Cội nguồn họ Phạm

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Văn bia thánh Phạm Sỹ

Thường nghe rằng:

Thánh thần thượng đẳng, công đức sự nghiệp vượt quá bình thường mà sau đó trời cao giao cho nhiệm vụ. Chủ tế và dân chúng cùng nhờ được sự che chở.
Kính nghĩ rằng tôn thần:
Là cây đại tùng hóa thân, là con Hoàng Long ứng thế.
Động Lôi Nham hun đúc, Thần La Hán dáng sinh.
 
Lúc thiếu thời:

Ngài bẩm chất thông minh.
Thiên tư hiếu thảo, học xuyên Khổng Mạnh cung đường.
Tài giỏi Tôn ngô thao lược.
Thật là văn võ toàn năng.
 
Khi lớn lên:

Văn chương uyên bác
Phạm Thái Bảo kiến tri
Tài nghệ tinh thông
Hưng Đạo Vương tiến cử.
Vua khen kỳ tài, liền được trọng dụng.
“Tham nghị trong triều, tuần tra Phong hóa”
Nghiễm nhiên là khuôn mẫu đại thần.
Đương khi nhà Trần nước nhà gặp nạn ngoại xâm, Ô Mã Nhi đem 100 vạn hùng binh tiến vào Cao bằng, Thái nguyên lãnh thổ, khí thế dũng mãnh như roi quất đứt dòng, định nuốt trôi một dải Hồng hà.
Tình hình khẩn cấp nguy nan như thể chẻ sợi tóc, Đại dương thiết chế một đạo Hải dương, ung dung một vị tướng nho quắc thước, trọng thần biên khổn. Ngài cùng Thượng tướng Trần Hưng Đạo và Tham tán Phạm Ngũ Lão chung sức đánh giặc Nguyên, lẫy lừng như sấm vang chớp giật trong trận Vân Đồn, Bạch Đằng Giang phá tan quân Nguyên, bắt được tướng giặc, một xe không thoát, một ngựa không còn, dẹp xong giặc Nguyên giữ vững giang sơn nhà Trần, yên như thái sơn bàn thạch.
Ghi lại đương thời, kỳ mưu chiến thắng một đạo Hải dương, tiết chế công to dẹp Hổ.
Về sau nhờ uy linh âm phù.
Thần kiếm đến Châu Xá, Thái úy cầu đảo mà giúp công diệt Mạc.
Than ơi! Mưu lược bao la, công lao to lớn, lịch sử còn ghi, khói hương nghi ngút.
Nơi đây:       Cung đình Châu Xá
                    Trăng nước Châu giang
                    Ánh trăng lồng lộng
                    Ngựa đá kêu vang
                    Dòng nước nao nao
                    Cờ bay khắp chốn
                    Anh linh hiển hách
                    Đại vương vang danh vạn cổ.

Bia ghi: Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 5, trung tuần tháng giêng.
Đưa bản dịch lên Website chaukhe.com Q.Tiền

Tiến sỹ Nho học huyện Đường An (15 TS họ Phạm)

Bia văn chỉ huyện Đường An

Trên khu đất đình làng Hoạch Trạch tức làng Vạc thuộc xã Thái Học huyện Bình Giang còn nhiều bia đá. Trong số ấy có bia văn chỉ huyện Đường An.
 Bia cao hơn đầu người đặt trên bệ đá, 2 mặt khắc chữ Hán. Một mặt đề: “ Đường An văn chỉ bia” nói mục đích dựng bia để tôn sùng đạo Khổng chấn hưng văn hiến và ghi tên những người đã góp công của vào việc xây dựng bia văn chỉ. Một mặt đề: “Lịch dai tiên hiền bi” khắc tên các vị hiền tài của các làng trong huyện từ trước đến nay.
Đường An là tên huyện Bình Giang từ thế kỷ 12 thời nước ta thuộc nhà Đường nước Tàu, từ năm 618 đến năm 907. Năm 1885, vì kiêng tên vua Đồng Khánh là Đường mà đổi thành Năng An. Năm 1895, bỏ cấp phủ lấy tên phủ Bình Giang thay cho tên Năng An.
Ngày xưa ta học chữ Hán theo đạo ông Khổng Tử, nên ở kinh đô, ở ty, sở xác tỉnh đều xây văn miếu, ở từng huyện xã xây văn chỉ để thờ đức Khổng Tử và các học trò của ông. Hằng năm cứ đến mùa xuân, mùa thu, những người có học vị ở từng cấp lại tụ họp làm lễ đức Khổng Tử. Văn tế mời các vị có học vị, có công lao với dân, với nước đã qua đời gọi là các bậc tiên hiền về cùng hưởng.
     Tiên hiền bao gồm những người đỗ học vị tiến sỹ và những người không đỗ tiến sỹ nhưng làm quan có nhiều công trạng, được phong chức tước cao hay mở trường dạy học, hay nuôi nấng con cháu nhiều người đỗ tiến sỹ. Ngày xưa học trò thi hương đỗ cử nhân, mới được vào thi hội. Đỗ thi hội mới vào thi đình. Thi đình để phân những người đỗ thi hội làm 3 loại: Đệ nhất giáp tiến sỹ được học vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa; Đệ nhị giáp tiến sỹ được học vị hoàng giáp; Đệ tam giáp tiến sỹ được học vị đồng tiến sỹ. Từ thời Lê về sau cứ 3 năm một lần thi hương và thi hội.
     Bia văn chỉ huyện Đường An dựng năm Thiệu Trị thứ 4, triều Nguyễn Gia Long năm 1844. Bài văn bia do cụ đỗ tiến sỹ khoa Bính Tuất 1826 chức Bắc Ninh học chính, quán làng Lương Đường kêu là Vũ Như Phiên soạn. Làng Lương Đường(Lương Ngọc) nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang, tỉnh hải Dương.
     Bia ghi họ và tên, học vị, chức tước 109 tiên hiền của 24 xã thuộc huyện Đường An.
     Lược kê tiên hiền từng xã như sau:
1.     Mộ Trạch có 42 tiên hiền, trong đó có 36 tiến sỹ gồm: Một trạng nguyên: Lê Nại; 9 hoàng giáp là: Vũ Hữu, Vũ Đức Khang, Vũ Quỳnh, Vũ Đôn, Vũ Cán, Lê Tử, Vũ Bạt Tụy, Lê Quang Bí, Vũ Đình Lâm;  26 đồng tiến sỹ là: Vũ Nghiêu Tá, Vũ Hán Bi, Vũ Nguyên Trinh, Vũ Hằng Trình, Vũ Lân Chỉ, Nhữ Mậu Tô, Vũ Tĩnh, Vũ Lương, Vũ Trác Lạc, Vũ Đăng Long, Vũ Công Lượng, Vũ Bật Hài, Lê Công Triều, Vũ Duy Doãn, Vũ Công Bình, Vũ Duy Khuông, Lê Cảnh Tuấn, Vũ Cầu Hối, Vũ Công Đạo, Vũ Đường, Vũ Đình Thiều, Vũ Trọng Trình, Nguyễn Thường Thịnh, Vũ Đình Ân, Vũ Phương Đề, Vũ Huy Đĩnh; 6 tiên hiền không có học vị tiến sỹ là: Vũ Nạp, Cự Họ Tạ, Vũ Duy Chí, Vũ Phương Tượng, Vũ Văn Hành, Vũ Phương Nhạc.
2.     Ngọc Cục có 8 tiên hiền trong đó có 2 hoàng giáp là: Bùi Danh Kiên, Trương Hữu Bùi; 6 đồng tiến sỹ là: Vũ Thiệu, Vũ Huy Viên, Phạm Điển, Phạm Liễn, Phạm Hữu Dung, Đào Tuấn Ngạn.
3.     Lương Đường có 8 tiên hiền trong đó có 2 hoàng giáp là: Đoàn Đức Pho, Nguyễn Dung; 6 đồng tiến sỹ là: Nguyễn Luân, Phạm Dương Úng, Vũ Huy Viêm, Phạm Quy Thích, Vũ Đức Khuê, Vũ Như Phiên.
4.     Hoạch Trạch có 7 tiên hiền trong đó có 2 hoàng giáp là: Vũ Tụ, Vũ Công Điệu; 5 đồng tiến sỹ là: Trần Vĩ, Nhữ Tiến Dụng, Nhữ Đình Hiền, Nhữ Trọng Thai, Nhữ Đình Toản.
5.     Đan Loan có 6 tiên hiền trong đó có 1 thám hoa là: Vũ Thạnh; 5 đồng tiến sỹ là: Bùi Thế Vinh, Vũ Huyên, Vũ Huy, Vũ Trần Tữ, Đào Vũ Hướng.
6.     Đình Tổ có 4 tiên hiền trong đó có 2 đồng tiến sỹ là: Vũ Đăng, Vũ Công Phự; 2 tiên hiền không có học vị tiến sỹ là: Trần Tiên và Đỗ Cảnh Lạc.
7.     Thời Cử có 3 tiên hiền, trong đó có 1 bảng nhãn là: Nguyễn Toàn An; 2 đồng tiến sỹ là: Nguyễn Lũ và Nguyễn Công Đạt.
8.     Lôi Khê có 3 tiên hiền trong đó có 1 đồng tiến sỹ là: Vũ Sâm và 2 tiên hiền không có học vị tiến sỹ là: Chu Lộc và Phạm Nguyện.
9.     Đào Xá có 3 đồng tiến sỹ là: Phạm Hựu, Phạm Quang Chiêu, Đào Huy Điển. (Nay Đào Xá thuộc huyệ Ân Thi)
10. My Thứ có 3 đồng tiến sỹ là: Lê Kim Quế, Lê Kim Bàng, Phạm Minh.
11. Lỗi Dương có 2 hoàng giáp là: Phạm Tăng và Phạm San.
12. Tuy Lại có 2 đồng tiến sỹ là: Vũ Loan và Vũ Mật.
13. Châu Khê có 2 đồng tiến sỹ là: Ngô Văn Huy và Hoàng Xuân Linh.
14. Trâm Khê có 2 đồng tiến sỹ là: Nguyễn Kính Chỉ và Nguyễn Đức Phu
15. Tòng Tranh có 2 đồng tiến sỹ là: Ngô Tuy và Nguyễn Bách Tuế.
16. Vĩnh Lại có 2 đồng tiến sỹ là: Đỗ Chính Lạc và Bùi Hoàn Khánh.
17. Nhữ Xá có 1 hoàng giáp là: Lê Thọ Khảo và 1 đồng tiến sỹ la: Nhữ Tôn.
18. Hà Xá có 1 đồng tiến sỹ là: Vũ Đức Lâm.
19. Hường Gián có 1 đồng tiến sỹ là: Đinh Khắc Minh.
20. Thanh Gián có 1 hoàng giáp là: Nguyễn Bá Dong.
21. Bì Đổ có 2 đồng tiến sỹ là: Phạm Thuần Nhiên và Phạm Thiên Túc.
22. Lý Đông có 1 đồng tiến sỹ là: Phạm Nguyên.
23. Bình Đê có 1 thám hoa là: Lưu Khắc Chuyên.
24. Tuấn Kiệt có 1 đồng tiến sỹ là: Phạm Đình Chung.
Q.Tiền sưu tầm
Nguồn tin: chaukhe.com

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

THƯỢNG THƯ PHẠM ĐÌNH TRỌNG ANH HÙNG THỜI LOẠN VÀ BI KỊCH CUỘC ĐỜI

Danh nhân lịch sử Phạm Đình Trọng, một nhà khoa bảng có nhiều đóng góp với triều đình Lê - Trịnh, qua nhiều thế kỷ được nhân dân tôn thờ, nhưng một thời gian dài tên tuổi bị lu mờ, các nơi thờ tự bị xâm hại, lãng quên...Mới đây, được sự giúp đỡ của giới lịch sử học, các nhà bảo tồn bảo tàng, hậu duệ đời thứ 17-18 của cụ Thượng Phạm đã mở hành trình tìm về quá khứ, phát hiện được nhiều chứng cứ để "minh oan" cho Phạm Đình Trọng. Và lịch sử đã công bằng trả lại vị trí cho ông: hội thảo khoa học về thân thế sự nghiệp Tiến sĩ - Thượng thư Phạm Đình Trọng do giới sử học Việt Nam tổ chức; đình Khinh Dao, nơi thờ Phạm Đình Trọng làm thành hoàng được xếp hàng cấp quốc gia, Nhà nước đầu tư gần 20 tỷ đồng để tu bổ, tôn tạo; đền miếu thờ Quan Thượng quận ở Khinh Dao được xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố...
   Phạm Đình Trọng xuất thân và nhập thế ở xã hội Đại Việt vào giữa thế kỷ 18, khi mâu thuẫn giữa nông dân và phong kiến phát triển lên một đỉnh cao, biểu hiện thành cao trào nông dân khởi nghĩa mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu. Chính lúc này sự tồn vong của triều đình Lê - Trịnh trước cao trào khởi nghĩa nông dân lại được đảm bảo bằng tài năng của danh tướng Phạm Đình Trọng. Giáo sư sử học Văn Tạo cho rằng: Để đánh giá đúng sự thật về Phạm Đình Trọng cần hiểu biết sâu về đối thủ không đội trời chung của ông là Nguyễn Hữu Cầu - người đánh thắng nhiều tướng tài của Lê - Trịnh mà chỉ có thua Phạm Đình Trọng. Nguyễn Hữu Cầu, người làng Lôi Động, huyện Thanh Hà, tỉnh Quảng Ninh. Ông là người mạnh khoẻ, nhanh nhẹn, chiến đấu hăng, mưu trí, quyền biến trăm đường, nhiều lần bị mấy vòng vây, chỉ một mình một ngựa vượt vây xông ra, rồi một vài hôm lại có quần chúng hàng vạn người. Ông được coi là Hạng Vũ nước Nam, có tài "nhất hô bách ứng".
   Trong cuộc chiến kéo dài giữa Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu đều trổ hết tài năng. Nhưng phần thắng cuối cùng đã thuộc về triều đình Lê - Trịnh mà công lao xuất sắc nhất đã được ghi về Phạm Đình Trọng: năm Tân Mùi (1751), tháng giêng, mùa xuân, Phạm Đình Trọng bắt được Nguyễn Hữu Cầu ở Nghệ An. Thế rồi bi kịch cũng đã xảy ra với Phạm Đình Trọng. Sau khi diệt Nguyễn Hữu Cầu, Phạm Đình Trọng phụng mệnh đi trấn thủ Nghệ An kiêm đốc binh châu Bố Chính. Thấy nhân dân một số nơi thiếu đói, ông xin cho xá thuế, thi hành đức trị nên đất Nghệ An, Bố Chính dân được an cư lạc nghiệp. Ông còn cho lập các đội hương binh ở Nghệ An, lại đặt các đồn binh liên hoàn ở những nơi xung yếu, cùng hương binh canh phòng tuần tiễu giữ gìn an ninh trật tự. Một số quan đại thần, tướng lĩnh cao cấp của triều đình Lê - Trịnh hẹp dạ, vốn ghen tài thấy thế lại gièm pha với chúa Trịnh rằng ông mưu phản. Chúa Trịnh Doanh tin lời xiểm nịnh, muốn chặt vây cánh của vua Lê đã ép Phạm Đình Trọng uống thuốc độc chết vào đêm 30 Tết năm Giáp Tuất (1754). Khi sứ giả của Phủ Chúa đem rượu độc vào ban cho ông được chết toàn thây. Một bộ tướng cầu xin ông vào Nam theo Chúa Nguyễn, nhưng ông không nghe lời, cho mời Đốc đồng Nguyễn Danh Lâm căn dặn mọi việc để giữ yên xứ Nghệ, rồi lặng lẽ mặc triều phục hướng về Bắc vái vọng vua Lê, đoạn uống cạn chén rượu độc Chúa ban. Năm ấy, Phạm Đình Trọng mới 41 tuổi, tài năng đang ở độ chín. Trong Văn tế ông, Tiến sĩ Nguyễn Danh Lâm thảng thốt khóc than: "Tướng công hà cớ gì mà phải chết!? - Ngài là bậc quốc gia dựa cậy. Như cột trụ, như đá tảng giữa dòng nước xiết, triều đình tưởng trông. Ngài là một văn chương đạo đức, được dân chúng thực sự ngưỡng vọng. Ngài như cam lồ, mưa lành, phương trấn thảy đều chờ mong..." và đánh giá: "Chưa bốn mươi, chức Thượng thư, với người là sớm, với Ngài là còn chậm! Đội mũ nhà nho làm Tướng, với người thì lạ, với Ngài đúng sở trường..."
   Có thể nói, sự kết thúc cuộc đời bi thảm của cả hai nhân vật Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu là sự kiện tiêu cực điển hình của xã hội Đại Việt giữa thế kỷ 18, khi chế độ phong kiến đi xuống.
    Phạm Đình Trọng, người làng Khinh Giao, huyện Giáp Sơn, trấn Hải Dương, nay là thôn Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Mùi (1739), niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 5 đời vua Lê Ý Tông. Ông từng giữ chức Phó đô ngự sử, vào phủ Chúa Trịnh (Phủ Liêu) làm Bồi Tụng, tước Dao linh hầu. Sau đó, được bổ giữ chức Hiệp trấn 3 đạo Đông, Nam, Bắc. Năm 1750, vì có công dẹp cuộc nổi dậy của Nguyễn Hữu Cầu (Quận He), Phạm Đình Trọng khi ấy mới 36 tuổi được thăng chức Thượng thư bộ Binh, hàm Thái tử Thiếu bảo, tước Hải Quận công. Trong lời Chế phong, vua Lê Hiển Tông đã tán dương tài năng, đức độ của ông như sau: "Xét Phạm Đình Trọng: Tài năng dùng làm cột trụ, làm đá tảng cho Nhà nước, khí độ cao như núi cao. Trời phú cho văn chương, tuổi trẻ nổi tiếng khoa giáp. Tỏ khí nghiệp từ lúc làm quan nhỏ, sắn có ước mong công hầu...".
     Phạm Đình Trọng là một con người tài cao, chí lớn, được đương thời và hậu thế hết sức nể trọng. Sử gia Phan Huy Chú đã ghi tên Phạm Đình Trọng tề danh với các bậc tài năng kiệt xuất như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Duy Thì, Đặng Đình Tướng, Nguyễn Nghiễm...Phan Huy Chú bình phẩm về con người ông bằng những lời khen ngợi: "Ông sinh ra đã có vẻ khôi ngôi. Năm lên 8 tuổi học vỡ lòng, đã hiểu được luật thơ. Khi lớn, văn chương hùng hồn...Ông tài kiêm văn võ, làm bậc nguyên thần của nước, là danh tướng làng nho, công lao sự nghiệp kỳ vĩ, gần đây chưa thấy có".
   Phạm Đình Trọng sinh ra trong một gia tộc nối đời nho học, thế phiệt trâm anh nên đã kế thừa, phát huy truyền thống gia đình. Ông vốn dòng dõi danh sĩ Phạm Sư Mạnh đời Trần, Phạm Gia Mô đời Hậu Lê, cao tổ là Phạm Chất Lượng làm đến chức Tả thị lang bộ Hộ, tước Hồng Nguyên hầu, tằng tổ là Phạm Huy Ánh làm đến chức Đô ngự sử hàm Thái tử Thiếu bảo, tước Yến Dực hầu; cha là Phạm Doãn Địch, Giám sinh Quốc tử giám làm đến chức Tri phủ phủ Thiệu Phong.
   Năm 1912, khi soạn bộ "Nam Hải dị nhân liệt truyện" (Truyện những người kỳ lạ ở đất Nam Hải), Phan Kế Bính lựa chọn tất cả 50 nhân vật, sắp xếp theo trật tự 8 bậc. Phạm Đình Trọng được Phan Kế Bính xếp vào hàng "Các bậc danh thần", tức bậc thứ 2, chỉ sau "Các bậc đại anh kiệt" (Trong số "Các bậc danh thần" có Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Trịnh Kiểm, Lương Hữu Khánh, Phạm Đình Trọng). Hiện nay, chúng ta có thể không hoàn toàn tán đồng với các sắp xếp, đánh giá của họ Phan về nhân vật hay một số nhân vật khác trong bảng giá trị các danh nhân lịch sử phong kiến nước ta, nhưng dù sao chăng nữa cũng phải thừa nhận nhân vật Phạm Đình Trọng thuộc loại tài năng kiệt xuất hiếm có vào nửa đầu thế kỷ 18. Chẳng thế mà vào năm Giáp Tuất (1754), khi nghe tin Phạm Đình Trọng chết ở doanh trấn Nghệ An, vua Lê Hiển Tông vô cùng thương xót, sai quân thuỷ bộ hộ tống linh cữu về làng Khinh Dao an táng; đồng thời sai quan Thượng thư là Trần Cảnh đến tận nơi dự tế. Chúa Trịnh Doanh cũng sai Thượng thư Bộ Lễ Nguyễn Công Thái đến tế và tặng 16 chữ: "Phủ dân, Tiễu khấu, Cố bản, An biên, Ái quốc, Trung quân, Hoàn danh, Cao tiết" (có nghĩa là: Yên dân, Diệt giặc, Vững gốc, An biên, Yêu nước, Trung quân, Danh thơm, Cao tiết).
   Theo ông Ngô Đăng Lợi, Chủ tịch Hội KHLS Hải Phòng, Phạm Đình Trọng có để lại một tập thơ chữ Hán chép tay; khoảng những năm 1966-1967, đã thông báo in xong bản dịch tập thơ trên báo Nhân Dân, không rõ sao không thấy phát hành. Di sản văn chương của ông hiện chỉ còn bài phú "Bắc môn toả thược" (Then khoá cửa Bắc) làm khi còn đi học; bài "Tượng đầu đoán tụng" làm khi trị nhậm ở châu Bố Chính và một bài thơ "Tiễn Nhập thị Tham tụng Kiều Quận công Nguyễn Công Thái trí sĩ" và một vài câu đối đáp với Quận He Nguyễn Hữu Cầu. Gia phả cho biết, Phạm Đình Trọng có 4 phu nhân: Chính thất họ Lưu hiệu là Trinh Tĩnh; thứ thất họ Đặng hiệu là Từ Dũ; thứ thất họ Lưu, hiệu là Từ Hoa; thứ thất họ Nguyễn, hiệu là Diệu Tín. Không rõ theo nguồn tài liệu nào, Từ điển nhân vật Việt Nam (tái bản lần thứ 4 - NXB Văn học HN- 1997) cho biết vợ ông là nữ sĩ Mai Lâm Tuyết, con gái Thượng thư Mai Thế Kiệt và em gái An Đông hầu Mai Khôi, người luôn sát cánh với Phạm Đình Trọng trong các cuộc chính phạt.
Trần Phương
Nguồn http://haiphonghoc.vnweblogs.com
Đình Khinh Giao (ảnh Dương Tuấn Tú)

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

Tây từ làng Đồng Di, một di tích cổ quý hiếm

Tây từ làng Đồng Di, thờ ngài Đệ nhất khai canh, Triệu cơ Tây thổ của làng là Nội Tán Vân Hiên Hầu Phạm Quang Hựu. Nhân vật lịch sử này có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn Phúc Lan mở mang bờ cõi.
Hương phổ Đồng Di chép rằng, thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Phạm Quang Hựu cùng với người em trai theo cha là ngài ký lục Phạm Quang Đồng, theo chủ trương của nhà chúa, về vùng phía đông của làng Dã Lê để khai hoang lập ấp. Lúc bấy giờ có vị tú tài triều Lê là Lê Quang Ngạnh, ngài Đinh Như Khoan (húy Dư), ngài họ Dương (muội húy)… theo phò chúa Nguyễn Hoàng, đã hưởng ứng chủ trương di dân, khai hoang lập ấp và các vị ấy đã khai canh Đồng Di Tây. Vùng trũng đang bồi tạo của Đầm Sam dần dần được đắp đập be bờ, đào hói để dẫn nước ngọt vào rửa mặn, trị phèn,… Về sau, thân phụ Phạm Quang Đồng để lại hai anh em ở Đồng Di, sang sống ở làng Mậu Tài và biệt tăm. Hai anh em họ Phạm tiếp tục sống ở Đồng Di, rồi đỗ đạt, riêng Phạm Quang Hựu là bạn đồng học của thế tử Nguyễn Phúc Lan, sớm thành đạt và giữ chức Nội Tán khi Nguyễn Phúc Lan kế thống. Chính Phạm Quang Hựu đã ra sức mở mang làng Đồng Di Tây, còn người em là Chiêu Đức bá Phạm Quang (muội húy) lại khai canh Đồng Di Đông…
Tây từ làng Đồng Di, một di tích cổ quý hiếm
Bàn thờ bên tả với đồ tự khí đơn sơ
Ngài Vân Hiên hầu Phạm Quang Hựu thời trẻ sống ở Đồng Di, trưởng thành làm quan Nội tán trong cung phủ Công Thượng vương Nguyễn Phúc Lan nhưng khi mất, con cháu lại táng ngài ở một địa cát thuộc phường Trung An, tổng Diêm Trường, trên một khoảnh đất đúng một mẫu. Địa bạ phủ Thừa Thiên chép: “TRUNG AN khách hộ phường. Đông giáp xã Cao Đôi (tổng Dã Lê), thôn Đông Kiều, có cột đá làm giới. Nam giáp phường Phụ Ổ Tiên Nộn (tổng Dã Lê), có cột đá làm giới. Bắc giáp phường Cao Đôi và sông.” (sđ d, tr. 225). Về sau, con cháu lại cải táng về địa cát ở phường Thủy Cam, tổng Diêm Trường. Thời Thiệu Trị, làng Đồng Di từng huy động 50 người, tay có giáo mác, cuốc, xuổng để vào rừng chạp mộ ngài. Về sau, con cháu xiêu dạt do các cuộc chiến tranh, hầu như mộ ngài đã bị thất lạc.
Tây từ làng Đồng Di, một di tích cổ quý hiếm
Một đoạn văn tế ngài đệ nhất khai canh
Sau khi Vân Hiên hầu qua đời, nhà của ông biến thành từ đường thờ phụng ông, gọi là Tây từ của làng Đồng Di Tây. Vì Vân Hiên hầu là một đại công thần của thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong nên khi ngài qua đời (ngày 14 tháng 10, không rõ năm), chúa Thượng ban một ngai ngự, một cái tán để thiết trị tại nhà thờ của ngài. Đặc biệt ngày huý nhật (13 tháng 10 âm lịch), con cháu làm đơn lên phủ chúa, chúa cấp 300 quan tiền. Cứ mỗi đời chúa về sau thì ngày kỵ lại bớt 50 quan. Tính từ chúa Nguyễn Phúc Lan, đến thời chúa Võ Nguyễn Phúc Chu thì không còn lệ cấp tiền. Do con cháu họ Phạm quá neo đơn, lại nghèo, không còn tiền nhà nước cấp hàng năm, nên không còn khả năng tu sửa Tây từ, công trình này hư hỏng nặng. Làng quyết định kỵ ngài ở đình Đồng Di. Thời Tây Sơn, nhờ quan Hộ quân sứ Đinh Như Đăng xin làng tận suất vi binh để tôn tạo Tây từ đẹp đẽ. Qua thời gian, làng vẫn tiếp tục tu bổ. Tây từ đến nay cũng đã xuống cấp nghiêm trọng, hai chái bị sập, trang trí long phụng bị gãy đỗ, mái ngói dột nát, tường thấm nước làm tăng độ ẩm, đe dọa cấu kiện gỗ bên trong. Do vậy năm nay, làng Đồng Di Tây đang trùng tu lại Tây từ.
Hậu duệ của ngài khai canh hiện ở làng quá ít ỏi, gia phả gốc đã thất lạc. Năm 1982, hai cha con Phạm Quang Chẩn, Phạm Quang Thưởng bằng truyền ức để viết cuốn gia phả được 6 đời, không đầy đủ. Ngay cuốn gia phả năm 1982 cũng bị trôi trong trận lụt năm 1999. May có bà Huỳnh Thị Thương, vợ của Phạm Quang Thưởng tìm được ở ngọn tre… Các án thờ bên trong Tây từ quá sơ sài, án giữa không có bài vị, án tả lại thiết trí 4 bài vị đã bị xóa các dòng chữ Hán, còn án hữu cũng không có bài vị…
Vân Hiền hầu Phạm Quang Hựu là một công thần của triều chúa Nguyễn Đàng Trong. Cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi Đàng Trong thành công thì có sự góp phần không nhỏ của ông. Đặc biệt, ông là vị đệ nhất khai canh làng Đồng Di (Tây), một làng có Văn miếu, nơi sĩ tử bốn phương đến học tập rèn luyện, nhiều người đỗ đại khoa như Lê Quang Đại, Lê Cao Kỷ… nên dân gian một thời truyền tụng: “Học Đồng Di thi An Hòa”… Tây từ đang được làng Đồng Di vận động tôn tạo và đã bắt đầu kế hoạch, là việc làm đáng được ủng hộ của con dân làng Đồng Di. Nên chăng, Hội đồng tộc trưởng thỉnh nguyện chính quyền sở tại giúp làm đơn, hồ sơ gửi cơ quan hữu trách sớm công nhận Tây từ và văn miếu Đồng Di là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Theo Báo Thừa Thiên Huế

Họ tộc Phạm Công ở Thạch Hà đón nhận di tích lịch sử văn hóa nhà thờ tự

Tại Quyết định số 360- QĐUB/2013, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã công nhận Di tích  Lịch sử - Văn hóa: Nhà thờ tự và phần mộ Lê triều Phó đô tướng, Thái uý Ninh Quốc công, Dực bảo trung hưng, Đoan túc Tôn thần  Phạm Công.
Đây là niềm tự hào vinh hạnh không chỉ cho dòng tộc họ Phạm Công ở Văn Sơn mà cho cả quê hương, xã tắc của trăm họ, của dân tộc Việt trong cuộc đấu tranh sinh tồn dựng nước và  giữ nước.
Di tích nhà thờ tự cụ Phạm Công Luận nằm sát phía Tây chân núi Mốc từ thành phố Hà Tĩnh đi theo tỉnh lộ 26 đến xã Thạch Khê (8km) rẽ phía Bắc (Trái) theo đường liên xã Khê – Đỉnh gần 3 km đến di tích Lịch sử - Văn Hóa. Nhà thờ tự Thần tổ thuộc xóm Hà Thanh , thôn Văn sơn, xã Kiều Mộc, phủ Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh – nay là xóm Ba xã Thạch Đỉnh. Khuôn viên nhà thờ phương vị hướng Tây; kiến trúc hình chữ Nhị ( = ) gồm Bái đường, Thượng điện, Nhà bia, Bàn thờ Thổ địa, Bàn thờ các anh hùng liệt sỹ.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Nhà thờ tự của Thần tổ dòng tộc Phạm Công cụ Phạm Công Luận - Lê triều Phó đô tướng, Thái úy Ninh Quốc công, Dực bảo trung hưng, Đoan túc Tôn thần được con cháu trong họ tộc xây dựng thờ tự Cụ và các bậc tiền bối tiên sinh; trên mảnh đất bạc màu sỏi cát, nơi thờ tự vẫn được con cháu bảo tồn, tu bổ, chăm sóc, dâng hương để cầu yên cho mỗi gia đình, cho dòng họ và cho cả “Quốc thái Dân an”.
Giá trị trường tồn, tôn nghiêm vĩnh hằng là thân thế và sự nghiệp của tiên sinh Phạm Công Luận: Lịch sử nước Đại Việt vừa đánh tan giặc Minh trong một cuôc kháng chiến chống ngoại xâm trường kỳ suốt 22 năm (1406-1428) thì phải chống lại sự xâm lấn bờ cõi phía Nam của giặc Chiêm Thành. Triều đình nhà Lê nhiều lần phát binh,  cất quân đi đánh giặc giữ nước. Cuộc tiến công năm 1446: Thần tổ Phạm Công Luận cùng con rể là Nguyễn Bá,  lãnh đạo đại binh vượt biển  đánh vào kinh thành Chà Bàn,  bắt được chúa Chiêm Thành là ByCai. Chiến thắng lớn không bị hao binh tổn tướng,  nên được Vua Lê phong ban tước hiệu” Lê triều Phó đô tướng Thái úy Ninh Quốc công”. Với chiến công hiển hách đó hai cha con ông đều được triều đình nhà Lê phong sắc.
Con cháu trong dòng tộc, cũng như nhân dân nhiều nơi đã lập đền miếu thờ tự Thần tổ Phạm Công Luận tại đền thờ Lê Khôi,  đền Văn Sơn để ghi nhận,  tôn vinh công đức của Thần tổ đối với quê hương,  đất nước. Đến nay đã hơn 550 năm; với công đức của ngài đã trở thành địa chỉ tâm linh không chỉ cho con cháu trong họ tộc mà  phù hộ độ trì cho muôn dân trăm họ.
Phần mộ của cụ Phạm Công Luận được con cháu trong họ Phạm Công đặt lưng chừng núi Mốc; thuộc xóm Ba – xã Thạch Đỉnh; Phần đầu gối tựa vào núi, hướng mặt phía Đông; phía Bắc có khe nước chảy quanh năm; là nơi phong thủy tâm linh “ Sơn thủy hữu tình”. Khuôn viên lăng mộ có diện tích 257,2m2. Công trình kiến trúc phần mộ hoành tráng, tôn nghiêm. Phần mộ của Thần tổ được con,  cháu trong họ tộc thường xuyên chăm sóc,  gìn giữ; thể hiện sự trân trọng của con cháu đối với bậc Tiền nhân.
Với những giá trị lịch sử văn hóa đã được khẳng định qua bao thế hệ. Chủ tịch UBND tĩnh Hà Tĩnh ra quyết định Công nhận và xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Tỉnh; Đây là một sự kiện có ý nghĩa cao quý, thiêng liêng có tính tâm linh cho dòng họ Phạm Công cũng như bà con trên quê hương xã Thạch Đỉnh – Thạch Hà – Hà Tĩnh.
Phạm Công Hà
Nguồn tin: GTVT

Lễ hội đình Trần Xá

Đình Trần Xá thuộc thôn Trần Xá, xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trần Xá là mảnh đất được hình thành sớm, với truyền thống lịch sử và văn hoá lâu đời. Thời Lý, Trần Xá có tên gọi Trần Xá trang là vùng đất bồi ven sông Thái Bình và sông Kinh thầy Đình Trần Xá thuộc thôn Trần Xá, xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trần Xá là mảnh đất được hình thành sớm, với truyền thống lịch sử và văn hoá lâu đời. Thời Lý, Trần Xá có tên gọi Trần Xá trang là vùng đất bồi ven sông Thái Bình và sông Kinh thầy nên từ rất sớm dân cư đã tụ cư đông đúc lập thành làng mạc với một thiết chế xã hội chặt chẽ. Theo Ngọc phả tại đình Trần Xá cho biết: Đời vua Lý Nhân Tông (niên hiệu Long Phù thứ 3 - 1103), giặc Ai Lao sang xâm chiếm nước ta, nhà vua đích thân dân quân đi đánh giặc. Vua tiến binh đến địa phận trang Trần Xá thi trời đã tối bèn lập đóng quân nghỉ tại đây. Đêm đó vua nằm mơ thấy 3 người mũ áo chỉnh tề, quỳ trước mặt vua tâu rằng: "Chúng thần là ba anh em họ Phạm ở trang này, nay thấy Hoàng đế dẫn quân đi đánh giặc, xin nguyện theo trợ giúp, nhờ hồng phúc của nước nhà nhất định giặc sẽ tan". Nhà vua tỉnh dậy biết thần báo mộng, sáng hôm sau cho mời các bô lão trong làng vào yết kiến. Được các bô lão kể lại đầu đuôi sự tích ba anh em họ Phạm, nhà vua làm lễ tạ rồi xuất quân đi đánh Ai Lao.
Sau khi chiến thắng trở về, vua sai sứ thần phụng sao sắc chỉ phong tặng phúc thần cho ba anh em họ Phạm. Cho phép trang Trần Xá lập miếu phụng thờ.
Thời Trần, tại Trần Xá loan vụng sông ở phía bắc trang (theo Hán tự "loan" có nghĩa là chỗ nước hõm vào), vào năm 1282 vua tôi nhà Trần đã họp hội nghị vương hầu bách quan bàn kế sách đánh giặc Nguyên Mông lần thứ 2. Về sự kiện này sách "Đại Việt sử ký toàn thư" tập II trang 118 xuất bản năm 1998 ghi rõ: "Mùa đông, tháng 10, vua ngự ra Bình Than, đóng ở vũng Trần Xá, họp các vương hầu trăm quan, bàn về kế sách công thủ và chia đi đóng giữ những nơi hiểm yếu". Trần Xá Loan chính là vụng Trần Xá ngày nay, đây là nơi hợp lưu của hai sông Thái Bình và sông Kinh Thầy.
Ngày nay tại đống Khoai Nợ (xưa gọi là gò Khai Quang) thôn Trần Xá còn 2 cây Ruối cổ dân địa phương vẫn gọi là cọc bọc ngựa, tương truyền đây là nơi buộc ngựa của các tướng lĩnh khi xuống thuyền họp hội nghị Trần Xá Loan. Sau hội nghị và trong suốt thời gian của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, Trần Xá trở thành nơi tập kết, đồn trú quân lương của nhà Trần.
Sang thời Hậu Lê (thế kỷ 18), Trần Xá thuộc tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Vào nửa đầu thế kỷ XVIII, do chính sách hà khắc, sự suy yếu của triều đình vua Lê, chúa Trịnh, nhân dân tổng Cao Đôi đứng lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ. Cuộc khởi nghĩa thất bại, cả vùng Trần Xá bị triệt hạ, nhân dân ly tán đi các nơi. Đến đời vua Quang Trung (1788­1792) với chính sách khuyến nông, nhân dân quay về làng cũ sinh sống xây dựng lại làng quê sau một thời gian dân ly tán.
Thời Nguyễn, Trần xá tách thành 2 thôn là Quảng Trạch và Nhân Lý thành lập đơn vị hành chính cấp xã với tên gọi xã Trần Xá, thuộc tổng Cao Đôi, huyện Chi Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Trần Xá chuyển thành một thôn thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương và ổn định cho đến nay.
Đình Trần Xá thờ ba vị thần thời Lý là Phạm Cẩm, Phạm Lang và Phạm Huy và phối thờ Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Theo các cụ cao niên địa phương kể lại: Đình Trần Xá được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Vị trí của di tích khi đó nằm trên một gò đất cao giữa làng, cách vị trí đình hiện nay trừng 500m về phía tây. Hiện nay, tại di tích còn giữ được tấm bia thời hậu Lê.
Sang thời Nguyễn, do vị trí chật hẹp; phía sau là ao lớn của làng, phía trước là đất thổ cư của dân nên các kiến trúc thời Lê đã bị phá dỡ và di tích được di chuyển đến vị trí đất chùa của làng như hiện nay. Tại vị trí cũ nhân dân vẫn gọi là đống đình. Vào đầu thế kỷ XX, đình Trần Xá được trùng tu lớn. Công việc do hai giáp của thôn đảm nhiệm, ngôi đình khi đó được kiến trúc kiểu chữ đinh gồm 5 gian đại bái và 2 gian hậu cung bề thế uy nghi. Các cấu kiện của công trình được trạm trổ tinh sảo rồng phượng, hoa lá. Năm 1953, ngôi đình bị thực dân pháp phá huỷ. Sau kháng chiến nhân dân đã dựng tạm 3 gian hậu cung để thờ tự. Năm 1999, nhân dân địa phương đóng góp công đức cùng sự hỗ trợ kinh phí của chính quyền địa phương, đình Trần Xá được trùng tu, tôn tạo lại. Hiện nay đình Trần Xá bao gồm các hạng mục chính: Cổng đình, toà đại bái 5 gian 2 chái và 2 gian hậu cung.
Hàng năm hội đình Trần Xá diễn ra nhiều kỳ đại lễ nhưng quan trọng nhất là hai kỳ lễ: Lễ kỵ nhật: kỷ niệm ngày mất của ba vị thành hoàng làng vào mồng 12 tháng 3 âm lịch và lễ kỷ niệm ngày sinh Phạm Lang, Phạm Cẩm từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 2 âm lịch. Lễ nhật kỵ tổ chức mở cửa đình từ ngày 11 để làm lễ tế, chiều ngày 13 đóng cửa đình, không có các trò chơi dân gian, quy mô lễ hội nhỏ. Lễ kỷ niệm ngày sinh của hai vị thành hoàng Phạm Cẩm và Phạm Lang, được tổ chức từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 2 âm lịch. Hàng năm đến kỳ lễ hội các vị bô lão, kỳ mục, chức dịch trong làng đã họp bàn để chuẩn bị cho công việc này. Việc đầu tiên là bầu ra ban trị sự với 12 thành viên gồm các bô lão, chức dịch và những người có vai vế trong làng và chỉ những người đàn ông mới được tham gia. Ban tổ chức đã bầu ra một người đứng đầu gọi là ông cai đám hay "Ông thượng" có trọng trách toàn quyền quyết đoán, tổ chức các hoạt động trong lễ hội. Sau khi ban tổ chức họp bàn xong, các đầu việc được giao tới các giáp và các thành viên cụ thể. Hai giáp đông và giáp tây phải trực tiếp lo sắm lễ phẩm chuẩn bị cho hội. Trong các công việc trên, việc chuẩn bị lễ phẩm, lễ tế và lễ rước của làng là quan trọng nhất, kế đó là việc tổ chức các trò chơi trong lễ hội...
Theo lệ xưa quy định lễ phẩm dâng tế của làng gồm lễ chay, lễ mặn quy định như sau:
Ngày sinh của hai ông em (lễ hội chính): 13 tháng 2 lễ cúng gồm 3 con lợn một mầu lông, 3 bàn xôi đỏ, 7 quả trứng, muối tinh và các mâm ngũ quả. rước tế xong ca hát 3 ngày.
Ngày sinh của ông anh: 22 tháng 4 lễ cúng như trên
Ngày hoá của ba ông ngày 12 tháng 3 lễ cúng gồm 3 con lợn một mầu lông, 3 bàn xôi đỏ, 7 quả trứng, muối tinh và các mâm ngũ quả...Ngày này quy định cấm ca hát.
Trong lễ hội đình Trần Xá tế lễ và lễ rước là 2 nghi lễ quan trọng nhất năm nào cũng được tổ chức. Lễ rước được tiến hành vào 2 buổi. Lễ rước ngày 12 tháng 2 làng tiến hành rước về tế nhập tịch xin mở hội. Ngày 13 diễn ra lễ rước tứ bàng do bốn làng đồng tổ chức rước giao hiếu.
Lễ rước ngày 12 tháng 2: Đây là lễ rước quan trọng nhất, công việc chuẩn bị cho lễ rước sẽ được tổng duyệt vào buổi trước hôm lễ rước diễn ra. Các chân khiêng long kiệu, long đình, cầm tán tàu cờ quạt, bát bửu đã được cắt cử rõ ràng. Chỉ những nam thanh, nữ tú đồng trinh mới được vào các chân khiêng này. Chiều hôm trước cờ hoa đã được trang hoàng đầy đủ tại đình và dọc theo tuyến rước. Dân làng mang long đình, cờ quạt, bát bửu chiêng, trống đến nhà ông Lý Trưởng rước sắc của các vị thành hoàng ra đình để chuẩn bị cho lễ rước sáng hôm sau. Sáng sớm ngày 12 dân làng đủ các thành phần kéo ra đình dự lễ. Theo quy định, các vị trí đã được phân công sẵn, đúng 6 giờ sáng, lễ rước được cử hành: Rước từ đình ra đống Mả Giao xin phép thần linh rồi rước trả lại đình làm lễ tế nhập tịch xin mở hội. Sở dĩ hành trình lễ rước như vậy vì các vị thành hoàng thờ tại đình đều hoá cùng ngày tại đống Mả Giao là nơi giáp danh giữa khu thượng và khu hạ trang Trần Xá xưa. Lễ rước cổ truyền tại Trần Xá được tổ chức với quy mô lớn. Từ sáng sớm các ngả đường đã chật cứng người, tiếng nhạc, chiêng trống rộn rã. Đi đầu đoàn rước là đội múa lân. Sau đó là tám lá cờ bát quái. Tiếp theo là đôi cờ tuyết mao, năm lá cờ ngũ hành. Kế đến 4 lá cờ tứ linh tương trương cho sự giao kết, hoà hợp giữa âm dương, trời đất, sự kiểm soát tâm linh người đi rước bằng hình ảnh các linh vật long, lân, quy, phượng. Đi sau là ban nhạc lễ gồm trống, chiêng. Tám người trong phường bát âm đi sau trống chiêng chia làm hai hàng điều khiển các nhạc cụ, vừa đi vừa cử những bản nhạc vui như: Kim tiền, Lưu thuỷ... Sau đó là hàng bát bửu do tám cô gái trẻ mặc áo nậu đỏ, quần trắng đầu chít khăn mang. Đứng trước hàng bát bửu là hai biển Tĩnh túc (tức trang nghiêm, kính cẩn) và Hồi tỵ (tức tránh xa đoàn rước). Đi sau bát bửu là hàng chấp kích do tám chàng trai trẻ mặc áo nậu đỏ, quần trắng đầu chít khăn mang. Kế đến là phường đồng văn, sau là long đình. Long đình đặt bát hương và hòm sắc vua ban cho các vị thành hoàng, sắc của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Hai bên long đình có tàn, quạt, lọng, cờ vải che kín rất tôn nghiêm. Sau long đình là đội nghi lễ gồm chấp kích, bát bửu rồi đến long kiệu đều được trang trí vải đỏ lộng lẫy. Hai Long kiệu đặt hương hoa và chiếc mũ quan tượng trương cho thần thánh ngự trị. Sau long kiệu là các bô lão, quan viên, chức dịch và dân bản trong làng và đoàn người tứ xứ với trang phục sặc sỡ. Như vậy lễ rước hội đình Trần Xá là rước sắc và rước thần. Đứng xa trông đoàn rước như một con rồng đang chuyển mình. Đặc sắc nhất phải kể đến tiết mục "Kiệu bay" với lối múa tạt ngang, tạt dọc, thoắt tới thoắt lui, chạy ào ào như bão tố, quay vòng như cơn lốc hết sức thú vị, hết thảy mọi người đứng xem chật lối chật đường cũng phải dạt ra khi kiệu bay tới. Không khí của buổi rước thật nô nức náo nhiệt trong tiếng nhạc, tiếng chiêng trống rộn rã. Ai cũng hả hê vui nhộn. Khi đoàn rước về tới sân đình, đội hình được tập kết trước sân. Dân làng rước lễ và văn chúc vào đình rồi tiến hành tế nhập tịch xin khai mở hội, lễ rước kết thúc.
Lễ rước tứ bàng ngày 13 tháng 2:Trong lễ hội tại Trần Xá thường diễn ra lễ rước tứ bàng (còn gọi là rước giao hiếu). Đây là nghi lễ đặc biệt ít nơi có được. Sở dĩ có tên gọi này là do 4 làng (Trần xá, Quảng Tân, Linh Xá, Đột Lĩnh) của tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh xưa liên kết với nhau đồng tổ chức rước giao hiếu. Theo quy ước mỗi năm tổ chức rước một lần luân phiên về các làng vào dịp lễ hội chính. Khi đến phiên của làng nào thì làng đó đứng ra đăng cai tổ chức. Như vậy, cứ 4 năm trong kỳ lễ hội, Trần Xá lại đứng ra đăng cai đại lễ rước tứ bàng của bốn làng. Với tâm thức hướng về cội nguồn, lễ rước tứ bàng của 4 làng của tổng Cao Đôi được tổ chức trên tinh thần cộng đồng với việc ứng xử giao tiếp giữa các làng, ý thức về gìn giữ phát triển các giá trị văn hoá cộng đồng. Vào ngày trọng hội các làng rước Thánh, các vị Thành Hoàng làng lễ tại đình làng mình rồi rước tới đình làng đăng cai lễ hội năm đó. Cách sắp xếp đội hình, vị trí từng làng đã được qui định trước. Khi rước tới đình làng chủ hội các làng tập trung làm lễ tế thành hoàng. Đây là nghi lễ chung của cả tổng. Đôi tế do các làng đồng cử các thành viên tham gia. Chủ tế và đội tế cũng phải được lựa chọn kỹ càng, khắt khe. Văn chúc phải soạn thảo nội dung nêu rõ được năm tháng, địa danh, tên, công đức các vị Thánh, thành hoàng của từng làng và chuyển lời cầu xin tới thánh thần, mong các Ngài ban phúc lành cho dân, cầu cho mưa gió thuận hoà, mùa màng bội thu... tới chiều thì lại rước Thánh làng nào về làng ấy. Theo thường kỳ cứ vào năm Trần Xá đứng ra đang cai thì lễ rước của làng cũng được chuẩn bị chu đáo. Quy trình lễ rước cũng được tiến hành trang nghiêm theo đúng quy định. Lễ rước cũng tiến hành rước từ đình ra đống Mả Giao rồi rước trở lại tập kết với bốn làng trước sân đình cùng làm lễ tế. Lễ rước tứ bàng khác chỉ có long đình và một long kiệu. Long đình đặt bát hương và kiệu bài vị các thành hoàng. Trong tâm thức của người dân thì lễ rước tứ bàng của 4 làng được tổ chức nhằm mục đích để các vị thành hoàng, các thánh của 4 làng được gặp gỡ hàn huyên với nhau. Vì theo truyền thuyết và các Thần phả, Sắc phong còn lại tại các di tích cho biết các vị Thánh, các vị Thành Hoàng của 4 làng đều là những linh thần, những anh hùng dân tộc, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi nên khi dân làng tổ chức lễ hội cũng là dịp để tưởng nhớ công ơn các vị tiền bối. Đây là hoạt động văn hoá dân gian hết sức độc đáo, nó không chỉ mang tính nghệ thuật cao mà còn thể hiện rõ tinh thần của cộng đồng làng xã.           
Sau lễ rước diễn ra lễ tế. Đây là một nghi lễ rất quan trọng. Đội tế được thành lập gồm từ 15 đến 17 thành viên. Theo lệ xưa, trước kỳ hội diễn ra, đội tế được duyệt lại thành viên, hoặc bổ sung thành viên mới. Đội gồm các chức danh: 1 mạnh bái là ngưưi đứng đầu đội tế, đứng chấp bái mang trọng trách tế thần. 4 bồi tế là những ngưười có phận sự giúp chủ tế trong quá trình hành lễ. 1 đông xướng và 1 tây xưưng đứng đối xứng hai bên hương án, đông xướng đứng bên phải, tây xướng đứng bên trái, chịu trách nhiệm xướng trong khi hành lễ. 2 nội tán đứng hai bên chủ tế, phụ giúp chủ tế khi hành lễ. Các quan viên chấp sự đứng ở hai bên hương án phụ giúp chủ tế như dâng hương, dâng rượu và chuyển chúc, đọc chúc. Trong các chấp sự này được cử ra một người có nhiệm vụ độc chúc, hoá chúc khi tiến hành lễ. Thành viên đội tế đều phải mặc trang phục tế khi bước vào khoá tế. Theo truyền thống, chủ tế mặc áo lương bên trong màu trắng bên ngoài màu tím, đội mũ tím hoặc đen, quần trắng đi hia đen hoặc đỏ. Bồi tế trang phục như chủ tế, các quan viên mặc quần áo tế màu tím hoặc đen. Văn chúc thường do ngưưi giỏi văn chương chữ nghĩa soạn bằng hán tự. Người này phải có chân trong hội tư văn, được dân làng cử để tả văn. Nội dung văn tế thường nêu rõ công trạng và ca ngợi công đức cao dầy của vị Thành Hoàng và chuyển lời cầu xin của làng xã tới các Ngài.
Nội dung tế lễ chia làm bốn phần:
Thứ nhất là lễ nghênh thần, chủ tế phải làm bốn lễ.
Thứ hai là hiến lễ lên thần linh, lễ dâng ban lần, gọi là sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ, mỗi lần chủ tế và bồi tế phải quỳ để hiến lễ, mỗi lần phải lễ hai lễ, tổng cộng là 6 lễ.
Sau hiến lễ là đọc chúc văn và lễ tất. Lễ tất chủ tế phải lễ bốn lễ.
Nhìn chung cả ba khoá tế (nhập tịch, chính kỵ, tế tạ) được tiến hành giống nhau chỉ khác về phần chúc văn. Như Văn tế nhập tịch ngày 12 tháng 02, ngoài phần ghi rõ ngày, tháng, năm thì nội dung thường nêu rõ lý do, mục đích xin khai mở hội. Văn tế chính hội, thường nêu rõ công trạng các Ngài, mong ngài ban phát tài lộc tới muôn dân, mong cho sức khoẻ bình an tới muôn họ, cho quốc thái dân an. Văn tế giã đám (tế tạ) thì báo cáo thần linh kỳ lễ hội đã thành công và xin kết thúc hội. Nội dung một khóa tế thực hiện đầy đủ 54 bước xướng với một tuần dâng hương, ba tuần dâng rượu, đọc chúc văn và lễ tất. Trong suốt khóa tế trống nhạc tế được cử hành đều đặn theo từng nhịp xướng. Khóa tế được diễn ra trang nghiêm kính cẩn. Sau khi khoá lễ kết thúc dân làng và khách phập phương vào lễ bái mong cầu các vị thành hoàng ban phát phúc lộc, sức khoẻ. Sau buổi đại tế, người ta coi là thần linh luôn có mặt ở đình. Từ hôm mở hội, các chức sắc và bô lão phải chia nhau túc trực tại đình cho đến khi hết hội.
Ngoài ra vào những năm hạn hán, úng lụt, vào ngày 15 tháng 2 âm lịch, 9 làng của tổng Cao Đôi tiến hành rước lễ đến đình Trần Xá tập trung làm lễ tế cầu đảo. Khoá tế thường do hương lý tổ chức. Các thành viên của các làng cắt cử các thành viên của mình tham dự. Đây là điều đặc biệt tại Trần Xá. Trong khoá tế văn tế nêu rõ lời cầu xin của muôn dân tới các Ngài cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu. Một nghi lễ mang tính phồn thực của cư dân nông nghiệp lúa nước.
Trong lễ hội ngoài các nghi lễ tâm linh được tổ chức rất trang nghiêm, tôn kính thì hoạt động hội, các trò chơi dân gian cũng được tổ chức. Trong lễ hội một số các trò chơi thường xuyên được tổ chức như: cờ người, đi cầu thùm, tam cúc điếm, chọi gà, đấu vật, bắt vịt...ngoài ra còn tổ chức một số hoạt động văn nghệ như hát trống quân, hát đúm...
Lễ hội truyền thống đình Trần Xá là một lễ hội dân gian khá tiêu biểu trên đất Hải Dương. Đây là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, có tác dụng gắn bó cộng đồng dân cư với quê hương, đất nước. Không khí lễ hội thật tưng bừng trong lễ rước, thật thiêng liêng khi tế lễ, thật vui tươi khi chơi hội. Lễ hội đình Trần Xá đã mang đầy đủ những giá trị truyền thống văn hoá được thể hiện rõ trong toàn bộ tiến trình của lễ hội. Thông qua các nghi lễ, các trò chơi dân gian nhiều hoạt động thông thường đã được nghệ thuật hoá, nghi thức hóa và mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc, đó là tín ngưỡng phồn thực của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Nguyễn Văn Cường
Nguồn tin: Di tích Côn Sơn Kiếp Bạc


Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Đình làng Đinh Xuyên

Ở thôn Đinh Xuyên (xã Dư Xá Thượng, Ứng Hòa, Hà Nội), bao thế hệ người làng vẫn truyền tai nhau về hiện tượng “sinh đôi – tử cặp” thường xuyên xảy ra từ nhiều năm nay. Chuyện sinh tử vốn là quy luật tự nhiên, nhưng một số làng vẫn cho rằng liên quan đến thuyết “đồng sinh, đồng tử” của hai vị Thành Hoàng làng.
Đình làng Đinh Xuyên, nơi bắt nguồn nhiều truyền thuyết lạ kỳ
Đình làng Đinh Xuyên, nơi bắt nguồn nhiều truyền thuyết lạ kỳ.
Cây mít hai lõi ở ngôi làng anh em sinh đôi được phong Thành Hoàng
Ngôi làng này vốn có tới 3 vị Thành Hoàng, ngoài đức Thánh Cả được thờ tại đền Đinh Xuyên, đầu làng và cuối làng dựng đền thờ thêm hai vị Thành Hoàng Phạm Thông và Phạm Nhu.
Theo tích xưa truyền lại, hai người này vốn là anh em sinh đôi. Vốn khí chất hơn người, lại thêm tài văn võ thao lược, hai ông cùng nhau chiêu mộ hàng nghìn trai tráng trong làng và các vùng lân cận, lập trận địa bảo vệ làng Đinh Xuyên mỗi khi loạn lạc. Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, hai ông mang theo số binh sĩ đã chiêu mộ được, phò tá Hai Bà đánh giặc.
Trong một trận đánh lớn, người anh Phạm Thông đã hy sinh tại trận địa xung yếu Tây Hồ (Hồ Tây ngày nay). Người em Phạm Nhu nghe tin, vô cùng đau xót đã tuẫn tiết theo anh, gieo mình xuống dòng Hát Giang (sông Đáy) để thể hiện khí tiết.
Cảm động trước ân đức to lớn và tình nghĩa tương thân của hai anh em, dân làng Đinh Xuyên phong hai ông là Thành Hoàng và lập đền thờ phụng.
Vì hai ngài “đồng sinh, đồng tử” nên chuyện thờ cúng hay lễ bái, đều phải làm đầy đủ cho cả hai. Người anh được cúng như thế nào, người em cũng phải cúng như thế, không được ai hơn ai kém dù chỉ là chén nước.
Xưa kia, vốn chỉ có đức Thánh Cả thờ ở đình Đinh Xuyên có tượng thờ, hai vị Thành Hoàng Phạm Thông và Phạm Nhu vốn được lập đền sau nên chỉ thờ bài vị tưởng vọng. Người làng muốn làm tượng để thờ các ngài tỏ lòng thành kính nên đã hạ cây mít to sau đình để tạc tượng.
Một cụ cao niên cho biết: “Theo như ông cha truyền lại, cây mít đó khá to nhưng nếu tạc tượng cũng chỉ có thể tạc một pho. Các cụ quyết định làm tượng người anh Phạm Thông. Tuy nhiên, khi hạ gốc mít, người làng phát hiện cây mít có đến hai lõi, lõi ngoài bao bọc, ôm trọn lõi trong giống như tình cảm anh em luôn khăng khít, gắn bó.
Không biết có phải các ngài biết ý định tạc một tượng của người làng hay không mà cây mít kỳ lạ kia lại có đến hai lõi như ám chỉ phải làm tượng cho cả hai ngài”.
Cổ nhân cho rằng đó là lời nhắc nhở của hai vị Thành Hoàng, “việc gì cũng có nhau, không thể có chuyện người anh được tạc tượng, người em thì không” nên quyết định tạc hai pho tượng cho cả hai vị.
“Thói xấu” vừa đi đưa ma, vừa “dự đoán” người xấu số sắp tới
Dù đã có lịch sử hàng trăm năm nhưng ngôi đình Đinh Xuyên và câu chuyện “đồng sinh, đồng tử” của hai vị Thành Hoàng đều được người dân từ già đến trẻ thuộc nằm lòng. Và chính từ tích đó mà bao đời nay, người làng Đinh Xuyên vẫn truyền tai nhau về hiện tượng “sinh đôi, tử cặp” diễn ra tại nơi đây.
Ông Lê Nguyên Bá (73 tuổi) cho biết: “Chẳng có sử sách nào ghi chép lại chuyện này, chỉ do các cụ ngày xưa chiêm nghiệm và truyền tai lại cho con cháu mà thôi. Không biết do đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay “linh ứng” thật, nhưng khi để ý, đúng là có hiện tượng này xảy ra”.
Hiện tượng sinh đôi ở làng Đinh Xuyên tuy không nhiều nhưng so với các vùng lân cận, tỷ lệ các cặp song sinh cao hơn hẳn. Theo các cụ cao niên, chỉ tính riêng khu vực xóm cuối làng, cũng đã có 5 cặp song sinh, cặp hai trai, cặp hai gái hoặc một trai, một gái.
Ngày trước, người làng vẫn coi sinh đôi là “điềm dữ”, hai đứa trẻ song sinh ngay khi sinh ra, phải gửi lên chùa nếu không sẽ đoản mệnh. “Nếu là cặp song sinh một trai, một gái, càng phải cầu cúng cẩn thận. Người ta cho rằng, hai đứa trẻ đó kiếp trước là vợ chồng nên mặc dù là anh em ruột, gia đình đó phải cúng cho vong hồn hai đứa trẻ lấy nhau thì chúng mới sống yên bình được. Nghe là nghe vậy, chứ các cặp sinh đôi làng đều trưởng thành như những người bình thường khác”, một người chia sẻ.
Chuyện sinh đôi vốn không khiến nhiều người làng bận tâm vì nghĩ chuyện đó cũng bình thường, chỉ là tỷ lệ sinh đôi ở làng nhiều hơn nơi khác. Tuy nhiên, hiện tượng “tử cặp” đều khiến họ cho rằng có mối liên hệ với chuyện “đồng sinh, đồng tử” của hai vị Thành Hoàng.
Hiện tượng này xảy ra trong phạm vi cả làng Đinh Xuyên chứ không phải chỉ anh em sinh đôi, cùng huyết thống mới gặp phải. Nếu trong làng có người mất thì người làng biết chắc rằng, chỉ 3 - 5 ngày sau đó, làng sẽ có thêm một “đám hiếu” nữa.
Những cái chết luôn đi theo cặp đôi như vậy và cách nhau khoảng thời gian rất ngắn nên mới có chuyện “hôm nay ở đầu làng có tang sự, hôm sau đã nghe tin cuối làng có người mất”.
Cụ Bùi Văn Lịch (66 tuổi), Chi hội trưởng Hội người cao tuổi thôn Đinh Xuyên cho biết: “Vì hiện tượng này xảy ra rất nhiều lần nên mỗi khi trong làng có người mất, dân làng thường đoán biết trước việc người nào sẽ ra đi tiếp theo. Người dân chủ yếu nhìn vào những trường hợp người đã lớn tuổi hay đang ốm đau khó qua khỏi mà ngầm dự đoán vậy, chứ cũng chẳng có cơ sở gì rõ ràng”.
Suy nghĩ này đã hằn vào nếp sống, nếp nghĩ của một số người địa phương nên dù bất kể người làng chết vì bệnh tật hay tai nạn, người ta đều đinh ninh “ở làng này, đã chết đều phải có cặp”. Có lần, trong hai ngày, ngôi làng này có đến 3 đám tang, mà theo người làng “nếu hai người một cặp, vậy người kia sẽ lẻ ra”.
Người ta bảo nhau chờ xem vài ngày tới, chắc chắn sẽ có thêm người “đi” và quả thật, khoảng 10 ngày sau có thêm một người già trong làng mất vì bệnh. Chuyện này vẫn được truyền tai nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác, họ không coi đó là chuyện đáng sợ, kỳ quái mà cho rằng, việc “tử cặp” một nét lạ trong  văn hóa địa phương, thể hiện tình nghĩa “tương thân” giống như anh em hai vị Thành Hoàng.

Theo Xa lộ pháp luật