Cội nguồn họ Phạm

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Trích lược Hành Thiện Xã Chí


Xét thế Khoa – lục, thì làng ta phát Khoa từ khoảng niên hiệu Thông – nguyên Triều Lê (Triều Vua Cung Hoàng đế) (1522) cho đến Khoa Ất Mão niên hiệu Duy Tân thứ 9 (1915), nghĩa là không còn để lối thi hương, hội nữa.
Số trúng Tiến sĩ, Phó bảng, Cử nhân và Tú tài, tổng cộng được 338, tựu trung có khoa trúng được 2 Tiến sĩ, lien khoa (khóa trước và khóa nối sau) trúng được 2 giải nguyên (tức là đỗ đầu cử nhân hay là thủ khoa) cũng có năm đỗ được cả giải nguyên (đỗ đầu), Á nguyên (thứ nhì) và thứ ba Cử nhân cùng một khoa. Có năm cha con, anh em, chú cháu, cùng trúng 1 khóa, ngạn ngữ có câu: “Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện” nghĩa là nơi khoa giáp làng Hành Thiện đứng đầu Tỉnh Nam, không kém gì làng Cổ Am tỉnh Đông (Hải Dương) vậy.
Khai khoa cho làng ta là cụ Nguyễn Thiện Sĩ, về họ Nguyễn rồi các cụ trong các họ nối nhau khai khoa cho các họ như các cụ Đặng Minh Dương, Đặng Khắc Nhượng, Phạm Ngọc Thân, Tống Tâm Quang, Đỗ Khắc Thiêu, Lã Đinh Phùng, Đào Đắc Dư, Vũ Nguyên Trình, Đặng Quang Dư, Trần Vũ Giám, Đinh Nguyên Thiệu.

HỌ PHẠM: 
Phó Bảng
1
Á nguyên
1
Cử nhân
6
Tú tài
33
Tú tài phụ tịch
1

Cụ Phạm Ngọc Thân, Tam trường … 1619 – 1628, triều Lê Vĩnh Tôn.
- Phạm Đoan Du, - nt 1663-1671, triều Lê Cảnh Thọ.
- Phạm Duy Dương, - nt 1684, triều Lê Chính Hòa
- Phạm Liên, - nt –
- Phạm Doanh Nho, - nt 1691-1699
- Phạm Khánh, - nt 1691
- Phạm Đăng Toàn, 22t, Tú tài Khóa Nhâm Ngọ, 1702.
- Phạm Nguyễn Kỳ, 19t, Cử nhân Khóa Mậu Tý, 1708, Tổng trưởng.
- Phạm Khắc Du, 22t, Tú tài Khóa Tân Mão, 1714.
- Phạm Đoan Nha, 19t, Tú tài khóa 1735.
- Phạm Nguyên Liêu, 24t, Tú tài khóa Canh Ngọ 1750.
- Phạm Bình Triết, 28t, Tú tài khóa Bính Tý, 1756, Cảnh hưng.
- Phạm Quốc Cơ, 21t, Tú tài Khóa Nhâm Ngọ 1762, Cảnh hưng.
- Phạm Ngọc Trác, 15t, Tú tài Khóa Đinh Dậu 1777, Tổng trưởng.
- Phạm Xuân Lý 24t, Tú tài – nt –
- Phạm Quốc Hòe, 17t, Tú tài Khóa Canh Tý, 1780
- Phạm Nguyên Hang, 14t, Tú tài Khóa Quý Mão, 1783.
- Phạm Thời Nghi, 22t, Hạ khóa sinh 1801 Triều Tây Sơn.
- Phạm Ngọc Bích, 27t, - nt -.
- Phạm Ngọc Mạo, 22t, Cử nhân Khóa Giáp Ngọ 1834, Triều Minh Mạng.
- Phạm Ngọc Lương, 34t, Cử nhân Khoa Quý Mão, 1842, T.Thiệu trị.
- Phạm Quang Duyệt, 23t, 2 Khóa tú tài, 1847-1867, T.Tự Đức.
- Phạm Viết Ky, 20t, Tú tài Khóa Đinh Mùi, 1847, và 1867.
- Phạm Viết Vy, 39t, Tú tài Khóa Mậu Thân 1848, triều Tự Đức.
- Phạm Ngọc Chất, 23t, Tú tài 1870 (Cử nhân (Á nguyên) Tri phủ (khóa Giáp Tuất 1874 Tĩnh Gia).
- Phạm Đăng Liêu, 34t, Tam Trường Khóa Quý Dậu 1753 (Cảnh hưng).
- Cụ Phạm Ngọc Nhiễm, 18t, Cử nhân Khóa Giáp Tuất 1874, Kiểm tịch.
- Phạm Ngọc Chuyên, 39t, Tú tài Khóa Bính Tuất 1886.
- Phạm Đàn, 28t, Tú tài Khóa Mậu Tý, 1888.
- Phạm Duy Ân, 30t, 2 Khóa Tú tài 1891,1906.
- Phạm Đình Sắc, 24t, sau đổi tên là Phạm Ngọc Đoan, Cử nhân 1894, Phó Bảng 1901 Giáo thụ
- Phạm Ngọc Bình, 37t, Cử nhân Khóa Giáp Ngọ, 1894.
- Phạm Ngọc Lý, 23t Cử nhân Khóa Giáp Ngọ, 1894.
- Phạm Ngọc Đan, 27t, Tú tài KHóa Giáp Ngọ, 1894.
- Phạm Mạnh Doãn, 20t, Tú tài Khóa Canh Tý, 1900, triều Thành Thái.
- Phạm Ngọc Khôi, 20t, 2 khóa Tú tài 1903, 1906.
- Phạm Sỹ Đô, 34t, Tú tài 1909, Cung phụng.
- Phạm Ngọc Thụy, Tú tài 1900, Quán ở Nghệ An nhập tịch Hành Thiện.
Theo langhanhthien.com

Trích gia phả chúa Trịnh

Đời thứ: 9 - Nhánh T.1.1.2.3.2.2.2.3
Phái:Nam.    Con ông Trịnh Tạc và bà Thái-phi Vũ Ngọc Lễ.
Tên:Trịnh Căn
 Đức Tiên-thánh Chiêu-Tổ Khang-vương tên húy là Căn.
Sinh năm:1633 
 Sinh ngày 13 tháng 6 năm Quý-dậu (1633). Ngài là con thứ tư.
Mất năm:1709 
 Mất ngày 10 tháng 5, tôn-phong sách vàng là Khang-vương, tên thụy là Đông-Đoàn, miếu-hiệu là Chiêu-Tổ, tôn-lăng ở làng Lịch-thượng (huyện Yên-định).
Phối ngẫu: 
 Bà Hiền-phi họ Nguyễn tên húy là Ngọc-Phụng, tên thụy là Trang-Thân, người xã Quang-lãm (huyện Thanh-trì), bảo dưỡng đức Tiên-đức Tấn-quang-vương Trịnh-Bính. Mất ngày 13 tháng 3.

Bà Thục-phi họ Phạm tên húy là Ngọc-Quyển, tên thụy là Rượu-Mỹ, người làng Mỹ-cốt (huyện Lôi-Dương), con gái con Đô-đốc Lưu-quận-công Phạm Sĩ Kỳ. Sinh ra đức Lương-mục-vương Trịnh-Vịnh. Mất ngày 19 tháng 4. Lăng ở làng Phúc-hà (huyện Thụy-nguyên).

Bà Thuận-phi họ Ngô tên húy là Ngọc-Uyên, tên thụy là Rượu-Tĩnh, nguyên-quán ở xã Phượng-lịch (huyện Hoằng-hóa). Cháu ông Thân-Huân Tán-trị Công-thần hàm Thái-bảo tước Hòa-quận-công. Con gái ông Thiếu-bảo Kiêm-quận-công. Bảo-dưỡng đức Hy-Tổ Nhân-vương Trịnh-Cương: thời bấy giời gọi là đức Bảo-Mẫu. Mất ngày 12 tháng 11. Lăng ở làng Bảo-ngũ.

Năm 24 tuổi (1656), gia-phong chức Phó-đô-tướng, tước Phú-quận-công, mở dinh Tả-quốc, thống-lĩnh chư-tướng vào Nghệ-an đánh Nam-triều kiêm Trấn-thủ đất Nghệ-an, gia-thăng hàm Thái-phó. Năm 28 tuổi (1660), dựng được nhiều công to, được thăng Khâm-sai Tiết-chế thủy-bộ mọi dinh, kiêm-trưởng quyền-chính. Năm 42 tuổi (1674), công-vọng long-trọng tiến-phong chức Nguyên-súy, giữ chính nước, tước Định-nam-vương. Năm 50 tuổi (1682), đức Dương-vương Trịnh-Tạc mất, ngài lên nối nghiệp chúa. Năm 53 tuổi (1685), tiến-phong chức Đại-nguyên-súy Thống-quốc-chính Thượng-thánh Sư-phụ Thịnh-công Nhân-minh Uy-đoán Định-vương. Năm 77 tuổi (1709), ngày mất ngày 10 tháng 5.

Con giai:


  1. Đức Quốc-tể Lương-mục-công tôn-phong Lương-mục-vương Trịnh-Vịnh, là con trưởng.
  2. Quan Trưởng-tể Thượng-tướng-công Trịnh-Ruyên, sau đổi là Trịnh-Bách, là con thứ hai.
    Đức Lương-mục-vương mất, ông lĩnh chức Khâm-sai Tiết-chế, phong tước Mưu-quốc-công, mở phủ gọi là Lý-chính-phủ.
  3. Quan Thái-phó Đề-quận-công Trịnh-Lan là con út.


Con gái:


  1. Bà Trưởng-thượng-quận-chúa Trịnh-thị Ngọc-Lai, gả cho quan Đề-đốc Bân-quận-công Trịnh-Thập.
  2. Bà Thân-thượng-quận-chúa Trịnh-thị Ngọc-Bảo, gả cho quan Tham-đốc Trịnh-tương-hầu Lê-Thái.
  3. Bà Thượng-quận-chúa Trịnh-thị Ngọc-Lan, gả cho quan Thái-bảo Trung-quận-công Lê-thời-Liệu.

Sự tích Quý Minh Đại Vương

Theo "Sự tích Quý Minh Đại Vương ở xã Đồng Du" (Bình Lục, Hà Nam), Ngài tên là Tuấn, tên chữ là Quý Minh, là em thần Tản Viên. Ngài tự cửa bể Thần Phù về đến Long Đỗ (nay là Hà Nội) bến Đông Hải, nghỉ ngơi rồi hiển thánh ở đó. Phố ấy lập miếu phụng sự, sau sắc phong Thượng Đẳng Thần. Còn thần tích Quý Minh Đại Vương lưu ở đền thờ Thần Cao Sơn thôn Lỗi Sơn, xã Gia Phong và đền Trung ở thôn Sinh Dược, Gia Sinh (xã Gia Viễn, Ninh Bình) cũng ghi rõ:"Cao Sơn và Quý Minh là anh em cùng Tản Viên Sơn Thánh, đã về lập hành doanh ở vùng này để chống nhau với Thục Phán sau khi Thục Phán chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương thứ 18". Quý Minh được phong thần, gọi là Hiển Công tả thiên thần Quý Minh. Tại Diên Sí Sơn (Núi Cánh Diều) ở cố đô Hoa Lư cũng thờ Quý Minh Đại Vương, trấn giữ phía đông thành Hoa Lư.
Tại Yên Bái, Quý Minh Đại Vương được thờ chung (Tam vị - ba anh em) ở một số đình, đền (đình Mường A, đình cả Quy Mông, Đại Đồng Vũ Miếu). Hiện tại đình Phúc Hoà, xã Hán Đà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái còn lưu giữ được ngọc phả về Đài Vàng Quý Minh Đại Vương và các vị thần được tôn thờ bằng văn bản Hán Nôm. Bản dịch của Trương Thị Thuỷ, Hoàng Thúy Ngà, Hoàng Giáp của Viện nghiên cứu Hán Nôm dịch tháng 7/2010 như sau:
"Nước Việt xa, trời Nam mở vận, Thánh tổ xây dựng cơ đồ, 18 đời truyền nối, trải hơn 2000 năm thịnh trị, đời đời cha truyền con nối, đều lấy hiệu là Hùng Vương, ngọc bạch xa thu núi sông thống nhất. Thực là tổ của Bách Việt ta.
Khi đó, cơ đồ đất nước truyền đến đời thứ 18, được 2622 năm, thuộc đời Hùng Duệ Vương. ở động Lăng Sương, huyện Gia Hưng, phủ Hưng Hoá, đạo Sơn Tây có nhà họ Nguyễn, tên Ban, bà vợ họ Tạng tên Hoan, là nhà tích đức hành thiện, nhưng chưa có con nối dõi. Khi đó Nguyễn Công đã 60 tuổi, bà vợ đã 50, ông bà chưa từng làm phương hại đến ai, không bao giờ tơ hào phần lợi cho mình, luôn khởi tâm làm điều tốt lành. Ông có người anh trai tên là Nguyễn Cao Hạnh, ngoài 70 tuổi mà cũng không có con. Một hôm, nhân ngày giỗ của tổ tiên, anh em cùng than rằng: "Tội bất hiếu không có con là tội lớn, nếu như sau này chết đi, biết có ai là người hương khói cho tổ tiên, cha mẹ? Nếu có thể tán tài để cầu được con nối dõi thì cũng xin được theo". Thế là bèn đem tiền của phát cho người nghèo. Đến tết, mùa xuân Thái hoà, khắp nơi hoa nở, người người vui vẻ, anh em rủ nhau lên núi Nghĩa Lĩnh chơi, khi trở về xuống chân núi, bỗng thấy trên núi có một cụ già tóc bạc, đeo một bầu rượu, cầm một chiếc la bàn. Hai anh em (tức Nguyễn Hạnh và Nguyễn Ban) nhìn và nói rằng: "Phải chăng đó là tiên lão bồng lai thần linh Tản Lĩnh, chứ không phải người thường? Nhà ta tích thiện thấu tới lòng trời, nay trời xanh giáng tiên ông báo cho biết là nhà chúng ta tích thiện là đúng, không phải nghi ngại gì nữa". Nói xong, hai ông liền đi đến trước mặt tiên ông nói: "Nay may gặp được tiên ông, nghìn năm hy vọng, chúng tôi đường đột, khiếm nhã xin tha. Anh em chúng tôi đức mỏng, tuổi đã cao mà muộn đường con cháu. Gặp tiên ông ở đây như mây mù gặp ánh sáng, thấy hình dáng tiên ông khác người thường, ắt là có phép thuật thần thánh, một lòng xin tiên ông mở rộng tâm đức, thương xót tới chúng tôi. Vạn lần xin nhờ vào sức của tiên ông". Cụ già nói: "Ta không phải thần, không phải thánh, là người nhàn hạ, thích thú tiêu dao non nước, xem xét phong thuỷ hoạ phúc thế gian, là người tạo phúc, không có ý gì khác. Nay bọn ngươi gặp ta ở đây, là đức lớn của nhà các ngươi. Ta thấy trên núi Thu Tịch có thế đất rất quý, nếu an táng ở đất đó, không quá 100 ngày sau sẽ sinh ra thánh tử. Các ngươi hãy thu thập hài cốt tiên nhân, bí mật mang tới táng tại đó, chớ để lộ".
Hai ông nghe thấy thế, rất vui mừng, muốn hành lễ bái tạ thì cụ già biến mất. Hai ông trở về nhà, thu hài cốt của cha mẹ an táng tại đó. Xong việc, lập đàn hành lễ cầu đảo trời đất thần linh, xin sớm được ứng điều lành, được ban phúc, đội ơn mưa móc, trông cậy vào sự giúp đỡ của Trời, Thần. Khấn xong, đêm hôm đó ông Ban mông lung thiếp đi, bỗng thấy một tướng thần cưỡi hổ đen, hai tay ôm hai đứa trẻ từ phía ngoài đi đến chỗ ông nằm, nói: "Nhà ngươi tích thiện, trời đã thấu hiểu nên ban cho hai đứa con, sau này tất có tài giúp nước, an dân". Nói xong, thần tướng bay lên không trung. Ông Ban tỉnh giấc, biết là nằm mộng, tất có điều lành, ông trời không phụ, phúc địa hưng thịnh. Hai vợ chồng cùng nhau loan phượng yến oanh, cầm sách hoan ca. Từ đó, bà có thai 11 tháng, đến ngày 20/7 sinh ra hai người con trai, diện mạo khôi ngô tuấn tú, giống như hai đứa trẻ trong mộng, thân thể to lớn, tay chân chắc khoẻ. Người cha rất vui vì đã làm điều phúc, ông trời đã ban cho hai con nên đặt tên người anh là Sùng, em là Hiển.
Năm đó, người anh của ông Ban là Nguyễn Hạnh cũng sinh được một con trai, sắc mặt khôi ngô, tướng mạo cao lớn, Nguyễn Hạnh đặt tên là Tuấn. Ba anh em họ thể chất lẫm liệt phi thường, có khí phách anh hùng. Đến năm 12 tuổi, tìm thầy học đạo, học được vài năm văn chương thông suốt, võ lược tinh thông. Phàm trên từ thiên văn, dưới đến địa lý không gì là không biết, không vật gì là không hiểu. Người đương thời thường nói nhà đó có phúc gì mà sinh những người con văn võ kim toàn, tài giỏi như vậy?
Than ôi! Biến đổi khôn lường, hoạ vô đơn chí! Năm ba ông đến tuổi 16 thì cha mẹ đều qua đời. Ba ông gào khóc đất trời, làm lễ, chọn nơi cát địa an táng, gia đình hương khói thờ phụng ba năm, gia tài đều hết. Từ đó sớm tối sống trong cảnh thiếu thốn, kiếm củi sinh nhai, nhưng vẫn an bần lạc đạo nuôi chí lớn. Một hôm, ba ông đều than rằng: "Bần tiện như vậy, không thể sống được, sao có thể tồn tại được?". Bèn cùng nhau đi đến núi thiêng Tản Lĩnh làm con nuôi của Ma thị Cao Sơn Thần Nữ, ngày ngày được nuôi dưỡng bằng rau thái, rau tần. Sau được ban cây gậy thần của Thái Bạch Thần Tinh và sách của Long Đình Thuỷ Đế, cứu được hoạ, tạo phúc thế gian, báo đáp công ơn của mẹ nuôi. Ma thị cho là hiếu tử, bèn lập chúc thư giao ruộng đất, khe suối, kỷ vật núi rừng cho Tuấn Công. Từ đó bèn đổi hiệu là Tản Viên Sơn Thánh. Sơn Thánh chia đất cho hai em: Sùng Công ở Non Sơn, hiệu là Tả Khiên thần, Hiển Công ở Lãng Sơn, hiệu là Hữu Khiên thần.
Lại nói, cùng thời bấy giờ ở châu Thượng Hồng, xứ Hải Dương có người dùng thi thư để xử thế, lấy hiếu để trị gia, họ Phạm tên Huyên, bà vợ họ Đinh tên Lưỡng. Hai vợ chồng tích đức hành thiện, phát chẩn cứu nghèo, chưa từng làm hại đến ai, không tơ hào đến chút lo cho bản thân. Năm ngoài 40 tuổi sinh được một người con trai, văn võ kiêm toàn, học vấn uyên bác, Phạm Công đặt tên là Hoằng. Năm Hoằng 20 tuổi, cha mẹ đều qua đời. Ông (Hoằng) hành lễ an táng mẹ được 3 năm. Lúc đó có người tên là Trương bụng dạ lang sói, ngày đêm tụ tập, cướp bóc, hại người. Thấy Hoằng Công là người anh tài mưu trí, muốn ông theo hầu. Hoằng Công than rằng: "Cha mẹ ta tích đức thiện hành nhân, vất vả sinh ra ta, nay ta theo bọn ngươi không phải là người có lòng trung lương, trí sáng suốt. Nếu ta theo bọn ngươi thì phúc nhà ta sẽ bị trôi sạch, còn nếu không theo thì hoạ sẽ nhanh chóng đến. Ta đi tìm đất thiện, nơi đây không thuận hoà". Nói xong, thu dọn đồ đoàn, một gánh giang sơn, bốn phương tìm phong cảnh, đi đến thôn Phúc Chân (nay đổi là xã Phúc Hoà), xã Hán Sài, huyện Tây Quan, phủ Đoan Hùng, xứ Tuyên Quang. Thấy sông núi hữu tình, trước thì nước sông bao quanh, sau thì núi đồi chầu phục, ngọn ngọn như tinh tú chầu về, bèn lập một gian nhà nhỏ ở thôn Phúc Chân làm nơi tá túc. ở được mấy tháng, nghe tin núi Tản Viên trời cao đất dựng, linh thiêng vời vợi, khí tượng vạn nghìn u mang khôn lường, trong núi có ba anh em Sơn Thánh, thần tiên biến hoá, bèn tìm đến đó. Sơn Thánh thấy Hoằng Công thông minh hơn người, đức độ nhân từ, bèn nói với Tả - Hữu Khiên thần. Hiển Công nói: "Người này là Long thần được nước, không lâu nữa sẽ giúp chúng ta, ta nên quý mến coi trọng anh ta". Hiển Công bèn mời đến nhà, mở tiệc khoản đãi rất hậu. Từ đó tương thân tương ái như anh em ruột thịt.
Lại nói, cơ đồ họ Hùng đã hết. Duệ Vương sinh được 20 người con trai, 6 người con gái đều về cõi tiên cả. Duy có 2 người con gái, người thứ nhất tên là Tiên Dung công chúa đã gả cho chử Đồng Tử, còn con gái thứ hai là Ngọc Hoa công chúa sắc nước hương trời, hoa ghen nguyệt thẹn, chưa đến kỳ đính hôn, vua bèn dựng lầu ở cửa thành Việt Trì, chiếu truyền cho nhân dân trong thiên hạ, người nào thông minh tài trí, đức độ anh hùng, có thể gả con gái và nhường ngôi cho. Ngày hôm đó, thuyền bè trên sông, trước lầu xa giá, nghe thấy chiếu thiên tử, trạng nguyên bốn biển đều đến để so tài, mà vẫn chưa tìm được người toàn tài. Khi đó, Sơn Thánh cùng ông Sùng, ông Hiển, ông Hoằng đến sau. Vua ngồi xem thi tài, thấy Sơn Thánh có nhiều tài thông thiên triệt địa, cạn sông, dời núi, là người tài bậc nhất thiên hạ, bèn gọi công chúa xuống gả cho. Sơn Thánh đón công chúa về núi Tản Viên. Các ông Sùng, ông Hiển, ông Hoằng ở lại giúp vua. Vua rất quý trọng các ông, phong Sùng Công là Đô Đài Đại Phu, Hiển Công là Đài Vàng Đại Phu, Hoằng Công là Thiếu Khanh. Từ đó, đất nước thanh bình, nhân dân ấm no, hương khói không ngừng.
Lại nói, khi đó giặc Hoa Liêu dẫn 50 vạn quân chia các đạo Tuyên Quang, Hưng Hoá tiến đánh, thư từ biên thuỳ báo cấp, 1 ngày 5 lần. Vua muốn cử ông Sùng, ông Hiển, ông Hoằng cầm quân tiến đánh. Ông Hoằng nói rằng: "Bọn giặc này ô hợp như bầy thú, thần xin mấy vạn lính hùng mạnh, không quá mười ngày sẽ đánh tan bọn giặc này, sao phải khiến bệ hạ và hai anh phải phiền lòng". Vua nghe nói mà than rằng: "Các bậc anh hùng tài giỏi đều ở nước ta, cần phải lo sợ gì". Lập tức cho Hoằng Công làm án sát các đạo Tuyên Quang, Hưng Hoá thống lãnh ba quân, đánh giặc Hoa Liêu. Hoằng Công bái tạ, dẫn binh thẳng tiến, thế hùng mạnh, đại chiến một trận, chém được mấy trăm đầu giặc, bắt được tướng giặc đem về. Vua ban thưởng cho ông, gả Hồng Hoa công chúa là chúa họ cho Hoằng Công, phong là Phò Mã.
Một hôm, Hoằng Công nhớ đến thôn Phúc Hoà, xã Hán Sài, bèn cùng với ông Hiển làm sớ tâu xin ăn lộc ở thôn Phúc Chân, xã Hán Sài. Vua ban cho xã Hán Sài được miễn phu sai tạp dịch. Nhân dân xã Hán Sài từ già đến trẻ đều vui mừng, làm lễ đón Hiển Công, Hoằng Công và Hồng Hoa công chúa về xã, lập hành cung trên đất thôn Phúc Chân để các vị ở.
Bấy giờ vua tại vị được 150 năm. Thục Vương (là dòng dõi Hùng gia chủ bộ Ai Trác) nghe tin vua đã nhiều tuổi mà 20 người con trai đã về cõi tiên, không có người kế vị, bèn phát động tinh binh trăm vạn, ngựa khoẻ 3.000 con chia làm 3 đạo tiến vào. Một đạo theo đường Thập Sách, Tối Quỳnh, Quật Sơn, một đạo theo đường biển Hoan Châu, Hội Thống, thuỷ bộ tiến, âm thanh chấn động. Duệ Vương lo lắng bèn triệu Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng: "Hơn 2.000 năm đến nay, bậc vua thánh hiền nghĩa đức hậu, thấm khắp lòng người, mà nay nước giàu binh mạnh, uy đức Bệ hạ vượt ra ngoài bốn biển, bọn người Thục không tự biết mình dám cơ hội làm loạn, ý đồ đã rõ. Nay tình thế không ổn, thần nguyện hết lòng phò thánh gia cùng chọn tướng tài, thiên hạ sẽ được bình yên". Duệ Vương lấy làm vừa ý. Thế là Sơn Thánh thả hịch sai Hiển Công, Hoằng công dẫn 10 vạn binh tiến đến Hoan Châu, chặn các đường thuỷ bộ của quân giặc. Sơn Thánh cùng các tướng và 30 vạn hùng binh chia làm các đạo. Hiển Công, Hoằng Công ở cung Phúc Chân, nghe thấy hịch bèn tập hợp hơn 100 đinh tráng xã Hán Sài làm gia thần lãnh quân tướng ngay ngày hôm đó thuyền bè chỉnh tề, quân lính tinh nhuệ thuỷ bộ cùng tiến, quân ầm ầm nghìn dặm tiến thẳng đến Hoan Châu, đánh nhau với quân giặc một trận, chém được vô số quân giặc. Quân Thục thua to, chạy toán loạn. Sơn Thánh cùng các tướng hợp lực, đánh tan quân Thục đến mảnh giáp cũng không còn. Sơn Thánh truyền cho các tướng cùng hội bàn, dâng tấu báo tin vui. Vua ban chiếu triệu hồi, gia phong tướng sỹ, ban phong Sơn Thánh là Nhạc Phủ kiêm Thượng Đẳng Thần, phong Hiển Công là Đài Vàng Quý Minh Đại Vương, Hoằng Công là Phò Mã án Sát Đại Vương.
Hai ông Hiển Công và Hoằng Công bái tạ, rước sắc về cung thôn Phúc Chân hành lễ khánh giá. Ngày hôm đó nhân dân xã Hán Sài cùng hành lễ đón mừng. Từ đó, hai ông ngày tháng tiêu dao, cùng nhân dân địa phương hưởng thái bình an lạc. Một hôm, hai ông cùng Hồng Hoa công chúa ngự hành cung chính điện, xung quanh có người đứng hầu, bỗng thấy cầu vồng hồng như tấm lụa đỏ từ trên trời bay thẳng xuống trước cung. Trời đất u ám, mưa gió nổi lên. Trong chốc lát, gió mưa tan biến, trời đất sáng tỏ, nhưng không thấy Hồng Hoa công chúa đâu, chỉ thấy khăn, áo còn đó (hôm đó là ngày 19 tháng7). Hai ông viết thần hiệu của Hồng Hoa công chúa đặt bên phía hành cung để thờ.
Lại nói, một hôm khi vua Duệ Vương định nhường ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh không nhận, xin vua nhường ngôi cho Thục Vương. Vua nghe theo, triệu Thục Vương đến nhường ngôi cho. Xong việc, ngày hôm sau vua cùng Sơn Thánh bay lên trời, hoá sinh bất diệt. Khi đó, hai ông (Hiển và Hoằng) ở thôn Phúc Chân nghe tin, bèn tiếp yến tiệc, triệu nhân dân phụ lão thôn Phúc Chân đến nói: "Ta và nhân dân nơi đây có nghĩa sâu nặng, không phải một ngày, há sao có thể quên. Nay hành cung của ta ở địa phận thôn này, dân thôn hãy thờ phụng Hồng Hoa công chúa và chúng ta, trăm năm sau cũng nên thờ phụng chúng ta ở nơi này. Dân nên theo lời ta, chớ có thay đổi". Nói xong, hai ông cùng loan giá đi du ngoạn, khi đó có một số phụ lão và người trong thôn Phúc Chân tuỳ hành theo hai ông. Một hôm, hai ông đến giữa dòng núi Tản Lĩnh, bỗng gặp xe của Sơn Thánh đang bay, hai ông bái tạ. Sơn Thánh cười mà tụng rằng:
Một thời hoà mục quân thần
Hà cớ bo bo lẽ thường nhân
Nay triệu cho ngài về tiên cảnh
Trên mây vạn dặm hội quân thần.
Tụng xong, trời đất mịt mùng, giữa ban ngày mà như đêm tối, hai ông biến mất (đó là ngày 13 tháng 10). Phụ lão và mấy người thôn Phúc Chân theo hai ông đến đấy, lúc đó thấy hai ông hoá, bèn trở về đem chuyện đó nói với nhân dân. Nhân dân hành lễ viết thần hiệu lập miếu ở hành cung để thờ phụng các ông. Từ đó về sau, trải qua các triều Đinh, Lê, Lý, Trần đều được hưởng hương khói mãi mãi, nước đảo dân cầu đều rất linh ứng. Có nhiều đời vu phong mỹ tự, bốn mùa hương khói, vạn đời vô cùng, trường tồn cùng trời đất. Tốt đẹp thay!
Bản thôn tuân phụng Phò Mã án Sát Đại Vương, Đài Vàng Quý Minh Đại Vương, Thánh Mẫu Hồng Hoa công chúa. Hàng năm đến ngày 20, 21 tháng 7 là ngày sinh của Thần, lễ có trâu, bò, lợn, xôi, rượu, bánh mật và ca hát đại tiệc, đến ngày 19/7 là ngày hoá của Hồng Hoa công chúa, lễ dùng lợn, gà, xôi, rượu, chè, đậu, đến ngày 3/10 là ngày hoá của hai vị Đại Vương lập miếu khai sắc, lễ dùng trâu, bò, xôi, rượu đại tiệc. Còn các tháng đều chọn ngày tốt hành lễ, lễ vật tuỳ theo".
Từ lâu, miếu thờ các vị Thần trên đã được nhân dân xây dựng thành đình Phúc Hoà toạ lạc ở xã Hán Đà, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái và được thờ phụng thường niên.
                                                                Hoàng Việt Quân sưu tầm

Tiến sĩ Phạm Huy -Người con làng Cổ Bái

(BaoNghean) Trong công trình Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, Sở Văn hoá- Thông tin Nghệ An ấn hành, 2000 (tr. 370-373) PGS. Ninh Viết Giao khẳng định Đền Cổ Bái, xã Đông Hải (nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc) là nơi thờ Tướng công- Tiến sĩ Phạm Huy (1470- ?), đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ Qúy Sửu, năm Hồng Đức thứ 24 (1493) đời vua Lê Thánh Tông, giữ đến chức Công Bộ đô cấp và từng đi sứ Trung Hoa. Sinh thời, Tướng công thương yêu, đùm bọc dân làng nên được người dân nơi đây kính cẩn lập đền thờ.  
Tộc phả dòng họ Phạm ở làng Cổ Bái còn ghi lại câu chuyện ngày xưa có hai mẹ con từ Hưng Yên dắt díu nhau hành khất qua làng. Thấy ngôi nhà thuộc hàng khá giả trong làng, hai mẹ con liền bước vào xin. Thấy cậu bé chừng 10 tuổi có tên là Phạm Lồng vẻ mặt khôi ngôi tuấn tú, chủ nhà tỏ ý muốn nhận cậu làm con nuôi và chu cấp việc học hành, còn mẹ cậu thì tiếp tục đi hành khất. Phạm Lồng bày tỏ lòng biết ơn với gia chủ tỏ ý không đành để mẹ đi hành khất một mình liền xin cho mẹ cậu được ở lại giúp đỡ việc nhà. Cảm kích trước tấm lòng hiếu đễ của Phạm Lồng, chủ nhà đồng ý để hai mẹ con cùng ở lại và cải tên cậu thành Phạm Huy với mong ước sự nghiệp của cậu sẽ được huy hoàng.

Phạm Huy ngày càng tỏ rõ sự thông minh hơn người, chẳng bao lâu sức học đã vượt bạn bè đồng trang lứa, người cha nuôi phải gửi cậu sang ông đồ làng bên (nay là xã Nghi Xuân - huyện Nghi Lộc) để tiếp tục được thụ giáo. Khoa thi năm Qúy Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1493), Phạm Huy ghi danh bảng vàng với học vị Tiến sĩ, triều đình ban lệnh cho địa phương tổ chức lễ Vinh quy bái tổ.

Sắc phong của vua Cảnh Hưng (triều Lê) đối với công đức Tiến sĩ Phạm Huy.

Nhà báo Giao Hưởng (Báo Lao Động, thường trú tại Nghệ - Tĩnh), người sinh ra và lớn lên tại vùng đất này cho biết, lúc còn nhỏ ông được nghe dân làng Cổ Bái kể lại rằng, ngày ấy hai làng xẩy ra sự tranh chấp về quyền làm chủ lễ Vinh quy bái tổ của Tiến sĩ Phạm Huy. Làng bên cho rằng, nếu không có thầy đồ nhiều chữ của làng này dạy dỗ thì làm gì có Tiến sĩ Phạm Huy hôm nay. Còn làng Cổ Bái lí luận rằng, nếu không có gia đình cha mẹ nuôi cưu mang thì làm sao có một Phạm Huy giỏi dang để ghi danh bảng vàng. Hơn nữa, từ khi mẹ con Phạm Huy ở lại làng Cổ Bái thì đã là người của làng rồi, cho nên quyền làm lễ phải thuộc về làng Cổ Bái. Không làng nào chịu làng nào, cuối cùng triều đình phải vào cuộc phân xử và phần thắng thuộc về làng Cổ Bái.

Tham gia quan trường, làm đến chức Công Bộ đô cấp sự trung, về hưu lại đưa gia đình về sinh sống tại làng Cổ Bái. Lúc làm quan cũng như khi mãn nhiệm, Phạm Huy luôn thương yêu, chở che và giúp đỡ dân làng. Vì thế, dân làng Cổ Bái tôn ông làm Thành hoàng và lập đền thờ. Các bậc cao niên cho biết, đền làng Cổ Bái tồn tại đến những năm 50 của thế kỷ trước, về sau do chiến tranh loạn lạc không được trùng tu, tôn tạo nên bị đổ. Năm 2001, xã Phúc Thọ tổ chức khánh thành điện Đông Hải (cũng là một di tích tầm cỡ hàng đầu của xã Đông Hải xưa, nơi thờ vị anh hùng dân tộc Yết Kiêu và sát hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn, hai vị thủy tổ của nghề sông nước) ngay trên khuôn viên của đền làng Cổ Bái xưa.

Linh vị của Tiến sĩ Phạm Huy được người dân Cổ Bái dành một nơi trang trọng trong điện Đông Hải. Cần nói thêm rằng, điện Đông Hải được tái dựng từ lòng hảo tâm của lương y Phạm Thiên Long (1922- 2006), người con của làng Cổ Bái thành đạt trên đất Sài Gòn, và ông chính là hậu duệ của Tiến sĩ Phạm Huy.

Về làng Cổ Bái xưa, theo chân ông Trần Vân Nam (cán bộ giảng dạy Trường Đại học Vinh về hưu) đến điện Đông Hải, chúng tôi thành kính thắp một nén hương trước linh vị Tiến sĩ Phạm Huy. Cụ từ trông coi điện Đông Hải mở tráp cho chúng tôi chiêm ngưỡng bảy sắc phong của hai triều đại Lê- Nguyễn liên quan đến thân thế, sự nghiệp và công đức của vị Tiến sĩ làng Cổ Bái. Nội dung các bản sắc phong khẳng định công đức hộ quốc giúp dân, bảo vệ mùa màng của vị nhân thần được thờ tại đền Cổ Bái và lệnh cho dân làng quanh năm khói hương, thờ phụng và tổ chức tế lễ hàng năm.
 
Điện Đông Hải tái dựng trên nền Đền Cổ Bái xưa.

Trong đó, sắc ban năm Cảnh Hưng thứ 14 (triều Lê) khẳng định các bậc tiền nhân phong cho Phạm Huy làm Tử Vương ("Thần cai quản, hưởng lộc lâu dài một vùng") và nay tiếp tục "phong cho Đô cấp sự trung bái khê Phạm Công Khai xuất thân Đồng khoa tiến sĩ Qúy Sửu làm Hiến Đạt Đại Vương". Sau này, vua Lê Chiêu Thống phong tiếp "Hiến Đạt Uyên Nguyên Hùng Bái Đại Vương". Sang triều Nguyễn, năm Tự Đức thứ 11 Phạm Huy được "tặng thêm danh hiệu Tấn lương thần". Đến năm thứ 33 lại được "ban tặng Bảo chiếu Đàm âm, được tế lễ vào dịp Quốc Khánh". Năm Đồng Khánh thứ 2, công đức Phạm Huy được "ghi nhớ thần phả tặng thêm Dực bảo Trung Hưng chi thần". Năm Duy Tân thứ 3 tiếp tục ban sắc cho dân làng tế lễ vào dịp Quốc Khánh. Đến năm Khải Định thứ 9 tiếp tục "tặng thêm Quang ý Trung đẳng thần, đặc chuẩn tế lễ vào dịp Quốc Khánh".

Sự nghiệp và công đức của Tướng công- Tiến sĩ Phạm Huy là niềm tự hào của bao thế hệ người dân xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc nói riêng và toàn tỉnh Nghệ An nói chung. Vì vậy, thế hệ hôm nay cần có những việc làm thiết thực để ghi nhớ và tôn vinh người con tiêu biểu của quê hương.

Bùi Công Kiên

Tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng

Tín ngưỡng thờ thần, thành hoàng là tín ngưỡng dân gian của người Việt rất phổ biến ở Nam Định 


Đình làng Hoành Lộ xã Hoành Sơn
Trừ  những làng, những giáp  theo đạo Thiên Chúa, theo thống kê đầu tiên vào  năm 1937, tại  807 làng xã trên địa bàn Nam Định thờ 2140 vị thần với đủ các loại danh hiệu, tên gọi (tính bình quân mỗi làng xã thờ 2,65 vị thần, cao hơn một chút so với con số bình quân của cả vùng châu thổ: 2,57).
Có các vị thần thánh là các hiện tượng tự nhiên được nhân hoá, thánh hoá như sấm, chớp, mưa gió, những vị thần có "lý lịch" là những yếu tố thiên nhiên như thần cây, thần đá, thần nước, thần núi, thần biển, thần động vật. Những vị thần này dân gian còn gọi là Thiên thần (Thống kê ban đầu từ Bảng tra thần tích thần sắc theo địa danh làng xãcủa Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội 1996, nghĩa là chỉ mới dựa trên 226 thần tích của 113 làng xã của Nam Định thì đã có  85 vị thần thuộc loại này. Số lượng thực tế hẳn còn cao hơn nhiều).
Thần liên quan đến nước (sông hồ, biển) như Nam Hải đại vương, Đông Hải đại vương, Tây Hải đại vương, Câu Mang, Linh Lang...
Các vị thần được dân gian gọi là Nhân thần, chiếm số lượng lớn trong tập hợp các thần được thờ. Về mặt lịch đại, nếu phân theo thần tích thì có:
- Thời kỳ Hùng Vương, An Dương Vương: Cao Sơn, Quý Minh, Thục An Dương Vương.
- Thời kỳ chống Bắc thuộc: Công chúa Thục Côn, Mai Hồng, Đỗ Thị Dung, Phan Thị Trâm, Tiền Lý Nam đế, Triệu Việt Vương, Đinh Lôi, Hoàng Tề..
 - Thời kỳ Ngô - Đinh, Tiền Lê: Kiều Công Hãn, Trần Lãm, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tấn, Tạ Hùng Ly, Lã Đường
- Thời Lý - Trần: Đoàn Thượng, các vua Trần, Trần Thủ Độ, Phụng Dương công chúa, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Nguyễn Hiền, Bùi Khiết, Bùi Tuyết, Trương Long....
- Thời  chống Minh: Đăng Dung, Lương Minh Nguyệt  (Kiến Quốc phu nhân)...
- Thời Lê sơ: Nguyễn Phục, Lương Thế Vinh...
- Thời Lê - Trịnh: Điền Quận công.
- Thời Nguyễn: Phạm Văn Nghị, Vũ Hữu Lợi...
Nếu xếp theo giới  thì các nữ thần chiếm một khối lượng không nhỏ: từ Liễu Hạnh, Liễu Hoa, Thượng Ngàn đến Hoàng Thái Phi, Hồng Nương, Hồng Hoa Công chúa, Huyền Trân, Huệ Lan công chúa, Hạ Thanh công chúa, Phụng Dương công chúa, Trương Thị Phương, Tống Hậu..
Còn nếu quy chiếu theo thánh tích, công huân của các vị thần, thì trong tập hợp trên có:
 - Những vị thần có công huân với đất nước, có công với các triều đình phong kiến (đánh giặc, dẹp loạn, phò tá triều chính, hoặc "âm phù" nhà vua ..) cho như Đinh Bộ Lĩnh, Trần Minh Công, Hưng Đạo Vương, Trần Quang Khải, Lương Nguyệt, Đăng Dung...
 - Những vị là tiền hiền khai khẩn, mở đất, lập làng: Trần Vu, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập (Hải Anh, Hải Hậu), Ngô Miễn (An Cư- Xuân Trường), Phạm Văn Nghị, Nguyễn Điển, Phạm Thanh (Hải Lạng - Nghĩa Hưng)...
 - Những vị là những nhà khoa bảng tài danh (Trạng nguyên, Tiến sĩ) mở đầu cho truyền thống khoa bảng của làng, của họ, danh tiếng cho làng: Phạm Bảo, Phạm Đạo Phú (Dương Phạm - Nghĩa Hưng)...
- Có thần là các vị tổ nghề, như Tô Trung Tự nghề trồng Hoa (Vị Khê-Nam Trực), Lê Công Hành (Hàng Thêu- thành phố Nam Định), Lục Vị tổ sư (Vân Chàng- Nam Trực )...
"Cơ cấu" trên của tập hợp thần, thánh ở làng xã Nam Định cũng là những nét chung thường gặp ở làng xã Việt vùng châu thổ Bắc Bộ. Tuy nhiên, ở Nam Định có những nét riêng, nổi bật sau đây:
Nơi thờ ít nhất là một vị thần, nơi thờ nhiều nhất là 17 vị thần.
Ở Nam Định hình thành 3 dải có sự khác biệt khá rõ: Dải chiêm trũng phía Bắc (gồm bắc Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên) nơi có số lượng làng thờ trên 1 thần chiếm tỷ lệ cao.
Vùng Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, bắc Nghĩa Hưng số lượng làng thờ trên 1 thần giảm dần, còn vùng ven biển như Giao Thuỷ, Hải Hậu, nam Nghĩa Hưng, số làng thờ 1 thần lại chiếm tỷ lệ cao hơn hai dải trên.
Là quê hương phát tích của nhà Trần, là một vùng kinh tế - văn hoá phát triển mạnh ở thế kỷ XIII- XIV, những vị thần có nguồn gốc lịch sử của thời kỳ này như: Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật, công chúa Huyền Trân, công chúa Thuỵ Bảo, Phạm Ngũ Lão, Ngô Miễn, Lê Hiến Tứ, Lê Hiến Giản... ở thời kỳ này chiếm tỷ lệ cao hơn các vùng khác.
Là khu vực châu thổ phát triển ra biển mạnh mẽ, nơi quá trình khai hoang lấn biển, lập làng diễn ra thường xuyên, liên tục, có thành tựu lớn và rõ rệt nhất ở Bắc Bộ, vì thế, theo thống kê chưa đầy đủ Nam Định đã có tới 70 địa điểm thờ các vị tổ khai khẩn mở ấp, lập làng, trị thuỷ, đặc biệt tập trung là vùng ven biển Xuân Trường, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Chỉ trong khu vực các làng xã của các huyện này đã có 56 nơi thờ.
Cũng do quá trình phát triển của làng xã, phát triển từ vùng trung tâm châu thổ từ phía Bắc ra cửa sông, ven biển ở phía Nam, nên ở Nam Định còn có một hiện tượng nổi bật là những cư dân đi khai khẩn, thường "mang" theo Thần, Thành hoàng của làng gốc đến quê hương mới.
Theo: Địa chí Nam Định

Ngô Quyền


Ngô Quyền (吳權) là danh tướng, người dựng lên cơ nghiệp nhà Ngô, sinh năm Kỷ Dậu (899), quê ở Đường Lâm, huyện Phúc Lộc, châu Giao sau đổi thành huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội). Cha là Ngô Môn, vốn là quan mục của châu Đường Lâm trong thời họ Khúc dấy nghiệp và mẹ là bà họ Phạm.
Theo thần tích đền Gia Viên (quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng), ông tổ 4 đời của Ngô Quyền là Ngô Xuân là người đã từng chiêu mộ được hơn 100 người theo Triệu Quang Phục tiếp tục sự nghiệp anh hùng của Lý Bí chống quân Lương. Ông lập được nhiều chiến công, được phong làm Thổ tù và được thừa kế tước vị.
Từ nhỏ, Ngô Quyền đã tỏ ra là một người trí dũng song toàn. Ông được cha dạy cho các thuật bắn cung nỏ, sử dụng gươm giáo và binh pháp. Chẳng may, cha mẹ đều mất sớm, vì thế ông phải sớm sống một cuộc sống tự lập đầy vất vả. Lớn lên trong lúc đất nước ta vừa mới giành được quyền tự chủ, Ngô Quyền đã tiếp nối chí của cha ông, đứng ra vận động tập hợp lực lượng giành và giữ quyền tự chủ, sau này trở thành người có thế lực lớn ở vùng Đường Lâm.
Ông là vị tướng tài, được chủ tướng là Dương Đình Nghệ gả con gái là Dương Thị Như Ngọc cho. Dương Đình Nghệ giao cho ông trông coi 3000 quân luyện tập võ nghệ ngày đêm, xây dựng lực lượng. Năm 931, Dương Đình Nghệ cử Ngô Quyền làm tướng tiên phong cùng ông tiến ra Giao Châu đánh đuổi quân Nam Hán và tổ chức phòng thủ thành Đại La. Sau chiến thắng, Dương Đình Nghệ lên nắm chính quyền, Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ giao cho trấn giữ vùng Châu Ái nay là tỉnh Thanh Hóa.
Năm Tân Mão (931) Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Hạo ngày trước nổi lên, mộ quân đánh đuổi Tiết độ sứ của quân nhà Lương rồi tự xưng làm Tiết độ sứ.
Năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn phản bội, giết chết Dương Đình Nghệ, rồi cấu kết với quân Nam Hán. Năm 938, Ngô Quyền tập hợp hào kiệt trong nước tiến ra Bắc, hạ thành Đại La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn. Sau đó, ông chỉ huy trận Bạch Đằng nổi tiếng, đánh bại quân Nam Hán do Hoằng Thao (có sách viết là Hoằng Tháo) chỉ huy, giết chết Hoằng Thao trên sông Bạch Đằng.
Năm Kỷ Hợi (939), Ngô Quyền xưng là Ngô vương còn gọi là Tiền Ngô vương, đóng đô ở Cổ Loa, mở nền độc lập tự chủ cho nước nhà. Năm Giáp Thìn (944), ông mất hưởng dương 45 tuổi, trị nước được 5 năm. Tuy chỉ xưng vương nhưng ông có thể coi là người có công lớn trong việc giành được độc lập cho đất nước sau nghìn năm Bắc thuộc. Sách Thiền Uyển tập anh gọi ông là Ngô Thuận Đế, có lẽ chỉ là cách tôn lên vì đương thời ông chưa từng xưng đế.
Sau khi ông mất, anh vợ là Dương Tam Kha đã phụ lời ủy thác của ông, cướp quyền con ông là Ngô Xương Văn, gây nên nội biến.

Châu Khê Thần tích sự trạng

Nam Việt Trần triều Dực chính tương bình Chí trị Cư sĩ đại vương.
Thượng Bộ Lễ của Quốc triều, bộ sách thứ 8 công chính bản Thượng đẳng. Nước Việt xưa trời nam mở vận đức Thánh tổ xây dựng cơ đồ hơn hai nghìn năm là tổ của bách Việt, sau có lời tán rằng:
Sơ khai bách Việt tự Kinh Dương Vương
Nhất thống sơn hà mười tám đời Vương
Trăm con ngàn cháu truyền không dứt
Phối cùng trời đất muôn năm thơm tho.
Gần đây có nhà nghiên cứu lịch sử Trần Huy Bá mới quá cố, phát hiện 18 chi chứ không phải 18 đời, mà mỗi chi gồm nhiều đời vua. Nói rằng Vua Hùng mở nước 18 đời, dài được hơn hai nghìn năm, trải qua các triều đại Trung quốc: Hán, Tống, Tề, Lương. Như nước Nam có các triều: Đinh, Lê, Lý, Trần, bốn họ, sau khi Ngô Quyền xuất hiện mở đầu thời kỳ độc lập, nên có bài thơ của Lý Thường Kiệt như sau:
Nam quốc sơn Hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhĩ đẳng hành khan thủ bại hư.
Nhà Trần tiếp nối ngôi nhà Lý. Vua Trần Thái Tôn tự Trần Chiếu Nha có đức hoan hòa nhân nghĩa, hoằng chính chăm lo nuôi dân, đời bấy giờ tôn là Vua hiền.
Khi ấy, ở động Lôi Nham, phủ Thiệu Thiên đất Ái Châu (tức tỉnh Thanh Hóa ngày nay) có một Ông họ Phạm tên húy là Tuyên, có vợ là bà Trương Thị Đoan, Ông Tuyên Công vốn nòi thi, thư, lễ, nghĩa, vợ chồng ăn ở phúc hậu. Khi ông 28 tuổi, bà 26 tuổi, sinh được 1 gái, khi lên 4 tuổi thì mẹ là bà Đoan mất. Ông làm lễ linh tang. Từ đó, ông Tuyên không có người nội tướng, thân cô nuôi mẹ già, con nhỏ, hàng ngày khó nhọc, nên phải bỏ việc học, chuyên làm nghề thuốc và dạy trẻ con trong làng để có tiền phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ.
Được ba,bốn năm thì từ trang Hậu Trạch huyện Gia Phúc, phủ Hà Hồng, đạo Hải Dương có một nhà họ Nguyễn đến ở nhờ. Ông họ Nguyễn cũng dòng dõi thế gia, sau sinh được một con gái đặt tên là Thị Phương năm ấy 21 tuổi, tư đức hiền hòa, trăm nét nữ công, không gì là không biết, nhan sắc ai cũng mến, ông bèn hỏi và lấy người ấy nối làm chính thất.
       Bà Phương hết lòng thuận theo đạo nhà chồng, ngày tháng ân cần không trái đạo làm vợ. Được vài năm thì mẹ già mất. Ông Tuyên để tang 3 năm, giữ tròn đạo hiếu. Năm ấy 41 tuổi, đi thi đậu tam trường, năm 43 tuổi được làm chức giám phủ Kinh Môn, được 3 năm lại được bổ làm huyện quan huyện Phù Vân, đạo Sơn Lam. Được 5 năm thì ông ngoài 50 tuổi, bà ngoài 40, trai gái chưa sinh được con nào, làm ông lo lắng, thường than với bà rằng: “Tiền nhân gia thế của chúng ta một lòng tích thiện, chưa từng ích kỷ, hại nhân, thế mà sao ta đã quá nửa đời người, vẫn chưa có người nối dõi, xưa có câu rằng: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”, ta đam mê vòng danh lợi làm gì, lòng những muốn nạp quan, từ chức về quê hương làm thuốc, dạy trẻ để nuôi thân nhàn, chẳng màng gì quốc sự, tu tâm, tạo phúc, làm điều nhân, may lòng trời chiếu tới mà thí đức, mong được điềm lành yến bay, há chẳng toại bình sinh ước nguyện”.
Nghĩ vậy, ông bèn dâng biểu lên Triều đình, tạ Triều về quê chỉ giáo tập sỹ tử, trẻ nhỏ, làm thuốc cứu dân, chuyên làm một nghề mà thôi. Dựng phúc lấy dân làm gốc, chẩn bần dưỡng lão, cứu nạn, phù nguy, không việc gì là không hết lòng, chẳng nghĩ danh lợi, chăm lo công đức, hao tán tài sản hơn nữa. Thời gian này, quê ngoại bà thứ nhất ở trang Hậu Tranh, nghe danh ông, mời ông về làng quê ngoại để dạy sỹ tử, hai ông bà đều về quê. Quê đó có chùa Quang Minh, vốn là nơi danh lam cổ tích, sơn thủy hữu tình, rất có linh ứng, người người mọi nơi hiếm con đến cầu tự ở chùa này. Ông thường đến chùa hành hương mật đảo, vợ chồng thành tâm một lòng cầu tự. Một ngày mồng 1 hai ông bà đến cầu nguyện, ở lại ban chiều.
Nửa đêm ông nằm mộng thấy 1 vị sư già cầm 1 chiếc gậy chỉ vào cây thông to và bảo ông rằng: “Vợ chồng ông rất thành tâm đã thấu lòng trời. Trời cho cây đại thụ đó,đem về để tu bổ gia đường, làm cột trụ”. Ông thưa lại cây thông to lớn thế, làm sao chặt mà đem về được. Vị sư già lấy tay vẫy 1 cái, cây thông bỗng hóa thành 1 con rồng xanh cuốn xung quanh ông ba vòng. Ông tỉnh dậy mới biết là nằm mộng, ông bèn nói với bà rằng: “ Tôi mộng như thế có lẽ là điềm lành cho phúc nhà”.
Được khoảng 100 ngày thì bà có thai, mang thai 13 tháng, đến năm mậu thìn, tháng giêng, ngày mồng 1, giờ tý, chợt thấy gió to chuyển động, mưa nhỏ bay quanh nhà, hương thơm phưng phức, khí lành rạng rỡ, bà sinh hạ được 1 trai, mặt mũi phương phi, hình dung cao lớn, thần phong lẫm liệt, tướng mạo khôi kỳ, sắc như hồng phấn, mày ngài, mắt phượng, mũi hổ, mặt rồng, hai má chiều thiên, tam đình bằng phẳng, tay dài quá gối, cả ngày trời đất u ám như đêm, hai mắt không mở, không khóc, ông rất lấy làm lo: Con vừa mù, vừa câm, tưởng như yêu ma oan trái gì đây, được 7 ngày thì 2 mắt mở, sáng như sao trời lóng lánh, tiếng nói như sấm vang, bố mẹ rất lấy làm mừng, ngày ấy là ngày mồng 7 tháng giêng, nhà mở tiệc ăn mừng coi như hòn ngọc trên tay.
Được 1 năm thì biết nói, 5 tuổi biết âm luật thơ, chín tuổi thì thiên tư hiếu hữu, trung hào, bẩm tính thông minh trí tuệ, bố mẹ đặt tên là Trí, từ đó cha dạy con được 3 năm, đĩnh ngộ phi thường, nghe 1 biết mười, 14 tuổi, bách gia chư tử, không gì là không biết, thấu triệt đạo lý Khổng Mạnh, mọi vẻ tinh thông, kể cả binh pháp Tôn Ngô, 16 tuổi trên thiên văn, dưới địa lý, giữa nhân sự, không vật gì điều gì là không tinh hiểu.
Năm đó ngày 10 tháng 9 cha mẹ đều mất, ông cảm động đức dày cha mẹ, chôn cất ở quê ngoại, sau 3 năm báo phục rồi, đưa hài cốt bố mẹ về Thanh Hóa, động Lôi Nham quê cũ, tu bổ từ đường. Được 1 năm gia tộc có ít người nương tựa, lòng ông khẳng khái bỏ chí công danh, không đam tài sắc,các phú hào trong làng xã, nhiều người muốn gả con, lòng ông sớm hôm đèn nhang kính thờ cha mẹ đơn thanh, chiếc ảnh, bút mực làm bạn mà thôi.
Chỉ hiềm là chưa chọn được người nội trợ, gia tài hao tán, ruộng đất sạch không, bốn vách gió lùa, nhà như khánh rỗng, ông thường than rằng: “Cha ta thường cưu mang nghìn người, mà không cứu được cái nghèo của 1 người con”.
Gia đình quẫn bách, ông lấy làm xấu hổ, không bằng đi tìm nơi luyện tập, ủy thác cho chị ruột giữ gia đường, phong bộ, ông lại tìm về quê ngoại. Ngày ấy, đến trang Chu Xá, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng. Tìm xem địa thế, thấy rõ huyệt chân long nổi lên, chia làm 2 nơi, ông theo long mạch đến Chu Xá, một mảnh thanh long nổi lên uốn khúc như rắn đi thẳng đến cuối sông, thế đất như 2 con mắt cùng mở.
Đó là 2 cái giếng đầu rồng là chính cục, hướng về phía trước, có 1 dãy núi nhỏ ôm lấy xung quanh, phía tây nam bao vây lấy ấp. Núi như các ngôi sao la liệt ở đường trước, bảng với bút ứng đối với nhau, voi, ngựa,cờ, trống triều lại, đột nổi lên phía trước, phía sau nước quanh róc rách, trầm ao, ruộng nương hiện rõ, dân ở tựa vào thân rồng, hòn núi vây quanh 2 mặt, phía nam ngựa hướng chiếu vào, phía bắc phượng hoàng múa cánh, địa thế xung quanh bằng phẳng, thật là một mảnh đất chân long tú khí, quả là 1 quý địa.
Ông đi bộ xung quanh tả hữu thấy 1 cái quán bên cạnh dân ở, hai phía hồi long tràn về điền trạch, đó chính là cái thế đai bảng hình rùa, ông bèn ngồi chơi ở quán đó, trông ra bốn mặt trang ấp, lúc bấy trời đã chiều tà, trời sắp tối. Ông nghĩ rằng: Nơi đây không có ai quen mà vào trọ, chợt thấy 1 ông thầy chùa đang đi tới quán, thấy ông ngồi ở đây mà trời đã tối liền hỏi rằng: “Trời tối thế này người nào ngồi ở quán, có việc gì?” Ông đáp rằng: “Ta vốn là nhà nho, nhàn du phong thủy, gặp trời tối không có nơi trọ nghỉ chân, vì thế tạm lưu ở quán này 1 đêm, mai mới đi được”, vị sư nghe vậy, liền mời ông về chùa nghỉ, ngôi chùa ở trang Chu Xá lúc đó gọi là chùa Liên Hoa, ông nói với vị hòa thượng: “Tôi từng xem địa thế, địa hình nơi đây đều là hoa sen, hoa phượng, phía sau cái quán ”hướng mão chuyển chân dần” mà ở càn tốn. “Tốn thủy đáo đường là long cách. Trước cái trầm sau con sông đều là quý cách chân long.
Đêm ấy, ông ngủ ở phật đường, làm bài thơ rằng:
Nhàn quan phong thủy nhất hồ thiên
Tứ diện sơn hà các bảo tuyền
Nhất phiến chân long giai quý cách
Công khanh hầu bá thế tương truyền
Dịch là:
Nhàn xem phong thủy một vùng trời
Bốn mặt sơn hà ôm ấp coi.
Một mảnh chân long là quý cách.
Công hầu khanh tướng nối đời đời.
Đêm hôm ấy , nhân dân ở trang Chu Xá hốt nhiên kinh sợ,chó ngoảnh lên trời cắn, phụ nữ, nhi đồng đều mang bệnh, không xót một người nào. Các họ ở trang Chu Xá gồm có: Họ Phạm, Nguyễn, Trần, Đỗ, Ngô, Dương, Vũ, Đào, Lê, Bùi, Đặng, Đoàn, một trang chia làm 2 khu vực.
Nhân dân thấy điều quái dị như thế, làm lễ tống tiễn thiên thời, nửa đêm cúng lễ xong, ai về nhà nấy, đến đầu canh năm, mọi người lại thấy mộng, thấy 1 ông quan mũ áo tề chỉnh cưỡi con ngựa hồng, đai vàng rạng rỡ, theo sau mấy trăm người tay cầm long đao thẳng tới trong làng họ triệu tập dân mà nói rằng: “Hỡi dân chúng nay có phúc thần đi qua xem địa hình, trú ngụ ở chùa, ta là chủ tể già nom trông coi khu này, thấy thần binh như thế phù tòng rất đông, nhiễu vào dân sự, bọn các ngươi nay muốn được yên, kíp sắm lễ vật tới chùa bái hạ. Mọi người xin làm thần tử, thần binh nghe mệnh lệnh đó thì điều thu hồi, không dám nhiễu loạn, dân chúng mới được yên.
Nhược bằng điềm nhiên vô lễ, sẽ bị trách lỗi. Việc là Hoàng Thiên đã định, đã có sắc mệnh, đã báo cho ta biết trước”. Nhân dân tỉnh ra, làm theo lời mộng, sáng hôm sau mồng 10 tháng giêng, hội đồng các họ đều nói rõ mộng tối trước, ai nấy đều lấy làm lo, liền ra chùa để xem hư thực. Đầu giờ dần ngày ấy, ông từ biệt thầy chùa ra đi, lại đến quán sở, ông đi đã lâu dân mới tới hỏi, hôm qua có người nào trọ với thầy không? Thầy chùa nói rằng: “ Có 1 người xem tướng đất, ở trong chùa với ta, nhân vì người ấy vào quán xem đất, trời tối ta mời về chùa nghỉ. Chưa sáng đã đi rồi, nhưng mà ông ấy còn đang xem đất, chắc chưa đi xa đâu”.
Dân chúng và thầy tăng đi bộ thẳng đến quán, thắy ông đang ngồi xem địa lý, dân chúng hỏi: Ông là người ở đâu lại đây? Mà sớm đã ngồi đó. Ông nói tôi vốn xem phong thủy tối qua nghỉ ở chùa, vì thế sáng đi, dân chúng thầm tưởng đúng như thần báo mộng và hỏi thêm rằng: ÔNg chuyên làm nghề phong thủy hay có nghề gì nữa! Ông cười đáp rằng: Tôi chủ yếu là gia truyền thi lễ, ngồi dạy sỹ tử, ngoài ra bách nghệ không việc gì là  tôi không biết.. Dân chúng bảo nhau rằng: Hay dân ta không có thầy dạy trẻ, dám xin rước người về nhà.
Ông nghe vậy lòng cũng muốn ngồi dạy học và cũng quý nơi đây có tú khí đại cục chân long, bèn về nhà phú ông họ Phạm tạm ở, đợi sau tu bổ trường sở. Ông ngồi dạy học được 1 tháng, dân làng cũng chưa yên ổn, còn nhiều người sinh bệnh, nên bảo nhau: Thần đã mộng trước thật là phúc cho dân ta, phải làm lễ, xin làm thần tử, thì bệnh mới chữa khỏi được. Mấy hôm đó biện lễ vật, đem đến nhà họ Phạm để tạ ơn và cáo rõ thần báo mộng. Nay xin làm thần thứ để được yên.
Ông nghe trong lòng thầm tưởng rằng: Việc do thiên định bèn bằng lòng. Từ đó dân chúng bệnh tật đều khỏi và xin ông xem đất để làm trường sở. Ông truyền lập 1 sở ở Long đầu chính cục, phía dưới dân ở, hai giếng tả hữu là 2 mắt rồng, đằng trước là sông bao quanh, phía ngoài là cờ, trống, dù, tán, voi, ngựa, đao, bút, tất cả đều ứng lập chiếu về hướng trước con thanh long, phía sau , nước vây quanh làng nơi dân ở, phía xa xa la liệt ngôi sao vàng, bút bảng đều ứng lập hướng ất tân kiêm mão dậu tả hữu sánh vai, sao vàng ứng trước, mạch nước vây quanh, rồng ngâm 2 mảnh, tả hữu oanh hồi. Trường sở hoàn thành mời ông đến khai trường giảng dạy. Lúc đó ông Phạm Ngũ Lão ở làng Phù Ủng, lập được công lớn, làm quan triều nhà Trần đến chức thái bảo, thuộc quyền tiết chế của Hưng Đạo Vương. Một hôm Ngũ Lão chơi quê, họp các sỹ tử lại để tập văn chương, ông cuộn 1 quyển văn để trong tay áo, ngày hôm sau đem nộp quyển ở trường.
Đêm ấy Phạm Ngũ Lão nằm mộng thấy 1 người con trai khăn áo chỉnh tề, càm 1 quyển văn từ ngoài vào đứng trước cửa trường. Ngũ Lão hỏi rằng: “Sinh viên ở đâu đến tập?” Ông thưa rằng: “Tôi vốn là la hán tông thiên thần ở nước Việt Nam” nói chưa hết, Ngũ Lão chợt tỉnh mới hay là mộng. Sáng mai giờ dần thấy ông đúng diện bộ trong mộng, không sai chút nào, liền mở quyển xem văn thật là quảng bác uyên thâm, kỳ dị vô định. Hỏi tên họ? Ông thưa rằng: “ Tôi là họ Phạm tên Sỹ, vốn người ở Ái Châu.
Cùng đồng họ nên Phạm Ngũ Lão rất yêu, rất trọng coi ông như anh em thủ túc chí thân, chí ái, sớm hôm không rời nhau. Khi Phạm Ngũ Lão vào triều cho vời ông vào yết kiến Hưng Đạo Vương, thấy diện mạo khôi kỳ, thử tài nghệ văn võ tinh thông, không gì là không thấu suốt. Trong triều lúc bấy giờ ít ai sánh kịp, bèn tiến lên Thái tôn hoàng đế bệ kiến, thử tài học ứng đói như nước chảy, không biến sắc. Trong Triều lúc bấy giờ có Trần Íach Tắc, Dã Tượng, Yết Kiêu đều là những người võ nghệ nổi danh, nhưng không bằng ông liền ban cho ông chức Tham Nghị, từ đó, ông ở Triều giúp việc 3-4 năm lại thăng lên chức tham tri bộ Lễ, sau thăng lên Đô đài Ngự Sử.. Lúc đó vua tôi hợp sức thiên hạ thăng bình.
Vua sai ông đi tuần thú các đạo, phủ, huyện, giúp già nuôi khó phủ dụ nhân tình, nhân dân đều cảm đúc. Một ngày ông về Ái Châu bái yết gia tiên, sửa xong nhà thờ, viếng thăm mồ mả, mở yến tiệc khao thưởng quân lính và họ hàng làng nước thân thuộc, trong khoảng 10 ngày giúp cho chị và họ hàng làng nước thân cận, mỗi nơi là 100 hốt bạc làm vốn, chung mua ruộng đất. Ông du binh 1 tháng đến Chu Xá, phủ Thượng Hồng đạo Hải Dương, (ngày ấy là ngày 12 tháng 8) dân chúng, gia thần đều đến bái hạ ông vào trường sở đóng quân, mở yến tiệc, mời các cụ phụ lão đến dự yến. Ông mừng nói với các cụ rằng: “Tôi cùng dân làng, nghĩa do trời định, cương thường muôn thưở, đạo không đỏi thay. Nay ơn được hiển danh ở triều Trần là nhờ Ngũ Lão danh thần tiến cử.
Nay có 10 hốt vàng xin giúp cho gia thần, dân làng để làm vốn về sau, sửa sang trường sở làm hành cung để dự yến hoặc đi về trú ngụ, ông bèn làm bài thơ rằng:
Thanh long tú thủy địa hình cường.
Sơn thủy bao hàm nhiễu tứ phương.
Chu Xá long đầu chân quý cục.
Cung đình thế thế xuất tài lương.
Dịch là:
Rồng xanh cảnh đẹp địa hình hay.
Sơn thủy bao vây bốn mặt đây.
Chu Xá đồng rồng là quý cục.
Cung đình đời nối lắm hiền tài.
Khi ăn yến xong, ông liền tiến quân đi, họ làng đều muốn theo, xin làm thủ hạ, gia thần. Tất cả là 47 người, họ Phạm 8 người, họ Nguyễn 6 người, đều cho làm hậu cận. Xưa là môn sinh, nay là thần tử, tình sư đệ hay như thế đấy. Ông phụng mệnh về Triều được vài năm thì Thái Tông băng hà, Nhân Tông tức vị phong ông làm Rực hổ hầu, thái bảo tướng quân, nhiệm trấn Châu Hoan.
Lúc đó quân nhà Nguyên do Ô Mã Nhi làm thống tướng, Nguyễn Bá Linh làm phó tướng, đưa một trăm vạn tinh binh áp cảnh biên giới ta, trống đánh vang trời, cờ bay rợp đất. Thư báo gửi về ngày 4-5 lần, đại đồn giặc ở đông Bộ đầu, Hải Dương tự xưng là Mông Cổ tặc, quân đến đạo Sơn Nam, quận Cửu Chân, Sông Thao đạo Sơn Tây rồi đến các Châu Mường ở Tuyên Quang,Hưng Hóa, 16 châu, động đạo kinh bắc, Lạng Bình, Cao Bình, tất cả đều bị quân Nguyên chiếm giữ, thủy bộ đều tiến, thế nước nguy nan,Vua bèn triệu hồi quâng thần nghị bàn đánh giặc, Vua phong Hưng Đạo Vương làm tiết chế ngũ đạo kiêm thủy bộ thượng tướng quân, Trần Ích Tắc làm thống lĩnh đạo Sơn Nam Bình nguyên đại tướng quân, Phạm Ngũ Lão làm tham tán trung quân, Sỹ Công làm tiết chế đạo Hải Dương, Bình nguyên đại tướng quân, Dã Tượng, Yết Kiêu thống lĩnh kinh bắc, Bình nguyên đại tướng quân để nghênh chiến với quân Nguyên.
Riêng nói về Sỹ Công thống lĩnh đạo Hải Dương, Trần Khánh Dư làm phó tướng, Trương văn Hổ làm thống lĩnh hậu quân, đề binh thẳng tới Hải Dương, phủ Đông Châu, đạo, điền chia khu vực, lập doanh đồn, lại sai Trần Khánh Dư đi thuyền thẳng tới Hải Giang, thẳng tiến tới Châu Vân đồn xây đồn ngự chiến, cùng với quân Nguyên đánh trên trăm trận ( lúc này số quân của ông là 3 vạn, mộ thêm 5 nghìn, trong đó 242 người là ở Chu Xá trang. Giặc thấy ông vũ dũng như thần không dám lên. Lúc này Vua chống quân Nguyên ở Sông Thao.
Quân Nguyên thua phải lui. Vua lên thuyền đến Hải Dương hợp hội chư tướng. Hưng Đạo Vương lại triệu tướng quân ở các đạo dẫn binh đến Đông bộ đầu quyết kế phá tan quân Nguyên. Từ Vân Đồn đến Bạch Đằng Giang, bốn mặt vây đánh. Lúc này , mây mù ngập trời, gió mưa ào ạt, ngói vỡ cát bay, quân Nguyên thua chạy. Bắt được Ô Mã Nhi ở trước trận, chém Nguyễn Bá Linh làm 3 đoạn, chiến tướng của quân Nguyên hơn 500 tên với quân lính 3000 chết chìm ở dòng sông, nước sông máu đỏ, thu tất cả khí giới, cờ, trống đem về kinh đô. Giặc Nguyên bình xong, trăm quan rước Vua về Kinh.
Tướng giặc Ô Mã Nhi đóng cũi giao về Tàu. Vua lại sai ông về đạo Hải Dương chiêu dụ bọn phiêu tán, chẩn cấp tiền gạo để nhân dân an cư lạc nghiệp, ai ai đều ca ngợi công đức của ông. Ông về đến trang Chu Xá (mồng 10 tháng 11) ông dựng 1 quán sở, sau đổi là nghị sở để đóng quân, phát tiền 5000 quan, 5000 phương thóc để phát chẩn cho các phụ lão, hội yến 3 ngày, cấp thêm cho dân 10 hốt vàng và nói rằng: “Tôi cùng dân chúng mọi việc đều do thiên định, nghĩa lớn sư, đệ, quân thần, tình lưu muôn thưở, không phải là việc làm sớm hôm, cung quán các nơi, khi sống thì làm nơi dự yến, khi chết thì làm nơi phù tửu, không được rời đi nơi khác, ngày ấy dân chạy loạn trở về , trước sau chia làm 2 khu thứ tự thu tiêu chuẩn , mọi người dân đều tuân theo lời ông dặn, ông bèn làm bài thơ:
Thiên địa sinh ngô tác thế nhân
Sinh vi danh tướng, hóa vi thần.
Sơn hà bất tử , anh hùng cốt.
Chu Xá cung đình cựu chí tân.
Dịch là:
Trời đất sinh ta ở thế gian.
Sống làm danh tướng hóa làm thần
Non sông bất tử, anh hùng cốt
Chu Xá cung đình mãi mãi tân.
Thụ yến xong (lúc này là mồng 1 tháng chạp). Ông từ trong cung đột nhiên ra sân lấy tay vẫy mọi người và nói rằng: “Ta ngồi ở chỗ này, chính là chỗ hàm rồng hướng vào đâu sông lấy nước…” nói chưa dứt , chợt có 1 trận cuồng phong nổi dậy, trời đất tối om, sóng gió ầm ầm, thấy bóng con rồng vàng trong mình ông bay lên biến mất. Quan, dân ai thấy thế ai nấy đều sợ hãi, lập tức vây màn 4 mặt rồi cấp báo lên Triều đình. Vua rất thương xót, sai các danh tướng binh nguyên đều về thăm viếng, truyền cho dân quán sở làm lễ linh táng. Hưng Đạo Vương, Ngũ Lão, Trương Hổ, Dã Tượng, Trần Công đều về thăm hỏi, ban cấp tiền kho 3000 quan, lập công chính thờ cúng, lấy Chu Xá trang làm thang mọc ấp là nơi thần hóa, miễn cho binh lương xuân, thu, sai quan đến tế. Lúc ấy quan Triều đình phụng mạng về nơi ông mất, đã thấy mối đùn thành ngôi mộ lớn ( Ngày ấy là 12 tháng chạp)
Truyền đắp 3 lớp thạch khối, làm lăng, sửa sang cung sở để thờ cúng, cung ở xứ trên, lăng ở cấp dưới trước sân. Quan Triều về tâu, Vua bèn phong Mỹ Tự, Trí Tự, tương bình cư sĩ đại vương, gia phong thượng đẳng phúc thần. Vua lại cho dân sở tại Chu Xá Phạm Công Chất, Phạm Công Tuyên, Nguyễn Công Hanh, Trần Công Vĩnh, Đỗ Công Hàn làm quan điều trưởng địa để giữ cung, lăng, hương, đèn quét dọn. Năm ông này sau 100 tuổi đều được làm bộ hạ, thừa hưởng tế tự, tiền lương của kho nhà nước.
Đời thứ 12 nhà Trần, vận nước cáo chung, họ Hồ tranh quyền, nhà Minh phiếm loạn. lúc này ông Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Ái Châu dẹp xong loạn Minh, lên ngôi Hoàng đế, đặt tên quốc hiệu là Thuận Thiên, truyền đến các đời vua Thái Tôn, Thánh Tôn, Nhân Tôn, Thần Tôn, Kinh Tôn, Túc Tôn, Ý Tôn, Huệ Tôn, Anh Tôn, Chiêu Tôn, Vua Chiêu Tôn bị Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, cha truyền con nối được 5 đời đến Trang Tôn tức là Thái tử của Chiêu Tôn cùng quan đại thần họ Nguyễn làm chức Thái úy khởi nghĩa ở Ai lao diệt trừ. Vua truyền Thái úy đến các nơi đền thờ thượng đẳng thần mật đảo âm phù diệt Mạc. Nếu thành công sẽ bao phong thượng đẳng phúc thần. Khi đến trang Chu Xá đền Sỹ Công đại vương làm lễ mật đảo. Đêm ấy quan Thái úy dừng xe nằm ở chính tẩm, nửa đêm mộng thấy voi, ngựa, binh mã đến Đền, một ông quan mũ áo thêu thùa đai ngài ngà ngọc xuống xe vào trong Đền. Thái úy đứng dậy hỏi: “Ngài là quan chức gì về đây?” Đáp rằng: “Ta là danh tướng Trần Triều nay nghe Lê Hoàng khởi nghĩa dẹp Mạc, tướng quân có lòng muốn cầu nguyện, xin người giúp giữ nước, tôi xin lập công. Nói xong quân sỹ đi theo đều cầm khí giới tiến lên, chuông trống nổi dậy. Quan Thái úy cả kinh tỉnh dậy, bèn truyền phụ lão đem thần hiệu tứ bảo đặt vào trong hàm bái tạ rồi đi. Sau đó cùng với quân nhà Mạc đánh nhau ở địa phận Thượng Phấn trang, huyện Thạch Thất, phủ Quốc Oai, một trận đánh quân Mạc. Trăm quan rước Vua Trang Tôn về Thăng Long lên ngôi Hoàng đế, khen thưởng ba quân…
Thái úy tâu việc thần Chu Xá có công. Vua bèn phong: Chu Xá trang đại vương từ, y cựu phụng sự, phong thêm mỹ tự: “Bảo quốc đồng hưu vĩnh vị tăng sức, lại phong: Dực chính tương bình tế trị cư sĩ đại vương”. Tăng phong: “ Thông, Minh, Chính, Trực,Văn, Võ, Thánh thần, phù tộ dực tốn, nghị hùng kiệt đoán, cương nghị hùng tán, đại lược tuấn lương đế thế uy linh hiển ứng. Thượng đẳng thần chiểu y cho dân Chu Xá phụng thờ, miễn tất cả việc binh lương, từ đó quốc đảo dân cầu đều có linh ứng, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, cho nên trải 5 đời đế vương bao phong mỹ tự thượng đẳng, lộc vinh không dứt. Thần sinh, thần hóa các tiết khánh hạ chữ Húy, sắc phục đều kê ở sau:
1.     Ngày thần sinh mồng 1 tháng giêng hành lễ, sau 1 ngày quét dọn cung đình, thổi xôi, trầu, rượu, ngày chính mổ trâu, lợn, mở xướng ca, đánh cờ suốt 15 ngày.
2.     Ngày thần mất mồng 1 tháng chạp.
3.  Khánh hạ mồng 7 tháng giêng lễ xướng ca.
4.     Ngày Khánh hạ 20 tháng giêng tùy nghi xướng ca như ngày sinh nhật
5.     Ngày Khánh hạ mồng 10 tháng 3 như ngày sinh nhật.
6.     Khánh hạ 12 tháng 8 như sinh nhật.
7.     Ngày trùng cửu, trùng thập khánh hạ.
8.     Mồng 10 tháng 9.
9.     12 tháng 11.
Húy: Kiêng những chữ : Sỹ, Dực, Hổ.
Lệ cấm: Mặc áo màu vàng,, màu tím, cấm tên phụ, mẫu.
Niên hiệu Hồng Phúc nắm đầu ngày 10 tháng 5.
Hàn lâm Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính phụng soạn.
Niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ 2 ngày 15 tháng 3.
Quốc Giám Phủ tri viên Hùng lĩnh Thiêu Khánh Nguyễn Hiện phụng y.
Niên hiệu Thành Thái năm thứ 12 ngày mồng 1 tháng 5, mộc ân đệ tử.
Châu Khê Xá toàn dân thượng hạ tuân phục.
Nguồn tin: chaukhe.com