5 âm lịch. Trong khi hầu cô, văn thường hát những đoạn như:

“Cô Đôi tên hiệu Đại Hoàng
Quê cô Bảo Lộc, Thiên Trường, Trần Quan”

Hay còn có những đoạn hát về tài của Vương Cô như:

"Hậu quân nghìn dặm xa xôi
Xem như nội tướng thực tài phu nhân"

Văn Đệ Nhị Vương Cô
==================================

Trên tòa vàng công ơn tiên thánh
Dưới điện tiền phụng thỉnh vương cô
Tối linh thiên hạ được nhờ
Dấu thiêng ghi để phụng thờ khói hương
Tối linh tối tú ai đương
Quê hương Bảo Lộc Thiên Trường Trần quan
Vương cô nhất trí thuận tòng
Xe loan giá ngự đầu đồng cứu dân
Linh từ Kiếp Bạc điện đường
Hoa trà quả thực đăng hương tiến vào
Thần thông biến hoa lược thao
Vốn xưa giá ngự cung cao chính đường
Đỉnh sinh Tức Mặc Thiên Trường
Khi ngự Kiếp Bạc miếu đường anh linh
Khi lên chầu trực Thiên Đình
Khi xuống hạ giới ngự hình dương gian
Tàu bè khí giới nghênh ngang
Tả văn hữu võ hai hàng quỳ tâu

Ngũ châu tứ hải khấu đầu
Từ bi quảng đại thỉnh cầu tất thông
Bạch Đằng nổi trận giao phong
Quân thù bỏ xác giữa dòng trường giang
Bá Linh quỳ gối quy hàng
Vương cô dẹp hết Phạm Nhan đẳng tà
Phần thời đem bỏ giang hà
Phần bên Non Đảo phần xa núi rừng
Thôn dân từ đấy vui mừng
Tiếng tăm lừng lẫy vang lừng vương cô
Dâng lên quả thực đăng trà
Lòng tin cung thỉnh vương cô Thượng Từ
Trần Triều Kiếp Bạc Linh Từ
Thiên Trường Mỹ Lộc phụng thờ khói hương
Chí Linh ghi lại dấu thiêng
Sử xanh còn để lưu truyền đời sau
Bắc Nam đôi sứ đảo cầu
Vương Cô bảo hộ bền lâu muôn đời.

Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Truyền thuyết Thần tích, cấu trúc và Lễ Hội Đền Đồng Bằng

Truyền thuyết Thần tích, cấu trúc và Lễ Hội Đền Đồng Bằng
神昔 - 健築 - 禮會
Đinh Đăng Túy

Chúng ta cùng nhau mở lại trang sử của dân tộc Việt nam vào thời Hùng Vương 18 , cách chúng ta hơn 2000 năm ... Để khám phá về 1 người anh hùng lu danh là Vĩnh Công Đại vương - Bát Hải Động đình 永公大王八海洞亭 , được tôn thờ tại Đền Đồng Bằng 同平靈祠 : Vào thời Hùng Vương 雄王 18 , Đất nước Văn Lang - Lạc Việt 文榔濼越 giữa buổi thịnh trị , Vua sáng tôi hiền , dân miền duyên hải còn rất thưa thớt , làm nghề chài lưới và nông tang …Ngày ấy , Sông Vĩnh cổ ( tức sông Đồng Bằng , thuộc xã An Lễ bây giờ ) còn rất rộng , tương truyền lại còn có cả các loài thuỷ quái , thuồng luồng , giao long sinh sống ... Dân đất Hoa Đào trang华桃莊 ( vùng An Lễ bây giờ ) cư trú dọc bên sông , nghề chính là trồng dâu nuôi tằm , dệt vải và khai khẩn bãi bồi , canh tác nông nghiệp , kết hợp chài lưới đánh bắt tôm cá trên sông … Khi Hùng Duệ Vương 雄睿王 đã lên tuổi Kỳ lão ( tức tuổi 60 - ngày ấy , 60 tuổi chắc là đại th**ượng thọ ) mà vẫn chưa có con trai nối dõi . Vua rất phiền lòng …Sinh hạ nhiều , nhưng chỉ còn lại 2 Công chúa : Công chúa lớn là Tiên Dung , trời se duyên cùng Chử Đồng Tử , rồi cùng tu tiên biệt tích không về ... Công chúa em là Mỵ Nương , lấy Tản viên Sơn Thánh … Vua đã vài lần gợi ý trao Vương miện cho Sơn Thánh 山聖, nhưng Sơn Thánh quyết không nhận , gặp những kỳ đất nước hữu sự , ngài về Triều giúp Vua Cha , yên sự lại về Tản viên tu đạo , chứ không màng quan tước ... Chính vì thế , có nhiều thế lực nhòm ngó Ngai Vàng còn chưa có người kế vị . Các nước láng giềng ở Bắc phương , cùng lân bang Vạn Tượng , Ai Lao …cùng nung nấu ý đồ thôn tính Văn Lang - Lạc Việt . Lạc Long Quân樂龍君 từ ngày trao quyền cho con là Hùng Vương trị vì đất nước , trở về biển Đông , nhưng vẫn thường theo dõi rất sát thế sự Lạc Việt , trước những hiểm hoạ có thể sảy ra , Long Quân lấy làm lo lắng không yên ... Bấy giờ , Long Quân đang sống cùng người ái thiếp , (tương truyền bà chính là Ngọc nữ trong Cung Tây Vương Mẫu , lỡ tay đánh vỡ chén Ngọc lưu ly , nên bị đày xuống Đông hải ) bà sinh cho Long Vương 1 người con trai … Đó là Thái Tử Giao Long 鮫龍tài đức siêu quần , khi Hà bá sông Cái ( tên sông Hồng cổ ) vì không lấy được Mỵ Nương , nên tức tối đại tác thuỷ hoạ cho dân , Long Vương sai Thái Tử giúp Sơn Thánh dẹp yên và bắt Thuỷ tinh về trị tội … Sự lo lắng của Long Quân về nguy cơ Lạc Việt làm cho mẹ con Thái Tử cũng trăn trở không yên , nhưng sợ can thiệp trực tiếp sẽ phạm cơ Trời , nên cứ than thở bất an , sầu muộn ... Rồi Thái Tử cũng trình lên Vua Cha được 1 kế sách trọn vẹn , đó là cho phép chàng và hai em thác sinh thành kiếp người trần , là con dân nước Lạc Việt ...chỉ có thế , chàng mới giúp các bậc huynh trưởng giữ lấy giang sơn mà không phạm luật Trời ... ( theo truyền thuyết này , đúng là quan hệ giữa Hùng Vương và Thái tử Giao Long là anh em cùng cha khác mẹ , đó cũng là 1 lý do để sau này , Đền Bát Hải Động Đình lại được dân gian gọi là Đền Đức Vua ) ... Vì tình thế cấp bách , Lạc Long Quân đành y theo kế của con ... Cả Long vương và Ngọc thiếp cùng phối hợp thực hiện kế sách này ... để Thái Tử được thác sinh chính thức thành con dân Lạc Việt ... ... Và thế là ...trên bờ sông Vĩnh , thuộc Đào Hoa Trang , Trấn Sơn Nam , Quận Giao Chỉ ...xuất hiện 1 cô gái vị thành niên , không cha không mẹ , mò cua bắt ốc bên sông , ai hỏi thì xưng là người phương Bắc phiêu bạt tới đất này( tương truyền , đó chính là hoá thân của bà Thiếp Ngọc nữ của Long Quân , tạo cơ sở cho Thái tử đầu thai thành dân đất Việt ) ... Ngày ấy , có 2 vợ chồng ( ông Phạm Túc , bà Trần thị - Sử cổ ghi rõ) là người Trang An Cố ( thuộc Thuỵ Anh - Thái Bình ngày nay ) đã lớn tuổi , sống phúc hậu mà không có con ... Một lần , họ ngược dòng đánh cá đến Trang Hoa Đào ( đất An Lễ , nơi toạ lạc Đền Đức Vua bây giờ ) và tình cờ gặp cô gái nhỏ bên sông Vĩnh , ông bà đón cô gái về nuôi tại An Cố , đặt tên là Quý Nương ...Mấy năm sau , khi tròn 18 tuổi , Quý Nương rất xinh đẹp , đoan trang ...Nhưng không nhận lời cầu hôn của ai cả ... Ông bà Phạm Túc bị bệnh rồi lần lượt qua đời . Quý Nương lưu lại An Cố để hương khói báo hiếu cho bố mẹ nuôi ... Một lần Quý Nương ra cửa sông tắm , đang trời yên biển lặng , bỗng sóng gió nổi lên dữ dội , rồi thấp thoáng bóng 1 con Hoàng Long hiện lên quấn chặt lấy nàng ...Một lát sau , khi sóng gió qua đi , Quý Nương thấy mình nằm trên bãi sông ... Một thời gian sau , bỗng thấy mình có thai , Quý Nương rời An Cố trở về quê Hoa Đào trang sinh sống ... Bà có thai đúng 13 tháng , vào đúng đêm ngày mồng 10 tháng giêng ( sử cổ ghi rõ) bà sinh ra 1 cái bọc , giữa ánh hào quang phát sáng rực ...Quý Nương sợ hãi , ôm bọc thai thả xuống sông Vĩnh ... Cũng đêm ấy , có 1 người cất vó bên sông ( sách cổ ghi rõ tên là Nguyễn Minh ) ... Ông thấy cái bọc đã được mình cầm vứt ra nhiều lần mà cứ cố tình trôi vào vó , cực chẳng đã ông đành rạch bọc ra ... ánh sáng phát chói loà , ông kinh hãi thấy từ trong bọc chui ra 3 con Hoàng Xà , đầu Rồng mình rắn ...Con lớn nhất ( chính là Thái Tử giao Long ) vượt sông lên bờ , chui vào náu thân trong 1 giếng nước ( đó chính là giếng thiêng trong Cấm cung Đền Đồng Bằng bây giờ , truyền thuyết còn nói rằng : ông kéo vó khi rạch bọc , lưỡi dao đã vô tình làm đứt 1 thuỳ đuôi của con Hoàng Xà lớn , vì thế xưa kia các bản Hội về cúng mô hình Giao long tại Đền Đồng Bằng , bao giờ cũng làm vát 1 thuỳ đuôi là theo tích này ) , còn 2 Hoàng Xà nhỏ , bơi xuôi theo dòng nước chảy dọc sông Vĩnh , 1 con giạt vào Thanh Do Trang ( thuộc Thái Ninh bây giờ ) , con nhỏ nhất bơi đến tận An Cố trang ( Mai Diêm - Thuỵ Anh ) ... Cũng đêm ấy , dân Đào Hoa trang thấy trời nổi sấm rền , rồi từ trên không trung có tiếng nói vang động :" Ta là con của Long Quân , khi có giặc sẽ giúp Vua Hùng diệt giặc "... Hôm sau , dân bản hạt đến bên giếng cạn đắp ụ đất , tạm lấy lá chuối ghi chữ đánh dấu , rồi sau lập thành Miếu thờ , từ đó hương khói cầu "phong đăng hoà cốc " thấy rất linh nghiệm ... ( đôi câu đối chạm hình lá chuối treo trong Cấm cung cũng là từ tích này ). Lại nói : Vua Hùng ngày ấy đã già , lại không con trai nối dõi ...Vua thường buồn bã , hay đau yếu ... làm lo lắng cho trăm quan triều chính ...Có nhiều thế lực trong nội bộ Bách Việt , muốn nhòm ngó Ngai vàng Lạc Việt ... như bộ tộc Âu Việt , do Thục Vương cai quản ( nguyên gốc xưa là người Trung Nguyên di cư xuống phía nam , từ lâu đã thành dân Bách Việt , và cũng chính là phụ thân của Thục Phán ) ... Chuyện kể rằng : Khi Mỵ Nương đến tuổi lấy chồng , nhan sắc tuyệt vời , phong tư đoan chính ...Thục Vương mê lắm , rất muốn cưới về làm thiếp ... Vua Hùng cũng có ý ưng thuận , nhưng các Lạc tướng can rằng : "Thục Vương từ lâu nhòm ngó nước Văn Lang của dân Lạc Việt ta , giờ Vua lại gả Mỵ Nương cho y , khác gì đưa hổ vào tận trong nhà "... Vì thế Vua Hùng không gả con cho , rồi lại đem gả cho Sơn Tinh ... Thục Vương giận lắm , thề dù có phải đến đời con sau này cũng sẽ quyết thôn tính bằng được Lạc Việt ... ... Khoảng vài năm sau ...Thấy thời cơ đã đến , các nước lân bang như Ai lao , Vạn tượng , Chiêm thành ...hợp sức cùng quân phương Bắc , nhân Vua Hùng già yếu đã hẹn phối hợp xâm lấn nhằm thôn tính Lạc Việt . Họ được 1 số bộ lạc trong Bách Việt như Âu Việt , Mân Việt , Nam Việt ... nội ứng , cùng chỉnh sức "tinh binh bách vạn " , tuyển " Phì mã tam thiên " , tức là tập hợp hàng trăm vạn tinh binh , ngựa khoẻ . Quân đường bộ chia làm 5 đạo , hẹn đợi cánh quân đường thuỷ từ phương Bắc xuống , khi nào quân phương Bắc đã phong toả 8 cửa biển Lạc Việt , thì cả thuỷ , lục các đạo đều cùng 1 lúc tiến quân ... Thanh thế của giặc chấn động cả biên thuỳ , thư cấp báo đưa tin giặc dữ truyền về Kinh đô "1 ngày đến 5 lượt" ... Hùng Duệ Vương rất lo lắng trước thế giặc quá mạnh , liền cho người đi mời Sơn Thánh về Kinh hiến kế phá giặc . Sơn Thánh lập tức từ Tản Viên hồi Triều , Hùng vương ngạc nhiên thấy Sơn Thánh ung dung thư thái ... Vương trách : " Một ngày có đến 5 tin hoả tốc cấp báo , thế giặc như lũ bão , chẳng lẽ Khanh không lo sao ?" . Sơn Thánh tâu rằng : " Trải qua 17 đời Vua Hùng , những bậc quân vương đều là Thánh hiền , việc nghĩa nhân đã dày và nhuần thấm , thương dân như con , ân tình ghi vào cốt tuỷ , đó là 1 thế mạnh . Nước Văn Lang - Lạc Việt ta hiện nay đang độ quốc phú , binh cường , bệ hạ uy đức lan xa đến hải ngoại , thấu đến trời đất , vì thế Trời đã " đa giáng anh tài" xuống làm dân đất Việt , để mà hộ quốc cứu dân đó thôi !" . Vua Hùng hỏi , Sơn Thánh thưa :" Đó là Long cung Hoàng Thái Tử đã thác sinh , đang náu ở Hoa Đào Trang , thuộc Sơn Nam Hạ , họ có 3 anh em khí độ vượt nhân , kinh luân đứng đầu kim cổ , văn võ kiêm tài ... Trời lại cho giáng trần thêm mấy anh tài hiện đang làm con dân Lạc Việt ( ý nói về các Quan lớn của Vĩnh công ) , có thể đảm đương việc cự địch xâm lăng đường biển ... Nước Việt ta lại còn có "sơn thuỷ bách Thần" từ ngày lập nước rất linh ứng , hay hiển linh để phù trợ ... Bởi vậy Bệ hạ chẳng phải quá lo ... kẻ địch dấy binh vô đạo , tất sẽ " thủ bại" . Bệ hạ nên cử Thái Tử Long cung trấn giữ và đánh giặc tại các " giang môn , yếu hải " , còn thần nguyện đích thân tiên phong cự địch tại các cánh đường bộ ... Thần đồ rằng chỉ vài hôm là giặc tan ". Duệ Vương nghe nói cả mừng , lập tức lệnh lập Đàn cầu Trời ứng trợ , tuần hương vừa tàn , thì Thanh Y Tiên Ông lai giáng , mách Vua cho người về Hoa Đào trang mà triệu , sẽ có dị nhân đánh tan giặc biển ( trích dịch Văn tự Hán Nôm cổ về Đào Động , hiện lưu giữ tại Viện TT KH-XH Việt Nam ) ... Hùng Vương cả mừng , sai sứ giả về Hoa Đào trang ( tức đất An Lễ bây giờ ) để truyền chỉ dụ triệu kỳ nhân dẹp giặc ... Khi Sứ giả về hỏi , dân thôn kể về việc Giao Long ẩn thân trong giếng cạn trước đây ... Sứ giả đến bên giếng xướng truyền sắc chỉ thì thấy Hoàng Xà hiện ra rồi bỗng hoá thành 1 chàng trai lực lưỡng , tuấn tú hơn người ... Ngài nhận chỉ dụ , nhờ sứ giả báo với Vua Hùng là sẽ triệu 2 em , tuyển 10 tướng , chiêu mộ binh sĩ trong 10 ngày , rồi xuất quân đánh giặc trên cả 8 cửa biển nước Nam , hứa sau 3 ngày là giặc tan ... từ đó , ngài có tên là Vĩnh Công ( trọng nhân phát tích trên sông Vĩnh ) ... Tương truyền : Ngay ngày tuyển mộ đầu tiên , Vĩnh công đã chọn được 3 tướng là Quan lớn Thượng ( quan lớn đệ nhất ) , quan đệ Tam và Quan đệ Tứ ...Trai tráng duyên hải kéo đến đầu quân rất đông , nhưng đến trưa ngày thứ 10 theo hẹn , vẫn thiếu 1 tướng ... Vĩnh công lập đàn cầu , trời điều Tam Thái Tử xuống đầu quân , ngài giáng xuống Bảo Hà ( Lào Cai) , tương truyền thấy 1 tiếng sét dữ dội tại đó , rồi một luồng hào quang bay về nơi Vĩnh công tuyển tướng , tụ thành 1 chàng trai tuấn tú xin ứng tuyển , đó chính là Quan Điều Thất . Sau khi chọn được quan Điều Thất , đủ số 10 tướng , Vĩnh công còn chọn được 1 mưu sĩ tài ba , quê ở Nuồi ( Tứ Kỳ - Hải Dương ) làm quân sư ( vì thế sau này có lệ giao Trải với Nuồi ) Xếp dưới 10 vị Đại tướng và 1 vị quân sư , Vĩnh Công còn lựa được 28 vị Nội tướng tài ba ( có là Ngài xếp theo đúng số Nhị thập bát Tú của trời ) ... Để thể hiện tình nghĩa ruột thịt cùng xả thân vì xã tắc , không câu nệ danh vọng , Vĩnh công tuỳ tuổi mà phân thứ bậc các tướng ... Trên 2 mũi tấn công chủ yếu bằng đường thuỷ của giặc phương Bắc là cửa sông Cái ( sông Hồng ) và cửa sông Bạch Đằng ... Vĩnh công cùng Quan lớn Thượng chặn giặc ở cửa sông Cái , Quan lớn đệ Tam cùng Quân sư Nuồi và quan đệ Ngũ chặn giặc tại cửa sông Bạch Đằng , Quan Điều Thất phụ trách ứng chiến và phối hợp tác chiến cùng các cánh quân chặn giặc đường bộ của Sơn Thánh , các vị Quan lớn khác đều được phân công đánh giặc trên 6 cửa biển khác của Nước Nam ... Đúng hẹn 3 ngày , Vĩnh công cùng tướng sĩ đánh tan giặc dữ trên cả 8 cửa biển . Thấy cánh quân đường thuỷ hùng mạnh của phương Bắc bị đại bại , nhiều cánh quân xâm lược đường bộ do các bộ lạc của Bách Việt , được sự giúp sức của các nước Ai Lao , Vạn Tượng ...đang cố quyết chiến cùng quân Lạc Việt do Sơn thánh chỉ huy , nghe tin đều hoảng sợ , vội vã rút nhanh về nước ... Đất nước trở lại thanh bình , Hùng Duệ Vương triệu Vĩnh công về Triều , phong là " Vĩnh Công Nhạc phủ thượng đẳng thần " , lại có ý muốn lưu ở Kinh đô giúp việc Triều chính ... Vĩnh công xin được về quê để trông nom thân mẫu , khai khẩn vùng duyên hải , chiêu dân lập ấp , dạy dân nghề nông tang ( tang : trồng dâu nuôi tằm , dệt vải ) , đồng thời giúp Vua Hùng giữ yên 8 cửa biển Lạc Việt . Mười tướng theo Vĩnh công về Hoa Đào Trang . Quan Điều Thất về Trời ngay sau khi thắng giặc , Vĩnh công thương xót cho lập ban thờ ngay tại dinh Công đồng , là nơi Vĩnh công cùng chư tướng tề tựu bàn việc ( đó chính là Đền thờ quan Điều Thất ngày nay , thường gọi là Đền Công Đồng ) . Quan lớn đệ Tam được phân công giữ yên vùng duyên hải từ sông Cái lên hết biên giới biển phía bắc Lạc Việt ( từ tích quan lớn đệ Tam thắng giặc trên cửa sông Bạch Đằng , rồi lại tỵ nhậm cai quản vùng này ... Nên các đời sau , khi đánh giặc trên sông Bạch Đằng , các quân vương đều về cầu và tạ tại đền đức Vua và Đền quan đệ Tam , vì cho rằng được âm phù mà chiến thắng )... Quan lớn đệ Thập được tỵ nhậm tại Cửu Chân , Quan đệ Tứ được phân công khai khẩn vùng bãi bắc Sơn Nam ... Có 5 vị Nội tướng được Vĩnh Công giao sở nhiệm khai khẩn chăm dân lập Ấp tại Hoa Đào trang ( sau chính là 5 vị Thành Hoàng nổi tiếng linh ứng , đã có công âm phù Trưng Vương đánh thắng quân Tô Định tại Sơn Nam hạ ) ... Vĩnh công lấy 10 hốt vàng được Vua Hùng ban thưởng để chia cho dân bản hạt làm vốn canh tác . Miền duyên hải Lạc Việt từ đó dân cư ngày càng đông đúc , phồn thịnh ... Vua Hùng trao Vĩnh công quản lý miền duyên hải Lạc Việt , lấy tên là Tây Đô. Tương truyền : định kỳ hàng năm , nhân ngày đại thắng quân phương Bắc trên 8 cửa biển , Vĩnh công triệu chư tướng về tề tựu tại Hoa Đào trang ( đất An Lễ bây giờ , theo ghi chép của các cụ thì ngày ấy gọi là Hoa Đào trang , 1 trong các trang ở vùng bãi sông Vĩnh , trấn Sơn Nam hạ , bộ Thang Truyền , quận Giao Chỉ , thuộc Châu Giao chỉ trong Bách Việt , phía tây nam nước Hoa Hạ của nhà Hán ) . Trong những kỳ hội tụ này , Vĩnh công mở tiệc khao thưởng , cùng chư tướng đàm đạo về tình hình , vạch kế sách khai khẩn , chăm dân và giữ yên miền duyên hải theo uỷ thác của Vua Hùng . Tương truyền : trong những ngày vui này , Vĩnh công thường tổ chức thi bơi thuyền , giữa đội thuyền bản hạt và thuyền của các tướng , thuyền của quân sư Nuồi , để ôn lại chiến thắng , tập dượt phòng thủ và luyện quân sẵn sàng ứng phó mọi biến cố ... Đường đua thuyền là 1 đoạn sông Vĩnh " thượng Đồng Đống , hạ Cống Đôi " , lệ thi bơi trải có từ đó và còn tồn tại mãi đến sau này . Trong những ngày kỷ niệm chiến thắng , ngài còn tổ chức thi Vật , thi võ ... cùng với các trò chơi dân gian khác ( xới vật kề cạnh 1 cây cầu , nên cầu này có tên là cầu Vật , tên cầu Vật vẫn dùng cho đến bây giờ ) ... Vĩnh công còn cho tập hợp các làn điệu dân ca trong vùng , dạy cách hát ứng vận đối đáp để thi hát trong các đêm Hội , gọi là hát Đúm ( 1 kiểu hát giao duyên sân Đình )... Công đức của Vĩnh công rất lớn , vua Hùng rất nể trọng ... Dân Hoa Đào trang cũng như cả vùng duyên hải coi ngài ân tình như cha mẹ ... Một số năm trôi qua ... Một hôm Vĩnh công mời hương lão đến dinh thất của mình ( tương truyền là chính đất Đền Đức Vua bây giờ ) mà nói rằng :" Ta cùng các vị là dân lân hương ấp , ăn ở với nhau như tình ruột thịt , nay ta sắp phải vâng mệnh về chầu vua cha Lạc Long quân . Nếu có nhớ đến ta , thì nhà ta đây là miếu sở , ngày ta đi sẽ là ngày giỗ ..." . Tất cả hương lão có mặt bùi ngùi , nức nở ... Rồi bỗng thấy trời đất tối sầm , sấm chớp gió mưa đột khởi dữ dội ... Một thoáng , trời quang mây tạnh , mọi người chỉ còn thấy xiêm áo của Vĩnh công ...đó là ngày 25 tháng 8 âm lịch năm Bính Dần . Dân bản hạt lập tức dâng biểu về Kinh , Vua Hùng thương xót , ban phong mỹ hiệu : "Trấn Tây An tam kỳ linh ứng Đại Vương" , cấp tiền tang lễ , cho tu sửa dinh thất của Vĩnh công thành miếu điện thờ tự , cho lập "điền tự" để hương hoả cho Vĩnh công mãi mãi ... Vua Hùng trao cho các tướng của Vĩnh công tiếp tục sự nghiệp tại miền duyên hải Lạc Việt . Từ đó , nhân ngày giỗ Vĩnh công , các tướng lại tề tựu tại Hoa Đào trang , dâng hương cho Vĩnh công và tổ chức các hình thức kỷ niệm ngày đại thắng như trước đây ... Lâu dần thành lệ Hội tháng 8 âm lịch mà truyền đến ngày nay . Tương truyền , các tướng của Vĩnh công đều là những anh hùng cái thế , sinh tử vì Lạc Việt và bảo vệ Vua Hùng cho tới ngày Hùng Duệ Vương tuẫn tiết , nước Văn Lang - Lạc Việt sang trang sử mới , gọi là nước Âu Lạc ... Các tướng của Vĩnh công sau đó , người hoá thần , người tử trận trong chiến đấu bảo vệ đất nước Văn Lang , họ đều được lập đền thờ , được các triều đại sau sắc phong tôn vinh , kính trọng . ( xem ở sách truyền thuyết các vị quan lớn của Đức vua Bát Hải , hoặc cuốn Đất Đào Động địa linh nhân kiệt - cùng tác giả ). Tại đất Đào Động có Đền thờ Quan lớn Thượng , quan lớn đệ Nhị , quan lớn đệ Tam , quan lớn Điều Thất , quan lớn đệ Bát , tĩnh quan lớn Thượng , tĩnh quan đệ Tứ , đều được tái tạo dựng trên nền cổ tự . Quan đệ Ngũ thờ tại Đình Giới phúc , tĩnh quan đệ Lục ( miếu giáp Nhị ) đã bị thực dân Pháp phá huỷ . Quan đệ Tam còn được thờ ở Đền Lảnh giang ( Hưng Yên ) , quan đệ Tứ đền thờ chính ở Vĩnh Bảo - Hải Phòng . Quan đệ Ngũ có đền thờ ở bến đò Chanh - Hải Dương , quan Điều Thất có Đền ở Bảo Hà - Lào Cai . Quan đệ Cửu xưa có Đền ở Thanh Hoá , Quan đệ Thập có đền ở Nghệ An ... Đền thờ Vĩnh công Đại Vương Bát Hải Động Đình từ xa xưa đã nổi tiếng linh ứng . Các triều đại sau này như Đinh , Lê , Lý , Trần , Lê , Nguyễn ... đều tái sắc phong cho ngài . Vĩnh công được coi là Thượng Đẳng Thần của đất Lạc Việt . Hội tháng 8 âm lịch tại Đền , hội tụ muôn phương dân Việt về chiêm bái lễ cầu . Xin trích giải một số Sắc phong của các đời Vua đất Việt phong cho Vĩnh Công -tức Đức Vua Bát Hải : 1 - Hoàng Triều Vĩnh Hựu nhị niên , trọng Đông nguyệt , sơ nhật . (Niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 2 , đời vua Lê ý Tông Ngày 01/ 11 âm / 1726 ) Sắc : Gia phong : Trấn Tây an Tam kỳ linh ứng Đại Vương .Thượng đẳng Quốc tế ( Được tổ chức tế lễ theo Nghi thức dành cho những bậc Thần linh được tôn trọng bậc nhất quốc gia ) Phóng chỉ ban hồi dữ cấp tiền tứ bách quán ( Truyền Chỉ dụ về tận nơi , cùng số tiền được Triều đình ban cấp là 100 quan ) . Hứa Đào Động trang ngưỡng Thần hiệu , cập hồi trùng tu miếu điện , dĩ phụng chi lưu truyền hương hoả , dữ quốc tế vĩnh thời huân công hỹ . ( Hẹn cho Đào Động trang tổ chức lễ đón Thần hiệu , tiến hành trùng tu miếu điện thờ phụng và lưu truyền hương hoả , để cả nước về tế lễ huân công của Thần đến mãi mãi ) . Hàn lâm Viện Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bỉnh - Phụng soạn Bát phẩm Lại bộ - thần : Nguyễn Hiền - Phụng sao . 2 - Chương Thánh tôn hiệu đệ nhị niên , trọng xuân , cát nhật . (Năm Chương Thánh Gia Khánh thứ hai , đời Vua Lý Thánh Tông , ngày tốt , tiết xuân tháng 2 âm lịch , năm 1060 ) Sơn Nam Hạ trấn , Phụ Phượng quận , Đào Động trang Cổ điện phụng sự : Tam Kỳ linh ứng Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình . Thị thượng tôn cổ Thần hộ Quốc tý dân , thập phương ngưỡng vọng ( Là vị Thần từ đời cổ được tôn trọng bậc nhất , đã có công Hộ quốc , che chở cho dân , mà mọi miền đất Việt đều ngưỡng vọng ) Vạn cổ chí kim thế truyền linh ứng , đa Triều tái phong mỹ tự ( Từ cổ đến nay , được đời truyền tụng là linh ứng , nhiều Triều đại đã có Sắc gia phong với những lời ca ngợi đẹp đẽ ) Tứ kim gia phong ( Nay ban chiếu gia phong là ) Thượng đẳng Tôn Thần Hộ quốc tí dân , vạn đại linh ứng ( Vị Thần được tôn trọng bậc nhất , đã có công hộ Quốc , che chở cho dân , vạn năm linh ứng ) Chuẩn phụng sự chính lệ ( cho phép phụng sự , tế lễ theo chính lệ ) Trợ Thần tồn linh bảo ngã lê dân chí vĩnh . Khâm thử ! ( Để Thần tiếp tục linh ứng bảo vệ cho dân ta mãi mãi . Y lệnh !) 3 - Thiên Đức tôn hiệu đệ ngũ niên , trung thu , vọng nhật ( Năm Thiên Đức thứ hai , đời Vua Lý Nam đế , Ngày 15 tháng 8 âm năm 548 ) Lạc Việt quốc, Hùng Triều đệ thập bát diệp , sắc phong thuỷ Thần phát tích Hoa Đào trang , sơn Nam Hạ trấn . (Thời vua Hùng đời thứ 18 , nước Lạc Việt , đã sắc phong cho vị Thuỷ Thần phát tích tại Hoa Đào trang , Trấn Sơn Nam Hạ ) Sắc phong ( Vua Hùng sắc phong là ) Đệ nhất lương thần Vĩnh Công hộ quốc tí dân ( Vị Thần có đức lớn bậc nhất là Vĩnh Công , đã có công hộ quốc , che chở cho dân ta ) Hoá Thần Bính Dần niên , bát nguyệt , nhị thập ngũ nhật , sở tại Hoa Đào trang , Sơn Nam Hạ trấn , bộ Thang Truyền . Niệm đại công sinh thời hùng lược quảng đức phù Quốc an dân . Gia phong : Trấn Tây an Tam kỳ linh ứng đại vương , thượng đẳng quốc tế . Phóng chỉ ban hồi dữ . Hứa Hoa Đào trang ngưỡng Thần hiệu , trùng tu miếu điện , dĩ cẩn phụng sự chi lưu truyền hương hoả vạn thế , đắc Thần sở tiếp linh ứng phù hộ dân Việt bất hoại . Khâm dĩ ! (Vị thuỷ Thần hoá Thần ngày 25 tháng tám năm Bính Dần , tịch tại Hoa Đào trang , Sơn Nam Hạ trấn , bộ Thang Truyền . Nhớ đến đại công khi sinh thời của Vĩnh Công hùng lược quảng đức , hộ quốc an dân , Vua Hùng gia phong : Trấn Tây an Tam kỳ linh ứng Đại Vương , cho tổ chức tế lễ theo quốc lễ . Vua Hùng phóng chỉ ban , hẹn cho Hoa Đào trang tổ chức đón rước Thần hiệu , trùng tu miếu điện , phụng sự Thần nghiêm cẩn và lưu truyền hương hoả vạn đời , để Vĩnh công mãi linh ứng phù hộ cho dân ) Thư lại Lễ bộ Lý triều Chương thánh Gia Khánh nhị niên phụng soạn ( 15tháng 8 năm 548) . Tú tài Giáo học Đinh Đăng Quát cẩn sao . Cấm cung Bát Hải động Đình linh từ , chính nguyệt , sơ thập nhật , Quý Dậu niên ( chép lại ngày mồng 10 tháng giêng năm 1933) . 4 - Khải Định cửu niên , thất nguyệt , nhị thập ngũ nhật .( ngày 25/7/1924 ) Sắc ! Thái Bình tỉnh , Phụ Dực huyện , Vọng lỗ tổng , Đào Động xã . Phụng sự Trấn tây an nam , tam kỳ linh ứng tôn thần . Nẫm trứ linh ứng , tứ kim phi thừa . Cảnh mệnh miễn niệm thần hưu , trứ phong vi dực bảo Trung hưng linh phù chi thần , chuẩn kỳ phụng sự , thứ cơ thần kỳ , tương hữu bảo ngã lê dân . Khâm tai ! ... Câu thành ngữ dân gian : Tháng 8 giỗ Cha , tháng 3 giỗ Mẹ chính là để chỉ Hội tháng 8 ở Đền Đồng Bằng và Hội tháng 3 ở Đền Mẫu Phủ Dày . Đền đồng Bằng là nơi "đi trình về tạ" của các bản Hội tín ngưỡng trong toàn quốc từ xa xưa . Vì sao Đền Đồng Bằng thờ Vĩnh công Đại Vương lại có tên là Đền Đức Vua , hay còn gọi là Đền Đức Vua Bát Hải ? Tên này có từ bao giờ ? Theo các cụ thì : dựa vào truyền thuyết Vĩnh công chính là Thái Tử Giao Long ( như đã thuật ở phần trên , ngài là con vợ thứ của Lạc Long Quân ) . Vì thế khi Hùng Vương 18 cáo chung , Vua An Dương Vương Thục Phán lên ngôi , tuy cũng là dân Bách Việt nhưng thuộc dòng ngoại tộc , trong khi Vĩnh công đã hoá thần nhưng cực kỳ linh hiển phù trợ cho dân đất Việt , vì thế mà dân tôn sùng gọi ngài là Đức Vua . Lại có thuyết rằng : Sau khi đánh thắng giặc phương Bắc trên 8 cửa biển , Vua Hùng giao cho Vĩnh công cai quản vùng duyên hải Lạc Việt - Văn Lang , đặt tên là Tây Đô , vì thế dân gian gọi ngài là Đức Vua là từ ý này ... Đã có 1 thời gian , chúng tôi trăn trở rằng : vùng duyên hải ở phía đông Văn Lang - Lạc Việt , sao lại gọi là Tây Đô ? Mãi sau mới hiểu ra là : so với địa thế Bách Việt ( dưới nước Hoa Hạ cổ ) , thì Lạc Việt ở hướng Tây . Chứng cứ còn lại là vùng đất của Bách Việt ở sát ngay trên nước ta bây giờ , gọi là tỉnh Quảng Tây ( TQ) , cho nên ngày ấy vùng duyên hải Lạc Việt có tên Tây Đô vì thế .


Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Ngọc phả Trần Triều Tiết Chế Quốc Lão Hiển Tướng Đại Vương


Đền Bắc Lãm, thuộc thôn Bắc Lãm, xã Phú Lương, thành phố Hà Đông. Xưa, vào thời thuộc Minh gọi là huyện Ứng Bình, phủ Giao Châu, sang thời Lê đổi thành phủ Ứng Thiên. Vào triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long thứ 13 (1814) gọi là phủ Ứng Hòa. Trước đây, thôn Bắc Lãm, xã Phú Lương thuộc huyện Thanh Oai, theo sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: Tên Thanh Oai thấy nhắc đầu tiên từ thời nhà Lý, tức năm Trị Bình Thiên Ứng thứ 3 (1207), triều Lý Cao Tông gọi là Thanh Oai hương, sau đổi là huyện Thanh Oai. Vào cuối thế kỷ XIX, thôn Bắc Lãm thuộc thành phố Hà Nội, đến năm 1991, tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, thôn Bắc Lãm thuộc Hà Tây. Và đến ngày 1 tháng 8 năm 2008, thuộc thành phố Hà Nội. Hiện tại, ngôi đền toạ lạc rìa làng, trên một thế đất đẹp, từ làng vào đền phải đi qua một đoạn đường nhỏ, rộng chừng 02 mét và dài khoảng 500 mét, do vậy ngôi đền khá xa khu dân cư nên tạo được một không gian tĩnh lặng, thâm nghiêm ít có ngôi đình, ngôi chùa nào có được. Ngôi đền có kết cấu kiến trúc chữ Nhị gồm Đại bái, hậu cung và một số công trình bổ trợ khác. Khi chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu ngôi đền để trình UBND tỉnh Hà Tây (cũ) xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá được các vị cao niên truyền kể, ngôi đền thờ Đức thánh Trần, Tướng quân Phạm Ngũ Lão và Công chúa Anh Nguyên. Kết cấu kiến trúc ngôi đền còn khiêm tốn, các mảng chạm khắc trên các bộ vì mang dấu ấn đậm nét thời Nguyễn nhưng số lượng di vật khá phong phú với nhiều chất liệu khác nhau như bát hương, hương án, tượng Đức thánh Trần, Danh tướng Phạm Ngũ Lão, Công chúa Chiêu Anh..., nhóm di vật giấy có 05 đạo sắc phong gồm 01 sắc Cảnh Hưng thứ 40 (1779); 02 sắc Cảnh Thịnh thứ 7 (1799); 01 sắc Thiệu Trị thứ 4 (1844) và 01 sắc Tự Đức thứ 22 (1860). Đáng chú ý hơn cả chính là bản Ngọc phả Trần triều Quốc lão hiển tướng đại vương. Bản Ngọc phả này gần như còn nguyên vẹn, được cổ nhân viết trên giấy dó thể chữ chân, khổ 15 x 20, gồm 15 tờ.


Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Thần tích đền Dục Anh - Hòa Mục, Trung Hòa, Cầu Giấy


Theo thần tích được ghi trong tư liệu lịch sử của đình làng Hòa Mục, bà Phạm Thị Uyển là con gái đầu trong một gia đình ở quận Nam Xương. Cha là ông Phạm Huyên, hiệu là Minh Dực, mẹ là Phùng Thị Thảo hiệu Diệu Hoa. Gia đình Phạm Công ăn ở phúc đức mà muộn đường con cái nên ông bà ngày đêm đến chùa cầu cúng. Một ngày kia ông bà được báo mộng có người nối dõi. Từ đấy, bà mang thai và đồng sinh một gái, hai trai. 

Phạm Thị Uyển là chị cả, dưới còn Phạm Miện và Phạm Huy. Hai người em bà sau này đều là các danh tướng trong cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng.

Năm Phạm Thị Uyển 18 tuổi lấy Mai Thúc Loan. Khi Mai Thúc Loan khởi nghĩa thắng lợi lên ngôi hoàng đế, Phạm Thị Uyển trở thành hoàng hậu. Quân Đường thua trận nhưng không chịu bỏ mộng xâm lăng. Bởi vậy, nhà Đường sai Dương Tư Húc mang 10 vạn quân sang đánh. Thế giặc mạnh làm cho đội quân gồm những nông dân khởi nghĩa phải lui dần rồi bị tan vỡ.
Trong trận quyết chiến ở phủ thành Tống Bình, hoàng hậu Phạm Thị Uyển cũng dẫn đầu một cánh quân thủy giao chiến ác liệt với quân địch trên dòng Tô Lịch. Bấy giờ sông Tô còn là một nhánh của sông Hồng và là mặt án ngữ phía tây của thành Đại La. Thế giặc mạnh, quân ta bị đuối dần. Thế cùng lực kiệt nhưng quyết không để rơi vào tay giặc, hoàng hậu Phạm Thị Uyển đã nhảy xuống sông Tô Lịch tự vẫn.

Xác bà trôi dạt đến địa phận trang Nhân Mục (nay là làng Hòa Mục) thì được nhân dân lén vớt lên chôn cất, rồi lập đền thờ. Đó chính là đền Dục Anh ngày nay nằm trên đường Nguyễn Ngọc Vũ, quay mặt ra sông Tô Lịch ở đoạn gần cầu Trung Hòa.
Đền Dục Anh bên sông Tô Lịch là nơi thờ nữ tướng - hoàng hậu Phạm Thị Uyển. 

7 thế kỷ sau, vào thời nghĩa quân Lam Sơn tiến lên tổng công kích quân Minh, một lần Lê Lợi nghỉ đêm ở miếu Dục Anh được thần báo mộng sẽ âm phù cho quân khởi nghĩa diệt giặc. Vậy là mối thù hơn 7 thế kỷ trước của bà đã có dịp trả khi bà phù giúp Bình Định Vương Lê Lợi đánh tan giặc phương Bắc. Cũng nhờ đó, sau này khi lên ngôi vua, Lê Lợi đã sắc phong cho bà là Khiêm Sung đại vương. 
Ngày nay, Khiêm Sung đại vương được thờ ở đền Dục Anh, nơi xác bà trôi về sau khi tuẫn tiết và đình làng Hòa Mục. Hơn ngàn năm qua, nhân dân vẫn kính cẩn thờ tự người nữ anh hùng. Trước khi triều Lê phong cho bà là Khiêm Sung đại vương thì từ thế kỷ 8, dân địa phương đã lén lập miếu thờ bà ngay tại nơi xác bà trôi về. Trong tâm chí người dân, vị hoàng hậu dũng cảm đã là một vị thành hoàng che chở cho dân làng từ lâu.

Tiếp bước Bà Trưng, Bà Triệu, hoàng hậu Phạm Thị Uyển lại làm cho lịch sử phải nhìn nhận lại vai trò của người phụ nữ. Bà là một điển hình tiêu biểu cho bản sắc Việt Nam nói chung, bản sắc người phụ nữ nói riêng. Nếu như sinh thời nhà văn Nguyễn Đình Thi từng nói: “dân tộc ta có tướng giỏi cầm quân và người phụ nữ là đáng để nói với thiên hạ” thì ở trong một hình tượng hoàng hậu Phạm Thị Uyển dường như có sự tích hợp cả hai cái đó. Là hoàng hậu “mẫu nghi thiên hạ” nhưng bà cũng là một dũng tướng dám anh dũng hi sinh ngay giữa trận tiền để bảo vệ độc lập tự do của tổ quốc.

Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Bát nạn công chúa


BÁT NẠN CÔNG CHÚA
Xã Phượng Lâu, huyện Phù Ninh thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay, xưa kia là một trang ấp dưới thời đại vua Hùng. Ông bà Chất Vũ và Hoàng Thị Mẫu là người hiền lành nhân đức, chuyên làm nghề thuớc. Ông bà sanh được một người con gái tên là Thục Nương. Lớn lên, Thục Nương nổi tiếng tài đức, sắc mạo kiêm toàn. Ông bà đã nhận gả nàng cho một thiếu niên anh tuấn tên Phạm Danh Hương, quận trưởng quận Nam Châu.
Tiếng tài sắc của Thục Nương đến tai viên thái thú nhà Hán là Tô Định. Hắn lập tức cho mời ông Vũ Chất đến dinh để cầu thân. Ông bà Vũ từ chối, nói thực là con gái mình đã có chồng. Tô Định không tin, sai mời cả Phạm Danh Hương đến dự tiệc để xem việc thực hay giả. Đó chính là âm mưu ác độc của hắn. Ngay giữa buổi tiệc, hắn kiếm cớ giết cả hai người, Vũ Chất và Phạm Danh Hương. Sau đó hắn cho quân lính đến ngay trang Phượng Lâu để bắt nàng Thục Nương.
Những người thân tín của Vũ Chất ở trong dinh thái thú, đã kịp thời báo tin dữ về. Thục Nương rất căm giận. Nàng vội vàng thu xếp cho mẹ và mọi người trong gia đình mau mau lánh nạn, Còn nàng thì ở lại chờ đợi. Bọn tướng tá của Tô Định vừa tìm đến cổng trang thì Thục Nương múa đôi thanh kiếm, xông vào, giết chết ngay tên cầm đầu cùng một số binh lính. Chúng hoảng hốt tháo chạy. Ngay lúc đó, Thục Nương đã nhanh chân lánh mình. Nàng đi mãi, đến một ngôi chùa nhỏ ở ấp Tiên La bên bờ sông Thiên Đức thì dừng chân nghỉ.
Đêm ấy, dân làng Tiên La đều nằm mộng thấy vị thành hoàng bản báo cho biết là tại chùa Tiên La có thần nữ đến nghỉ chân. Sáng mai, dân chúng kéo nhau vào chùa, thì thấy ở điện tam bảo có một người con gái, hai tay cầm kiếm, đang ngồi núp trong một góc. Thục Nương thấy có đông người kéo vào, tưởng là bọn giặc do Tô Định sai lùng bắt mình, liền múa kiếm toan chống trả. Dân làng vội vàng quì xuống, kể lại giấc mộng. Họ hỏi kỹ dầu đuôi câu chuyện, và họ cũng căm ghét tên Tô Định, ai nấy đều xin làm thủ hạ của nàng. Thục Nương thấy lòng dân trung nghĩa, nghĩ rằng nơi dây rất thuận lợi cho việc gây dựng cơ đồ, nên vui lòng ở lại.
Từ đó, nàng Thục Nương ở chùa Tiên La. Nàng cạo đầu giả làm sư tiểu, coi giữ nhà chùa. Nhưng ngày đêm thì lo chiêu dụ quân tướng, tích trử lương thực, tập tành võ nghệ. Dần dần cả ấp trở thành một căn cứ của hàng nghìn dân trang, thế lực mạnh mẽ, có thể đương đầu với giặc. Thục Nương kéo cờ khởi nghĩa, tự xưng là Bát Nạn Đại Tướng Quân.
Lúc này, hai bà Trưng đã khởi nghĩa ở Phong Châu, truyền lệnh đi khắp nơi, mời các anh hào về tụ nghĩa. Sứ giả đến Tiên la. Nữ tướng lúc đầu còn dùng dằng cân chắc vì chưa biết tài đức và thực lực của bà Trưng như thế nào. Song đến đêm, Nàng nằm mộng, thấy một nữ thần vâng lệng trời xuống giao cho Bát Nạn tướng quân một lá cờ xanh và đọc cho nghe bốn câu:
Nữ binh nữ tướng
Thiên dĩ định danh
Vật khả độc lập
Sự nãi bất thành
Nghĩa là:
Tướng gái quân gái
Trời đã nêu danh
Chớ đứng một mình
Việc không thành được.
Bát Nạn tướng quân tỉnh dậy, nhớ lời thần mộng, liền ra tiếp sứ thần và xin qui tụ dưới cờ Trưng chúa.
Bà Trưng trưng dụng Bát Nạn tướng quân, phong làm tiền bộ, đánh đâu dược đấy. Khi đuổi được giặc Hán, Trưng chúa lên ngôi vua, phong cho Bát nạn làm Trinh Thục công chúa, cho hưởng lộc tại ấp Tiên La, và cho về Phượng Lâu thăm họ hàng làng nước. Cả hai nơi từ đó được ơn đức của Thục Nương.
Giặc Hán lại kéo quân sang xâm lược. Quân ta đón đánh nhìều trận, nhưng không lợi thế. Bà Trưng phải rút vế Cẩm Khê. Bát Nạn tướng phải chống đỡ để bảo vệ nữ chúa, cuối cùng cũng phải rút về Tiên La. Tại đó, dân chúng bảo vệ bà rất kín đáo, giặc không sao tìm được tung tích. Mãi đến một đêm, bà đang cùng với một số người thân tín đứng đưới ánh trăng bà tính chuyện nước thì giặc Hán ở đâu kéo ập vào. Bát Nạn tướng quân liền rút kiếm ra chống đỡ, tiêu được một số giặc. Giặc càng kéo vào đông thêm. Bát Nạn tướng quân phá vòng vây, chạy đến một gốc cây tùng thì hóa. Hôm đó đúng vào ngày 18 tháng ba. Sao này nhân dân lập đền thờ bà ngay dưới cây tùng và lấy ngày ấy làm lễ. Các vùng Phượng Lâu, Đức Bác ở Vĩnh Phú và Tiên La ở Thái Bình đều có đền thờ.

Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn 

Đền Lảnh Giang

Đền Lảnh Giang (nhân dân thường gọi là Đền Lảnh) nằm trong địa phận thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Theo Thần Phả, Đền này thờ Tam vị danh thần họ Phạm đời Hùng Vương thứ 18, Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử.


Căn cứ vào thần tích “Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích” (sự tích ra đời một vị thuỷ thần triều vua Hùng(() Thần tích này do Bát phẩm thư lại Nguyễn Hiền, tuân theo bản cũ triều trước, chép lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736). Thần tích đang được lưu giữ tại Đền Lảnh.) cùng các sắc phong, câu đối, cũng như truyền thuyết địa phương thì lịch sử ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Vương được thờ ở Đền Lảnh Giang như sau:

Ngày xưa, ở trang An Cố, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Ninh, trấn Sơn Nam có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, chỉ hiềm một nỗi ông bà tuổi đã cao mà vẫn chưa sinh được một mụn con nối dõi.

Một đêm trăng thanh gió mát, vợ ông (bà Trần Thị Ngoạn) đang dạo chơi bỗng gặp một người con gái nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, không có anh em thân thích, đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô về làm con và đặt tên là Quý. Ông bà coi nàng Quý như con ruột của mình. Vài năm sau, trong lúc gia đình đang vui vầy, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm một nơi đất tốt để an táng cho ông.

Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn lấy nàng, khiến nàng kinh hoàng ngất lịm. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình nằm bên bờ sông và thuồng luồng đã bỏ đi. Từ hôm đó nàng thấy trong lòng chuyển động và mang thai. Không chịu được những lời gièm pha khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở Trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc). Rồi đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm Tân Tỵ, nàng Quý chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điểm chẳng lành, nàng liền đem chiếc bọc đó quẳng xuống sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao” Khấn xong ông Minh rạch ra, bỗng thấy ba con rắn từ trong bọc trườn xuống sông. Con thứ nhất theo hướng về cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám – nơi nàng Quý đang sinh sống. Nhân dân các trang ấp trông thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.

Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi cơn giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều thấy dưới sông có tiếng người ngâm vịnh:

Sinh là tướng, hóa là thần

Tiếng thơm còn ở trong dân muôi đời

Khi nào giặc dã khắp nơi

Bọn ta mới trở thành người thế gian(1)

(1)Tương truyền ba vị tướng thời Hùng là con của Bát Hải Long Vương và Nàng Quý. Nàng Quý là con nuôi của vợ chồng ông Phạm Túc. Do vậy về sau nhân dân ghép họ Phạm cho các ông.).

Bấy giờ Thục Phán – thuộc dòng dõi tôn thất vua Hùng, thấy Duệ Vương tuổi đã cao mà không có con trai, nên có ý định cướp ngôi. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc, chia quân làm 5 đường thuỷ bộ cùng một lúc đánh vào kinh đô. Duệ Vương cho gọi tướng sĩ lập đàn cầu đảo giữa trời đất. Đêm ấy nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thuỷ thần sinh ở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉnh dậy Duệ Vương liền cho sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang Đào Động (nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng mình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Phạm Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó, ông Phạm Vĩnh gọi hai em đến bái yết thân mẫu, rồi cùng nhau đi yết kiến Duệ Vương. Vua Hùng liền phong cho ông là Trấn Tây, giữ các vùng Sơn Nam, ái Châu, Hoan Châu. Hai em và các tướng hợp lại, dưới sự chỉ huy của ông, 5 đạo quân Thục đều bị tiêu diệt.

Nghe tin thắng trận, Duệ Vương liền truyền lệnh giết trâu, mổ bò khao thưởng quân sĩ. Vì có công lớn nên nhà vua lại phong cho ông là “Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần” nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua Hùng đồng ý, ông Phạm Vĩnh cùng hai em về quê hương bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng.

Thấy ở bên sông có khu đất tốt, ông Phạm Vĩnh cho lập đồn dinh cư trú, ban cho dân 10 hốt vàng để mua ruộng đất, khuyến khích nông trang, khuyên mọi người làm việc thiện lương. Nhờ công đức của ông mà nhân dân khắp vùng được sống yên vui.

Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình.

Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là “Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ưng Thái Thượng Đẳng Thần”, đồng thời đặt lệ quốc lễ, ban sắc chỉ cùng 400 quan tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu để phụng thờ. Các triều đại sau đó cũng có sắc phong cho ông (hiện trong đền còn giữ 12 sắc phong. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7, ngày 18 tháng 10 có chép: “Sắc cho xã An Lạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam phụng thờ Trấn An Tây Nam Tam Kỳ Linh ứng triều Hùng thiêng liêng rõ rệt, trước đây chưa có dự phong. Gặp nay trẫm vâng chịu mệnh lớn, nghĩ đến công thần biểu dương phong cho vị thần, phò giúp nền nếp quốc gia, cho phép y theo lệ cũ kính thờ”.

Hàng năm tại Đền Lảnh Giang, nhân dân địa phương tổ chức 2 kỳ lễ hội chính vào các ngày từ 18 đến 25 tháng 6 và tháng 8 âm lịch. Theo tục lệ địa phương thì kỳ lễ hội tháng 6 là để dành cho các khách thập phương, còn kỳ lễ hội tháng 8 chủ yếu dành cho các khách quanh vùng. Những ngày này thường gặp nước sông Hồng dâng cao nhưng lòng dân vẫn hướng về ngày lễ hội. Có nhiều năm nước ngập nhưng các thiện nam tín nữ cùng nhân dân bản địa vẫn bơi thuyền ra đền dâng lễ và thực hiện đầy đủ các nghi thức để tỏ lòng tôn kính tam vị danh thần họ Phạm, Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

Cụ Bùi Bằng Đoàn(() Cụ Bùi Bằng Đoàn (1886 – 1953) là người xã Liên Bạt, huyện Sơn Lăng tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây). Cụ đỗ Cử nhân năm Thành Thái thứ 18 (1906), làm Thượng thư Bộ Hình. Sau Cách mạng tháng tám 1945, cụ được làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bài thơ này cụ viết vào tháng 2/1907.) khi viết về công lao đánh giặc của ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Vương thờ tại Đền Lảnh Giang trong tập sách “Giang Sơn cổ tích đề vịnh”, có bài thơ như sau:

“Hùng gia quý thế tam huynh đệ 

Phạm tộc giang hương phả tượng truyền

Phá tặc an dân nhân dĩ viễn

Anh thanh thiên cổ nguyệt cao huyền”.

Dịch là:

Anh em ba vị cuối triều Hùng

Họ Phạm quê nhà xóm bãi sông

Đánh giặc cứu dân người đã khuất

Còn nêu sự nghiệp sáng trăng trong.

Trong báo cáo ngày 16/5/1996, cơ quan Bảo tàng lịch sử tỉnh Nam Hà (cũ) có nhận xét: Đền Lảnh Giang là di tích thờ ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Duệ Vương có công lao đánh giặc Thục, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc. Khi đất nước thanh bình, các ông là những người quan tâm, chăm lo đến sản xuất, làm cho đời sống nhân dân ngày một ấm no hạnh phúc... Đền Lảnh Giang là công trình kiến trúc quy mô, uy linh, bề thế, mang đậm nét nghệ thuật kiến trúc và xây dựng cổ truyền của dân tộc. Tại đây còn giữ được nhiều cổ vật thờ cúng có giá trị cao về nghệ thuật.

Từ những giá trị về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cổ truyền dân tộc của Đền Lảnh Giang, ngày 5/11/1996, Bộ Văn hóa Thông tin đã cấp bằng công nhận đền Lảnh Giang là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Nguồn bài viết lấy từ Diễn đàn công đồng tứ phủ hoangbo.vn